Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh viêm quanh răng mạn tính bằng phương pháp sử dụng laser diode - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viêm quanh răng là một bệnh phổ biến trong các bệnh răng hàm
mặt ở nước ta cũng như trên thế giới. Tổ chức y tế thế giới đã khẳng định
"Bệnh quanh răng là bệnh lưu hành rộng rãi. Không có một quốc gia, một
vùng lãnh thổ nào trên thế giới không có bệnh này. Bệnh chiếm một tỷ lệ rất
cao quá nửa số trẻ em và hầu như toàn bộ số người lớn tuổi bị bệnh này" [1].
Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001 tỷ lệ người bị viêm
lợi và viêm quanh răng lên tới 90%. Người ta thấy những thương tổn của tổ
chức quanh răng trong đó viêm lợi và viêm quanh răng mạn tính là những
bệnh phổ biến nhất [2], [3], [4].
Bệnh viêm quanh răng tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng con
người nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, đời sống sinh hoạt của con
người và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến mất răng.
Hiện nay người ta coi bệnh viêm quanh răng là bệnh viêm tổ chức chống
đỡ quanh răng gây ra bởi các vi khuẩn gây bệnh trên mảng bám răng, cao
răng trên lợi và dưới lợi. Mục đích của điều trị viêm quanh răng là ngăn chặn
quá trình viêm bằng việc loại bỏ vi khuẩn và các tổ chức hoại tử dưới lợi tạo
điều kiện phục hồi hoặc tái tạo lại phần mô quanh răng bị tổn thương [4].
Việc phát minh ra tia laser là một thành tựu trong y học hiện đại. Năm
1960 chiếc laser đầu tiên ra đời do nhà bác học Maiman (Mỹ) chế tạo đã
được ứng dụng đầu tiên trong nhãn khoa. Đến nay laser y học được ứng
dụng khá rộng rãi trong các lĩnh vực chuẩn đoán, điều trị, phẫu thuật. Cũng
như các chuyên ngành khác, laser cũng được ứng dụng điều trị trong nha
khoa. Khi chiếu tia laser có công suất thấp vào một hệ sinh vật như cơ thể
con người, sẽ có những hiệu ứng sinh học xảy ra trên cơ thể đặc trưng cho
sự tương tác giữa laser và tổ chức sống. Đó là những đáp ứng chống viêm,
chống đau, đáp ứng của tổn thương tế bào, đáp ứng tái sinh, đáp ứng của hệ




Đánh giá hiệu quả điều trị viêm quanh răng mạn tính bằng phương
pháp sử dụng laser diode của những đối tượng trên.


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Đại cương
Vùng quanh răng bao gồm lợi, dây chằng quanh răng, xương răng và
xương ổ răng.
1.1.1. Lợi

Hình 1.1. Cấu tạo vùng quanh răng [1]
Là phần niêm mạc biệt hóa bám vào cổ răng, xương răng và một phần xương
ổ răng, niêm mạc lợi giống niêm mạc hàm ếch. Lợi được giới hạn ở trên là bờ lợi,
phía cuống răng là ranh giới lợi - niêm mạc miệng.
a. Giải phẫu lợi:
Lợi được chia làm hai phần:
- Lợi tự do: Bao gồm nhú lợi và đường viền lợi
+ Nhú lợi: Là phần lợi che kín các kẽ răng, có một nhú phía ngoài và một
nhú phía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm.


4

+ Đường viền lợi: Không dính vào răng mà ôm sát vào cổ răng với chiều
cao khoảng 0,1mm. Mặt trong đường viền lợi là thành ngoài của rãnh lợi có
phủ một lớp biểu mô mỏng.

