Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh tại bệnh viện nhi trung ương - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm ruột hoại tử (VRHT) là một trong những cấp cứu tiêu hóa thường
gặp nhất ở trẻ sơ sinh. Tỷ lệ trẻ sơ sinh bị VRHT thay đổi theo từng nghiên cứu,
tuy nhiên có nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ sơ sinh bị VRHT lên đến 28%. VRHT
là tình trạng viêm nhiễm cấp tính gây nên các tổn thương nhiều mức độ khác
nhau của đường tiêu hóa, từ tổn thương lớp niêm mạc cho tới hoại tử toàn bộ
thành ruột, thủng đường tiêu hóa thậm chí có thể gây tử vong.
Ngày nay viêm ruột hoại tử (VRHT) đã được chẩn đoán và điều trị
sớm, tuy nhiên tỷ lệ tử vong vẫn khá cao đặc biệt là trẻ sơ sinh có cân nặng
thấp dưới 1000gram, vì vậy VRHT vẫn là một thách thức lớn cho các bác sỹ
điều trị.
VRHT do nhiều yếu tố gây nên, cơ chế bệnh sinh chưa thực sự rõ ràng.
Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là giai
đoạn của bệnh.
Hiện nay phân loại của Bell cải tiến được coi là một công cụ có giá trị
trong tiên lượng và điều trị VRHT, bên cạnh đó chẩn đoán hình ảnh, bao gồm
siêu âm, chụp Xquang ổ bụng, là những xét nghiệm không thể thiếu trong
chẩn đoán bệnh.
Sự cân nhắc giữa điều trị nội khoa và ngoại khoa nhiều khi rất khó
khăn do triệu chứng lâm sàng ở trẻ sơ sinh không đặc hiệu và diễn biến âm
thầm đến khi rất nặng thậm chí đã ở trong tình trạng suy đa tạng, sốc.
Đã có nhiều công trình đề cập tới vấn đề chẩn đoán hoặc tiên lượng
bệnh, tuy nhiên cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có nhiều công trình nghiên
cứu đề cập theo dõi kết quả điều trị của VRHT ở trẻ sơ sinh.
Do đó chúng tôi thực hiện đề tài “Nhận xét một số đặc điểm lâm
sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh tại
bệnh viện Nhi Trung ương” nhằm:
1.


bà mẹ có nguy cơ đẻ non và dự phòng surfactant cho trẻ sinh non đã làm tăng
tỷ lệ sống của trẻ đẻ non, thấp cân và cực thấp cân. Hay nói theo cách khác
VRHT là căn bệnh của y học tiến bộ, trẻ đẻ non được cứu sống càng nhiều thì
tỷ lệ VRHT càng cao.


3

Tỷ lệ VRHT rất thay đổi, tùy theo đơn vị nghiên cứu, thời gian nghiên
cứu, nhóm bệnh nhân được lựa chọn, sự khác nhau còn thể hiện giữa các
trung tâm của cùng một nước, giữa các tiểu bang của Hoa Kỳ tỷ lệ dao động
từ 1% - 7%, ở Hồng Kông là 28 %, trẻ đủ cân chiếm 5% - 25% tất cả các
trường hợp VRHT.
Mặc dù tỷ lệ tử vong nói chung của trẻ sơ sinh đã giảm, tuy nhiên tỷ lệ
tử vong do VRHTvẫn còn cao chiếm 11,5- 12,3/ 100 000 trường hợp tử vong
ở trẻ sơ sinh. Đối với nhóm trẻ cực thấp cân (< 1000gram), tỷ lệ này là 40%100%.
Mặt khác phẫu thuật được áp dụng để điều trị làm giảm tỷ lệ tử vong do
VRHT, hai nhóm có chỉ định phẫu thuật cao thuộc về nhóm tuổi thai thấp và
VRHT có biến chứng gồm: Thủng ruột, viêm phúc mạc, sốc, nhiễm trùng
máu, rối loạn đông máu. Về lâu dài trẻ có thể mắc các rối loạn về dinh dưỡng,
chậm phát triển thể chất, tinh thần tùy theo tổn thương của bệnh và phương
thức điều trị.
• Tình hình nghiên cứu về tăng trưởng ở trẻ sau điều trị viêm ruột
hoại tử trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới.
Theo nghiên cứu của Starfort và Upperman trong nhóm bệnh nhân được
điều trị với 63% thuộc giai đoạn III, còn lại thuộc giai đoạn II tuổi trung bình
theo dõi sau 7,2 ± 2 năm cho kết quả tất cả các trẻ em tăng trưởng bình thường
nhưng đều thấp hơn 50 bách phân vị về cả chiều cao và cân nặng.
Nghiên cứu của Ladd và Rescolar với 147 trẻ sống sau điều trị VRHT,