cường thực bào và các phản ứng kháng nguyên, kháng thể. Thành phần của
dịch lợi cũng gồm các thành phần giống như trong huyết thanh nhưng có sự
khác biệt về tỷ lệ giữa các thành phần [11], [12].
1.1.2. Dây chằng quanh răng
Là mô liên kết đặc biệt nối liền răng với xương ổ răng, chiều dày thay
đổi tùy theo tuổi hoặc theo chức năng từng vùng, thường dày từ 0,15 đến 0,35
mm. Dây chằng quanh răng gồm những sợi keo sắp xếp thành những bó sợi,
một đầu bám vào xương ổ răng, một đầu bám vào xương răng của chân răng
(chỗ bám này gọi là dây chằng Sharpey).
a. Dựa vào hướng đi của dây chằng người ta chia ra các nhóm:
+ Nhóm cổ răng: Gồm những bó sợi đi từ mào xương ổ răng đến xương
răng gần cổ răng.
+ Nhóm ngang: Gồm những bó sợi đi từ xương răng đến xương ổ răng
theo hướng vuông góc với trục của răng.
+ Nhóm chéo: Gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chạy chếch xuống
dưới và vào trong để bám vào xương răng. Nhóm này chiếm số lượng nhiều
nhất trong dây chằng quanh răng có tác dụng chống lại sức nén của lực nhai.
+ Nhóm cuống răng: Gồm những bó sợi đi từ xương răng ở cuống răng
tỏa ra như nan quạt để bám vào xương ổ răng vùng cuống răng.
+ Đối với răng nhiều chân còn có những sợi đi từ kẽ hai hoặc ba chân
đến dính vào vách giữa của xương ổ răng nhiều chân ấy.
- Chất cơ bản của dây chằng quanh răng: Proteoglycans và glycoprotein
giống trong tổ chức liên kết riêng. Trong vùng kẽ là các tế bào tạo xương răng, tạo
cốt bào, hủy cốt bào, những tế bào biểu mô còn sót lại của bao Hertwig và vùng kẽ
còn có mạch máu, thần kinh.


6

b. Mạch máu:

- Xương răng có tế bào: Là xương răng thứ phát phủ lên chân răng. Xương răng
có tế bào phủ 1/3 dưới chân răng và cuống răng, chỗ phần nhánh của chân răng.
Xương răng có tầm quan trọng đặc biệt về chức năng: là chỗ bám cho dây
chằng quanh răng, nối răng vào xương ổ răng, bảo vệ ngà chân răng [11].
1.1.4. Xương ổ răng
Là phần lõm của xương hàm để giữ chân răng, nó là một phần của xương
hàm, gồm có lá xương thành trong huyệt ổ răng và tổ chức xương chống đỡ
xung quanh huyệt răng.
- Lá xương thành trong huyệt ổ răng: Là một lá xương mỏng gọi là lá
cứng. Lá cứng có nhiều lỗ qua đó bó mạch và thần kinh đi từ xương hàm tới
mang dinh dưỡng cho răng và quanh răng.
- Tổ chức xương chống đỡ xung quanh ổ răng: Xương vỏ ở ngoài và
trong là tổ chức xương đặc và xương xốp.
+ Lớp xương vỏ được màng xương che phủ. Cấu trúc lớp xương vỏ được
màng xương che phủ. Cấu trúc lớp xương vỏ nhìn chung giống như các
xương đặc khác, bao gồm các hệ thống Havers. Lớp xương vỏ hàm dưới dày
hơn lớp xương vỏ hàm trên.
+ Xương xốp: Nằm giữa các thành xương ổ răng và giữa các lá sàng.
Bao gồm một mạng lưới bè xương mỏng, xen giữa các khoang tủy chủ yếu
lấp đầy tủy mỡ.
Các tế bào chịu trách nhiệm tái cấu trúc:
* Tạo cốt bào
* Tế bào xương non
* Tế bào xương trưởng thành
* Hủy cốt bào [11], [12].


8

1.2. Bệnh viêm quanh răng

Tùy theo vị trí người ta phân biệt mảng bám trên lợi và mảng bám dưới lợi:
- Mảng bám trên lợi lúc đầu hình thành mảng bám có ít vi khuẩn, chủ
yếu là các tế bào bong của niêm mạc miệng. Sau đó vi khuẩn tiếp tục tích tụ
lại có tới 90% là cầu khuẩn và trực khuẩn Gr(+), 10% là cầu khuẩn Gr(-).
Mảng bám răng có vi khuẩn yếm khí và trực khuẩn Gr(+) tăng, khởi điểm cho
tổ chức viêm nhận thấy trên lâm sàng.
- Mảng bám dưới lợi: Theo Lisgartein cho rằng lợi phù nề gây ra bởi sự
khởi động phản ứng viêm ở lợi, làm cho bờ lợi phủ một phần mảng bám răng
của mảng bám trên lợi, mảng đó tiếp tục một cách độc lập phát triển với sự
tham gia của dịch túi [16], [17].
* Khả năng gây bệnh của mảng bám răng:
- Tác động trực tiếp: Các vi khuẩn sản sinh ra các men và nội độc tố,
những sản phẩm đào thải của vi khuẩn trong quá trình sống như NH3, ure,
sunfur… làm thay đổi môi trường pH từ đó tác động lên muối vô cơ của nước
bọt, gây nên hiện tượng lắng đọng canxi tạo thành cao răng và thường xuyên
kích thích gây viêm lợi.
- Tác động gián tiếp: Do tính chất kháng nguyên của mảng vi khuẩn,
người ta cho rằng những sản phẩm của vi khuẩn, độc tố, những khoáng
nguyên và yếu tố phân bào khuếch tán qua biểu mô lợi và khởi động qua
những phản ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân mà những phản ứng
này có thể gây ra tự phá hủy những tổ chức vùng quanh răng [16], [17].
1.2.2.2. Cao răng
Cao răng về bản chất được khoáng hóa từ mảng bám. Cao răng được cấu
tạo bởi hai thành phần:
+ Thành phần hữu cơ: Vi khuẩn và chất gian khuẩn
+ Thành phần vô cơ: CaCO3, canxi phosphat…
Cao răng bám vào chân răng và răng dẫn đến tình trạng lợi mất chỗ bám
dính gây tụt lợi, rãnh lợi gây viêm.