5

Hình 1.2: Triệu chứng bụng chướng
Phân máu: VRHT có thể biểu hiện đi ngoài phân máu mà không có
bất cứ dấu hiệu ban đầu nào khác, đặc biệt khi liên quan đến đại tràng
xuống, để xác định có thể làm xét nghiệm máu trong phân, có thể phân
máu đại thể hoặc vi thể. Theo kinh điển, phân máu trong VRHT là phân
máu toàn bãi, có mùi khắm, có thể kèm nhầy hoặc không. Máu đại thể
xuất hiện trong 25% - 63%, còn máu vi thể xuất hiện 22% - 59%. Tuy
nhiên, phân máu đôi khi rất ít hoặc hoàn toàn không có phân cũng vẫn có thể
xuất hiện trong bệnh cảnh lâm sàng của VRHT do tình trạng ruột bị tổn
thương nặng, không có nhu động để đẩy phân máu về hậu môn. Ngược lại,
nhiều bệnh lý khác cũng có thể gây có máu trong phân.
Dịch dạ dày có thể lẫn mật thường gặp ở các trẻ rất nhẹ cân bị
VRHT, trẻ thường có dịch dạ dày màu vàng hoặc xanh, dịch dạ dày bẩn có
thể gợi ý đến một tắc nghẽn của đường tiêu hóa.
Thành bụng nề: Được coi là triệu chứng quan trọng nhưng là dấu hiệu
muộn của VRHT.
Ban hoại tử thành bụng: Thường xuất hiện trên thành bụng nề. Đây cũng
là dấu hiệu muộn.


6

Hình 1.3: Triệu chứng ban hoại tử thành bụng
Vì vậy các triệu chứng kinh điển của VRHT bao gồm chướng bụng,
phân máu hoặc không có phân, dịch dạ dày bữa ăn trước ứ đọng nằm trong cả
các bệnh cảnh lâm sàng như liệt ruột, tắc ruột, các bệnh chuyển hóa ở sơ sinh,
nhiễm trùng sơ sinh, viêm màng não mủ sơ sinh.

nặng hơn.
Trong X quang, quai ruột giãn và thành ruột dày được coi là các triệu
chứng chỉ điểm của VRHT, tuy nhiên sự biểu hiện rất khác nhau giữa các giai
đoạn và tuổi thai.

Hình 1.4: Triệu chứng khí trong thành ruột


8

CT - Scanner: Được ứng dụng để chẩn đoán VRHT. Nhưng giá thành
cao và hình ảnh không cung cấp nhiều thông tin hơn X quang ổ bụng. Do đó,
CT - Scanner không phải là công cụ ưu việt để chẩn đoán VRHT.
Siêu âm ổ bụng,: Ưu việt hơn phim X quang, trong các trường hợp hình
ảnh X quang không đặc hiệu, siêu âm là phương tiện được sử dụng ngay cả
trong trường hợp có lượng khí tự do rất nhỏ mà X quang không phát hiện ra,
khí trong tĩnh mạch cửa cũng được phát hiện rõ hơn phim Xquang. Giúp chẩn
đoán phân biệt VRHT với một số bệnh lý khác như xoắn ruột, các bệnh lý
khác của các tạng.
Siêu âm Doppler mạch máu mạc treo có thể xác định được sự tiến triển
thành VRHT từ bệnh nhân chỉ có triệu chứng nhẹ.
1.2.2.2. Chọc dò màng bụng.
Được tiến hành khi bệnh nhân có dịch ổ bụng.
Kết quả chọc dịch màng bụng chứa vi khuẩn Gram dương được coi là có
giá trị trong chẩn đoán VRHT. Nếu hút không ra có thể rửa màng bụng bằng
nước muối sinh lý, lấy dịch rửa làm xét nghiệm.
Tuy nhiên chọc dò màng bụng là phương pháp xâm nhập, có thể gây
biến chứng và chỉ chẩn đoán được những trường hợp VRHT đã có hoại tử
ruột và viêm phúc mạc.
1.2.2.3. Chẩn đoán mô bệnh học: Phương pháp sinh thiết ruột để làm mô

dưới da, rất khó cải thiện khi tình trạng xuất huyết chưa được giải quyết.
Xét nghiệm tìm vi sinh vật gây bệnh: Trong các bệnh phẩm có thể có
mặt của các loại vi sinh vật như:
Trong các bệnh phẩm có thể có mặt của các loại vi sinh vật như:
• Virus: Coronavirur, Enterovirus, Rotavirus.


10

• Vi khuẩn Gram (+): Enterococcus species, coagulasea – negative
staphylococcus, staphylococcus aureus, clostridium butyricum,
Clostridium dificile, Clostridium perfringent.
• Vi khuẩn Gram (-): Enterobacter species, E. Coli, Klebsiella species,
Pseudomonas aeruginosa, Salmonella specis, Serratia species
• Nấm: Candida albican
1.2.2.5. Các phương pháp chẩn đoán khác, .
Đo pH dịch dạ dày: Dựa vào khả năng tiết của vi khuẩn ảnh hưởng tới
dạ dày và ruột. Phương pháp đơn giản rẻ tiền nhưng độ đặc hiệu thấp do nhiều
yếu tố gây nhiễu.
Đo nồng độ hydro hơi thở: Dựa vào khả năng chuyển hóa carbonhydrat
để tạo nên hydro của vi khuẩn, phương pháp này xác định nồng độ hydro
trong hơi thở để gián tiếp đánh giá sự có mặt của vi khuẩn. Đây là phương
pháp rẻ tiền nhưng không đặc hiệu do có nhiều yếu tố gây nhiễu.
Đánh giá âm nhu động ruột: Dựa vào cơ chế khi ruột co bóp tạo thành
âm thanh. Trong VRHT các quai ruột giảm hoặc không có nhu động, do đó
giảm hoặc không có âm thanh do nhu động ruột tạo nên.
Đo quang phổ hồng ngoại: Máy có mức quang phổ phù hợp để đo
hemoglobin và hemoglobin mang oxy của mạch máu mạc treo.
1.3. CHẨN ĐOÁN VIÊM RUỘT HOẠI TỬ
1.3.1. Chẩn đoán xác định.

bì, nhịp tim chậm.

không

đặc chưa

hiệu

được

chẩn

đoán là VRHT

Các triệu chứng của Có hình ảnh hơi Được chẩn đoán
đường tiêu hóa biểu trong thành ruột
Giai đoạn II hiện:

bụng

chướng,

VRHT, chưa có chỉ
định phẫu thuật

dịch dạ dày bẩn, phân
máu..
Các dấu hiệu ở trên Các dấu hiệu của VRHT tiến triển,
(giai đoạn II) xấu đi, có tràn


Bình thường
Tăng lượng sữa

Nuôi dưỡng tĩnh

nhanh, thân nhiệt

hoặc có dấu hiệu dư sau mỗi bữa

mạch

không ổn định.

tắc ruột nhẹ.