11

được phân lập với tỷ lệ cao là Porphyromonas gingivalis (P.g), Bacteroides
forsythus, Prevotella intermedia, Wolinenella recta, Peptostreptococcus micros và
1/3 số lượng bệnh nhân bị viêm quanh răng nặng có chứa vi khuẩn
Actinobacillus actinomycetemcomitans (A.a) [18]. Theo Nguyễn Thị Hồng
Minh, tỷ lệ dương tính với P. gingivalis, T. forsythensis, F. nucleatum và P.
intermedia ở nhóm viêm quanh răng lần lượt là 17,6%, 82,4%, 11,8% và 26,6%.
100% trường hợp dương tính với P. gingivalis đều có viêm quanh răng [19].
P. gingivalis là loại vi khuẩn Gr(-) yếm khí, được coi là tác nhân gây bệnh
quan trọng vào bậc nhất. P. gingivalis cũng có khả năng xâm nhập sâu vào tổ
chức liên kết vùng quanh răng nên có khả năng gây tái phát bệnh rất cao [20].
A. actinomycetemcomitan là loại vi khuẩn gr(-) ái khí, hiện diện chủ yếu
ở các túi quanh răng sâu [21].
Cả P.g và A. a có khả năng tấn công các tế bào tự bảo vệ của cơ thể, có
liên quan với thể tiến triển của viêm quanh răng mạn tính [22].
1.2.3. Phân loại bệnh viêm quanh răng
Việc phân loại bệnh quanh răng có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn
đoán và điều trị. Có nhiều cách phân loại bệnh quanh răng nhưng theo xu
hướng chung và các quan điểm hiện tại, người ta chia các bệnh quanh răng ra
làm hai loại chính là các bệnh của lợi và các bệnh cấu trúc nâng đỡ răng.
a. Phân loại theo WHO năm 1999: Chia thành 8 nhóm bệnh
- Các bệnh lợi
+ Do mảng bám răng
+ Không do mảng bám răng
- Viêm quanh răng mạn tính
+ Thể khu trú
+ Thể toàn bộ


+ Viêm quanh răng mãn (APP III): Túi sâu 4-5 mm, mất bám dính trên 4
mm, tiêu xương ổ răng rõ ràng luôn luôn độ 1.