ăn, ỉa máu, bụng Kháng sinh x 3

chướng nhẹ.
Cơn ngừng thở, tim Dấu hiệu tắc ruột Phân có nhiều

ngày
Nuôi tĩnh mạch

nhanh, thân nhiệt

với 1 hoặc nhiều máu, bụng

Kháng sinh x 7

không ổn định.

Nuôi dưỡng tính

thấy quai ruột và mạch
có cảm ứng

Kháng sinh x 14

thành bụng.
Thành bụng nề

ngày
Nuôi dưỡng tĩnh

niệu, tụt huyết áp,

rõ, không có khí và ban hoại tử

rối loạn đông máu

tự do trong ổ

trên thành bụng, Kháng sinh x 3 ngày

bụng.

cứng bì.

IIIA

mạch

giãn, khí thành ruột. Tuy nhiên, những trẻ VRHT có tuổi thai dưới 30 tuần rất
ít khi có phân máu. Có lẽ tổn thương hoại tử ruột thường ở đoạn hồi manh
tràng. Ở trẻ đẻ non, phân máu ở gần vị trí van hồi manh tràng khó có khả
năng chuyển từ nơi có tổn thương để gây nên phân máu.
Bell giai đoạn IIB:
Acid máu nhẹ, giảm bạch cầu, thành bụng nề và nhiều đám khí trong
thành ruột. Đây là những triệu chứng điển hình của VRHT.
Bell giai đoạn IIIA:
Toan hỗn hợp, có thể đòi hỏi phải thông khí nhân tạo, tụt huyết áp do
dịch thoát vào khoang thứ 3, giảm tiểu cầu, đông máu nội mạch rải rác, có
quai ruột giãn cố định nhưng chưa có khí tự do ổ bụng.
Đây là giai đoạn tiến triển xấu của giai đoạn IIA. Tác giả muốn nhấn
mạnh đến dấu hiệu khí tự do trong ổ bụng như là để phân biệt mức độ tổn
thương của ruột. Tuy nhiên, khí tự do ở bụng không phải là dấu hiệu tiên lượng
bệnh vì thực tế nhiều BN tử vong do VRHT nhưng không có khí tự do trong ổ
bụng. Tác giả cũng không chỉ ra được bằng chia mức độ IIIA nhẹ hơn IIIB.
Bell giai đoạn IIIB:
Sốc, rối loạn chức năng sống, rối loạn đông máu nặng nề, khí thành ruột
cố định trên nhiều phim chụp, khí tự do trong ổ bụng. Dựa vào tiêu chuẩn này,
phân biệt thủng ruột tự phát và VRHT là rất khó. Do đó, giai đoạn IIIB không có
tính ứng dụng trên lâm sàng.
Bảng phân loại của Bell cải tiến cũng chỉ ra thời điểm phẫu thuật là giai
đoạn IIIB. Đây cũng là vấn đề cơ bản của điều trị ngoại khoa trong VRHT – xác
định ruột đã bị hoại tử. Tuy nhiên, phát hiện được VRHT và quyết định phẫu
thuật là khó khăn. Do đó, chỉ định phẫu thuật còn gây ra nhiều tranh cãi. Hơi tự
do trong ổ bụng coi là yếu tố để chỉ định phẫu thuật được chấp nhận rộng rãi.
1.3.2. Chẩn đoán phân biệt của bệnh viêm ruột hoại tử,,.


14

15

Nhịn ăn đường miệng, đặt ống thông dạ dày dẫn lưu dịch làm giảm áp
lực ổ bụng, chỉ cho ăn đường miệng lại khi diễn biến lâm sàng tốt (hết ỉa máu,
hết dịch ứ đọng trong dạ dày, bụng không chướng) và/hoặc ít nhất 5 ngày sau
khi X quang bụng trở về bình thường (không còn hơi trong thành ruột).
Việc thiết lập đường truyền tĩnh mạch và hồi sức dịch truyền là rất quan
trọng, điều này nhăm ngăn chặn sự thiếu hụt về tưới máu cấp tính tại ruột non.
Bồi hoàn dịch, điện giải, chống sốc, điều trị đông máu nội quản rải rác,
khi huyết động học ổn định chuyển sang dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch
toàn phần (1-2 tuần), đặt sonde bàng quang nhằm theo dõi lượng nước tiểu và
theo dõi kết quả của việc hồi sức. Bên cạnh đó việc cấy máu và nước tiểu cần
sớm được thực hiện
• Điều trị cụ thể:
Kháng sinh được sử dụng theo kết quả kháng sinh đồ.
Nếu không có kháng sinh đồ thì điều trị như sau:,
*Giai đoạn I:
Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch
Kháng sinh x 3 ngày
Metronidazole + Cefotaxim + Aminozide
Dựa vào kết quả nuôi cấy tìm vi khuẩn.
* Giai đoạn IIA:
Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch
Kháng sinh x 7 ngày
Metronidazole + Cefotaxim + Aminozide


16

*Giai đoạn IIB:

Chất chuyển hóa alcohol là chất chuyển hóa chính, có tác dụng diệt vi
khuẩn kị khí, thời gian bán hủy là 11 giờ.
Chất chuyển hóa axit: Có tác dụng diệt khuẩn khoảng 5% so với
Metronidazole.
Bài tiết: Nồng độ cao ở gan, mật, thấp ở kết tràng. Ít bài tiết qua phân,
bài tiết chủ yếu qua nước tiểu do Metronidazole và các chất chuyển hóa
oxyde hiện diện trong nước tiểu khoảng 35% – 65% liều dùng.
Tác dụng: Metronidazole tác dụng tốt với cả amip ở trong và ngoài
ruột, thể cấp và thể tối cấp. Với lỵ amip mạn ở ruột, thuốc có tác dụng yếu
hơn do ít xâm nhập vào đại tràng.
Thuốc còn có tác dụng tốt với Tricomonas Vaginalis, Giardia, các vi
khuẩn kỵ khí kể cả Bacteroid, Clostridium, Helicobacter nhưng không có tác
dụng trên vi khuẩn ưa khí.
Cơ chế tác dụng của Metronidazole: Nhóm nitro của Metronidazole
bị khử bởi protein vận chuyển electron hoặc ferredoxin. Metronidazole
dạng khử tiêu diệt vi khuẩn và sinh vật đơn bào do làm mất cấu trúc của
ADN của chúng.
Liều dùng trong VRHT:
20- 30mg/kg/ngày.
Cefotaxim.
- Dược lực: Là kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 3 có phổ kháng
khuẩn rộng.
- Dược động học:
Cefotaxim hấp thu nhanh sau đường tiêm.
- Phân bố: Khoảng 40% được gắn vào protein huyết tương, phân bố
rộng các mô và dịch. Nồng độ thuốc đạt trong dịch não tủy đạt mức có tác
dụng điều trị, nhất là khi viêm não, Cefotaxime qua được hàng rào nhau thai
và qua sữa mẹ.