13

+ Viêm quanh răng tiến triển (APP IV): Túi > 5 mm, tiêu xương ổ răng
nhiều, răng lung lay độ 2, 3 [24].
Viêm quanh răng mạn tính có đặc điểm sau (Flemming 1999):
+ Bệnh thường gặp ở người trưởng thành
+ Có biểu hiện viêm lợi mạn tính
+ Có túi lợi bệnh lý và mất bám dính quanh răng
+ Răng lung lay ở các mức độ khác nhau
+ Có nhiều mảng bám, cao răng trên lợi và dưới lợi.
+ Có hình ảnh tiêu xương ổ răng trên phim XQ
+ Mức độ phá hủy xương phù hợp với sự hiện diện của các yếu tố tại chỗ
+ Tốc độ phát triển chậm hoặc trung bình nhưng cũng có những thời kì
tiến triển nhanh [25].
1.2.4. Các tổn thương vùng quanh răng trong viêm quanh răng
a. Túi lợi bệnh lý:
- Rãnh lợi là một rãnh nông quanh răng được tạo bởi bề mặt chân răng
trong, lớp biểu mô lót của lợi tự do ở ngoài và đáy là lớp biểu mô bám dính răng
lợi bình thường có độ sâu từ 0,5 đến 2 mm, trong rãnh lợi có chứa dịch lợi.
Trong quá trình bệnh lý, lớp biểu mô bám dính bị phá hủy và dịch
chuyển phía chân răng, kết hợp với sự phá hủy tổ chức quanh răng làm cho
rãnh lợi sâu xuống tạo thành túi trong có chứa các tổ chức hoại tử và mảng
bám vi khuẩn gọi là túi lợi bệnh lý (hay còn gọi là túi quanh răng). Trên lâm
sàng, độ sâu túi lợi bệnh lý chỉ phản ánh mức độ trầm trọng của bệnh mà
không đánh giá được mức độ hoạt động của bệnh. Mức giảm độ sâu túi quanh
răng có thể cho phép đánh giá hiệu quả của việc điều trị bệnh.

chéo nhưng cũng có thể kết hợp cả hai.
c. Mất bám dính quanh răng lâm sàng:
Mức mất bám dính quanh răng lâm sàng là khoảng cách từ đường nối
men - xương răng đến đáy túi lợi. Mất bám dính quanh răng lâm sàng là yếu
tố quan trọng để đánh giá mức độ phá hủy tổ chức quanh răng và gián tiếp
phản ánh mức độ tiêu xương ổ răng [24].


15

d. Tổn thương chẽ chân răng:
Quá trình tiêu xương ở răng nhiều chân sẽ tạo ra một vấn đề đặc biệt đó là
tổn thương vùng chẽ giữa các chân răng. Thường thì quá trình tiêu xương, áp
xe quanh răng, mất bám dính quanh răng và tăng độ sâu túi lợi bệnh lý nhanh
thường có liên quan đặc biệt với hở chẽ chân răng [24], [27].
e. Răng lung lay hoặc di lệch:
Lung lay răng hoặc di lệch răng bệnh lý là một triệu chứng của viêm quanh
răng nặng tiến triển. Sang chấn khớp cắn cũng làm tăng độ lung lay răng trong
VQR. Thêm vào đó là sang chấn khớp cắn do hậu quả của quá trình di lệch răng
trong VQR cũng làm răng lung lay nhiều hơn [16], [24].
1.2.5. Điều trị viêm quanh răng
Tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh mà có thể điều trị bằng phương
pháp bảo tồn hay phương pháp phẫu thuật.
a. Điều trị bảo tồn:
Bao gồm điều trị khởi đầu, điều trị duy trị và kháng sinh tại chỗ, toàn thân
* Điều trị khởi đầu: Do viêm quanh răng mạn tính nguyên nhân chủ yếu
là do mảng bám răng nên các phương pháp điều trị tại chỗ rất quan trọng [29].
Điều trị khởi đầu bao gồm các biện pháp điều trị tại chỗ
- Loại bỏ kích thích tại chỗ: [30]
+ Lấy sạch cao răng và mảng bám răng

- Mức độ lung lay răng
- Các thay đổi bệnh lý khác [30], [31].
* Điều trị toàn thân
- Viêm quanh răng mạn tính được coi là một bệnh nhiễm khuẩn nên
ngoài việc loại bỏ các kích thích tại chỗ còn kết hợp với kháng sinh tại chỗ và
toàn thân. Việc dùng kháng sinh làm cải thiện tốt một vài chỉ số lâm sàng, đặc
biệt giảm độ sâu túi lợi và giảm chảy máu khi thăm dò [32].
- Chống viêm bằng đường toàn thân
- Giải mẫn cảm
- Tăng cường sức đề kháng của cơ thể và kích thích phản ứng của cơ thể


17

Điều trị toàn thân được dùng để bổ sung cho các biện pháp tại chỗ và
dùng với các mục tiêu riêng như sau:
+ Kiểm soát các biến chứng toàn thân trị nhiễm trùng cấp
+ Hóa trị liệu để ngăn ngừa các ảnh hưởng có hại của nhiễm trùng máu
sau điều trị.
+ Liệu pháp dinh dưỡng hỗ trợ.
+ Kiểm soát các bệnh toàn thân mà làm nặng thêm tình trạng quanh răng
+ Trường hợp viêm quanh răng là biểu lộ của bệnh toàn thân thì phải
điều trị các bệnh toàn thân phối hợp các biện pháp điều trị tại chỗ [30].
b. Điều trị phẫu thuật
Là việc sử dụng các kỹ thuật giúp cho việc loại bỏ yếu tố bệnh sinh và
mô bệnh lý, tăng khả năng lành thương của mô quanh răng bằng việc hình
thành tái bám dính.
Theo quan điểm chung, điều trị bảo tồn có thể thực hiện được ở những
túi lợi bệnh lý nông. Khi các túi sâu (> 5,5 mm) hoặc viêm quanh răng tiến
triển thì hiệu quả không cao, không giải quyết được triệt để. Vì vậy phương

Yttrium Aluminium Garnet (Laser YAG).
- Năm 1966 các chất màu pha lỏng khác nhau cũng được sử dụng để chế
tạo laser, đó là laser màu [34].
Ngày nay, laser đã trở thành một công cụ không thể thiếu được trong
nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng như ứng dụng kỹ thuật. Trước đây
chúng ta vẫn quan niệm rằng laser phải là những thiết bị cồng kềnh với một
loạt linh kiện quang học được điều chỉnh trên bàn quang học đặc biệt chống
rung và dao động nói chung. Nhưng ngay từ năm 1960, nhờ sự kết hợp tài
tình giữa laser (quang học) và điện tử người ta chế tạo ra laser bán dẫn hay
laser diode [6], [34].
1.3.3. Phân loại các thiết bị laser y học
Theo trạng thái hoạt chất laser chứa trong buồng cộng hưởng mà người
ta gọi theo tên hoạt chất: laser khí (He-Ne, CO 2…) laser rắn (Al2O3), laser bán
dẫn (laser diode), laser màu, laser hơi kim loại…..


19

Trong điều trị lâm sàng laser được phân thành hai nhóm chính: laser
công suất thấp được dùng trong vật lý trị liệu và laser công suất cao được sử
dụng trong ngoại khoa.
* Laser công suất thấp:
- Phổ biến nhất là laser He-Ne. Đó là một laser khí, phát tia laser có màu
đỏ, bước sóng 632,8 nm. Khả năng sử dụng rộng rãi: chiếu diện, chiếu điểm,
hay chiếu ngay trong lòng mạch máu.
- Loại laser năng lượng thấp thứ hai được sử dụng nhiều trong y học là
laser bán dẫn (thường là diode GaAs). Bước sóng của laser này là 830 hay
890 nm, độ phổ rộng (0,3 - 10 A), có công suất phát nằm trong khoảng 4-15
mw (liên tục) hay 5-30 mw (phát xung).
* Laser công suất cao: Phân loại theo tương tác của bức xạ với tổ chức

- Y học cổ truyền: Châm cứu
* Ứng dụng laser công suất cao trong điều trị
- Dao mổ để cắt bỏ những khối u, ung thư trong ngoại khoa
- Nhãn khoa: Phẫu thuật giác mạc, tật khúc xạ
- Thần kinh: Điều trị u thần kinh
- Thận tiết niệu: Tán sỏi
- Tim mạch: Điều trị nhịp nhanh thất, tạo hình mạch bằng laser chọc qua
da, nối vi phẫu động mạch
- Phẫu thuật thẩm mĩ: Tạo hình nếp nhăn trên khuôn mặt lão hóa, điều trị
sẹo lồi, điều trị tổn thương sắc tố da
- Phụ khoa: Bệnh màng trong tử cung lạc chỗ, khoét chóp tử cung....
Ngoài ra có thể dùng laser trong chuẩn đoán
- Răng hàm mặt: Dùng kính hiển vi quét laser đồng tiêu đề phát hiện sớm
sâu răng
- Máy dopler thăm dò, đo dòng máu
- Máy chụp cắt lớp laser [35], [36], [37].