19

Việc theo dõi tiến triển của bệnh có vai trò rất quan trọng, bên cạnh
theo dõi sát về các triệu chứng lâm sàng, các biến động về huyết động, tiến
triển của bệnh cần được theo dõi bằng phim chụp X quang ổ bụng, lý tưởng là
6-8 giờ/1 lần, tối thiểu 24 giờ/1 lần, phim chụp bao gồm cả các phim thẳng và
phim nghiêng nhằm đảm bảo đủ độ nhạy để đánh giá tiến triển của bệnh. Một
số nơi trên thế giới sử dụng phim X quang bụng chéo, trẻ sơ sinh vẫn nằm
ngửa nhằm hạn chế sự thay đổi tư thế của các bệnh nhân không ổn định.
1.4.2. Điều trị ngoại khoa: giai đoạn IIIB,.
Nguyên tắc điều trị.
- Chỉ cắt bỏ đoạn ruột hoại tử, thủng.
- Cố gắng bảo tồn van hồi – manh tràng và các đoạn ruột nghi ngờ.
- Khi chưa quyết định đoạn ruột đã hoại tử chưa, đóng thành bụng, mở
lại bụng sau 24h – 48h đánh giá lại.
- Sau cắt bỏ đoạn ruột hoại tử, đưa hai đầu ruột ra ngoài làm hậu môn
nhân tạo.
Chỉ định can thiệp phẫu thuật [44].
- Phẫu thuật được chỉ định ở các bệnh nhân điều trị nội khoa có tình
trạng xấu đi
- Thủng ruột: Có khí tự do trong ổ bụng (hình ảnh liềm hơi dưới vòm
hoành trên X quang bụng không chuẩn bị với tư thế đứng).
- Viêm phúc mạc: Thành bụng nề đỏ, chọc dò dịch ổ bụng ra dịch phân
hoặc dịch máu hoặc có soi tươi có vi khuẩn Gram (-).
- Tắc ruột: Sờ thấy quai ruột nổi liên tục trong ổ bụng, quai ruột giãn
bất động trên nhiều phim.
- Đánh giá của người thầy thuốc tiên lượng bệnh có vai trò quan trọng,
hạn chế sự chậm trễ trong phẫu thuật.



nặng nề nhất của các bệnh nhân sau phẫu thuật là hội chứng ruột ngắn.
Đóng hậu môn nhân tạo44].
- Thường được thực hiện từ 1 – 2 tháng sau mổ lần đầu, phụ thuộc tình
trạng bệnh nhân có lên cân, lượng dịch ra qua dẫn lưu ruột.
1.5. ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG [45].
Kế hoạch điều trị dự phòng được thực hiện nhằm vào một số yếu tố
nguy cơ trong giai đoạn chu sinh như: Vi khuẩn gây bệnh, sức đề kháng cua
trẻ sơ sinh còn yếu, và việc cho ăn sữa bột, chiến lược này bao gồm:
1. Sử dụng kháng sinh đường uống dự phòng.
2. Sử dụng corticoid.
3. Việc sử dụng sữa mẹ.
Qua đó cung cấp cho trẻ sơ sinh đầy đủ các chất có cả các yếu tố miễn
dịch hoạt động, cũng như dinh dưỡng cho niêm mạc ruột.
1.5.1. Sử dụng kháng sinh đường uống [46].
Việc dùng kháng sinh đường uống để dự phòng VRHT cho nhiều kết
quả khác nhau, cơ sở khoa học của việc này là khử một số chủng vi khuẩn gây
hại nhằm ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập khi niêm mạc ruột bị phá vỡ. Kết quả
của thí nghiệm ban đầu nhằm nghiên cứu tác dụng của kháng sinh Gentamicin
và Amoxicillin trong trường hợp nghi ngờ VRHT đã có chứng minh tác dụng
bảo vệ, tuy nhiên các thử nghiệm tiếp theo không chứng minh được việc sử
dụng kháng sinh dự phòng làm giảm VRHT.
Như vậy việc sử dụng kháng sinh để dự phòng VRHT vẫn còn gây
nhiều tranh cãi và không được thường xuyên sử dụng do liên quan tới vấn đề
kháng kháng sinh được hình thành trên bệnh nhân được sử dụng.
Một lĩnh vực mới trong nghiên cứu này là sử dụng một số vi khuẩn có
lợi nhằm ngăn chặn những vi khuẩn gây bệnh tấn công đường ruột.