21

1.3.5. Ứng dụng của laser trong răng hàm mặt
Laser trong nha khoa được chia thành 2 nhóm cơ bản là laser điều trị và
laser dùng để chẩn đoán.
a. Với những laser điều trị người ta phân thành 2 nhóm: nhóm điều trị
cho mô mềm và nhóm điều trị cho mô cứng.
• Laser điều trị cho mô mềm:
- Ưu điểm:
+ Có khả năng cầm máu tốt
+ Phong bế dây thần kinh và hệ thống mạch bạch huyết
+ Làm giảm đau sau phẫu thuật

b. Laser trong chẩn đoán
- Phát hiện sâu răng và cao răng: Lake Zuzick đã sử dụng để phát hiện
cao răng ở chân răng và sâu ở rãnh mặt nhai. Vì những hạt photon của laser sẽ
được hấp thụ vào nơi tồn tại của vi khuẩn ở trên răng bệnh nhân. Laser chẩn
đoán này được gọi là laser huỳnh quang [40], [41].
* Ứng dụng laser trong điều trị bệnh viêm quanh răng:
- Laser CO2: dùng laser CO2 để cắt bỏ mô mềm bệnh lý hay bị viêm
nhiễm. Loại laser này có tác dụng diệt khuẩn và cầm máu tốt, tuy nhiên chưa
được dùng rộng rãi trong điều trị bệnh viêm quanh răng. Nhược điểm của
loại này là sinh nhiệt cao, dễ gây tổn thương nhiệt và đốt cháy bề mặt chân
răng. Laser CO2 hấp thụ khoảng 0,5 mm. Giá thành tương đối cao [38].
- Laser Ebrium: Dùng đầu tip Laser đưa vào túi quanh răng để lấy cao răng
và điều trị túi quanh răng. Loại laser này có hiệu lực cao để diệt hai loại vi
khuẩn gây bệnh viêm quanh răng là P. g và A.a. Một số điểm hạn chế của loại
laser này là:
+ Đầu laser khó thao tác quanh bề mặt chân răng
+ Năng lượng laser không tác động lên hết bề mặt chân răng
+ Bề mặt xương răng không đồng đều sau khi lấy cao răng bằng laser
+ Không có tác dụng cầm máu vì máu không hấp thụ loại laser này.
+ Giá thành cao
+ Ebrium chỉ hấp thụ vào mô với độ sâu rất nhỏ (khoảng 0,5 micron) [40]


23

- Laser Nd:YAG: Dùng đầu tip laser tác động vào túi quanh răng, có tác
dụng làm giảm đáng kể các loại vi khuẩn gây bệnh, lấy bỏ các sản phẩm do
quá trình viêm gây ra và cầm máu. Loại laser này không có tác dụng lấy cao
răng vì nó không bị cao răng hấp thụ và nó sinh nhiệt nhiều khi tác động vào
những chất sẫm màu. Giá thành loại máy này tương đối cao[40].

các electron.
- Chúng chuyển xung điện thành xung ánh sáng. Chúng bức xạ ánh
sáng ở miền bước sóng mà ở đó các sợi quang học truyền qua.
- Người ta thường sử dụng bán dẫn điện (+) là Gali và chất bán dẫn điện
âm là aseni.
1.3.6.2. Các thông số kỹ thuật cơ bản của laser diode
- Bước sóng: Bước sóng của laser diode từ 635-980 nm. Một phần nằm
trong phổ màu xanh lục (635 - 700 nm) một phần nằm trong quang phổ hồng
ngoại (700 - 980 nm).
- Công suất: Là mức hiệu suất năng lượng hoạt động của máy. Đơn vị đo
công suất là watt (W).
- Năng lượng: Là thông số cơ bản nói lên khả năng làm việc của thiết bị.
Đơn vị chính là June (J).
- Diện tác động: Được điều chỉnh bằng hệ thống kính hội tụ hoặc việc
dịch chuyển xa, gần của hệ thống tay cầm. Tùy theo mục đích sử dụng mà ta
thay đổi diện tác động.


25

- Xung laser: Năng lượng của laser từ chỗ phát ra một cách liên tục cũng
có thể được chia thành các đợt ngắt quãng. Có nhiều loại xung khác nhau, tùy
thuộc vào thời gian mỗi xung. Có thể là xung dài được tính bằng giây, đến
xung ngắn: 0,1s; 0,01s [6].
1.3.6.3. Tác dụng của laser diode trong răng hàm mặt
Laser diode có hoạt động gần với vùng hồng ngoại, các bước sóng của laser
diode sẽ hấp thụ tốt những sắc tố ở mô mềm (hemoglobin, melanin), vì thế laser
diode thích hợp cho phẫu thuật mô mềm, nội nha, vùng quanh răng. Ở cấp độ tế
bào nó giúp làm tăng quá trình trao đổi chất, kích thích sản sinh ra ATP
(Adenosin triphotphat- loại nhiên liệu giúp tăng cường cho tế bào). Sự tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status