22


 Trẻ ≤ 5 tuổi
Năm 2006, Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) đã công bố chuẩn tăng
trưởng về chiều dài/chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng cánh tay, chỉ số khối
cơ thể của trẻ em từ lúc sinh cho tới tròn 5 tuổi. Các số liệu này được thu thập
từ các nghiên cứu đa trung tâm của TCYTTG được tiến hành từ 1997 – 2003
tại 6 nước (Mỹ, Braxin, Nauy, Ghana, Oman, Ấn độ). Qua nghiên cứu này
chuyên gia của TCYTTG đã kết luận rằng trẻ sơ sinh đủ tháng ở tất cả các
nước, không phân biệt chủng tộc và địa dư, nếu được nuôi bằng sữa mẹ, được
bổ sung thức ăn đầy đủ, được chăm sóc trong môi trường tối ưu, đều đạt được
mức độ tăng trưởng như nhau. Vì vậy chuẩn tăng trưởng của TCYTTG 2006
được xem là biểu đồ tăng trưởng của trẻ trong thế kỷ XXI.
 Trẻ > 5 tuổi
Cho đến nay chưa có chuẩn tăng trưởng cho trẻ trên 5 tuổi đến tuổi
trưởng thành. Vì vậy TCYTTG cho rằng có thể sử dụng biểu đồ cân nặng và
chiều cao theo tuổi cho từng giới của CDC - 2000 hoặc mỗi quốc gia xây
dựng số liệu riêng của mình. Ở nước ta, Bộ Y tế đã cho xuất bản cuốn sách
“Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX”.
Các số liệu này được thu thập từ 67.885 người từ 1 - 19 tuổi ở tất cả các vùng
trong cả nước trong thời gian từ 1994 - 1995.
1.6.1.2. Tốc độ tăng trưởng về chiều cao và cân nặng [49,50]
Theo K.Hussain và M.Preece (2006), quá trình tăng trưởng có thể chia 4
giai đoạn:


Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn trong tử cung chịu nhiều ảnh hưởng của
di truyền, dinh dưỡng và chức năng của rau thai. Đây là giai đoạn tăng
trưởng nhanh nhất.


24



25

1.6.2.1. Môi trường [49].
Dinh dưỡng: Là yếu tố quan trọng nhất, tăng trưởng liên quan chặt chẽ
tới dinh dưỡng, ăn uống đấy đủ chất dinh dưỡng là tiền đề cho tăng trưởng
bình thường, bên cạnh đó sự cung cấp calo cũng cần phải phù hợp cho từng
giai đoạn phát triển.
- Các vi chất: Kẽm, i-ốt, sắt..
-

Các vitamin: Vitamin A, vitamin C, vitamin D, vitamin E,

vitamin K, vitaminnhóm B...
Khí hậu, mùa: Theo các nghiên cứu tăng trưởng về chiều cao nhanh
nhất về mùa đông còn tăng trưởng về cân nặng nhanh nhất về mùa thu, điều
này đúng cho mọi lứa tuổi kể cả tuổi vị thành niên, cơ chế này chưa được rõ
có thể liên quan đến tiết hormon của cơ thể.
Hoạt động thể chất: Hoạt động thể chất hợp lý, có khoa học không chỉ
có tác dụng tốt tới tăng trưởng của cơ thể mà còn có tác dụng lớn trong phát
triển thể chất và tinh thần của trẻ nhỏ. Ngược lại các hoạt động quá mức có
thể có những tác động tiêu cực tới tăng trưởng.
Đô thị hóa, điều kiện kinh tế xã hội, các stress tâm lý..
1.6.2.2. Bệnh tật
Các bệnh về chuyển hóa, thận, thần kinh, nội tiết, hô hấp, tim mạch,
tiêu hóa..đều ảnh hưởng tới tăng trưởng. Nhiều nghiên cứu đã cho kết quả có
mối liên quan giữa bệnh tật và tăng trưởng ở trẻ em đặc biệt là các bệnh
nhiễm khuẩn, các bệnh nhiễm khuẩn ảnh hưởng tới dinh dưỡng và tăng
trưởng của trẻ, tùy bệnh mà mức độ ảnh hưởng này có sự khác nhau, hậu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status