nh÷ng ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n
CNDVBC
CNDVLS
CNXH
CNH, HĐH
CHXHCN
CCB
CT/TW
ĐTNCSHCM
HĐND
HĐND- UBND
QĐ- TTg
QĐ-BNV
QĐ/HU
NQ/TW
NĐ-CP
UBMTTQVN
UBND
KL/TW
KHHGĐ
TL
XHCN
Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Cựu chiến binh
Chỉ thị Trung ương
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
mệnh lịch sử của Đảng, của đất nước và của chế độ. Trong các Văn kiện
Đại hội từ Đại hội VI đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng, Đảng ta nhiều lần nêu rõ: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm,
xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, mà trong công tác xây dựng Đảng
thì cán bộ và công tác cán bộ là quan trọng nhất, là khâu "then chốt trong
vấn đề then chốt", là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
luôn được các cấp uỷ Đảng quan tâm và có sự trưởng thành, đáp ứng với
nhiệm vụ chính trị, góp phần củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân
vào sự nghiệp cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, việc
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã thật sự có chất lượng còn nhiều
bất cập, nhiều vấn đề cần xem xét nghiên cứu làm sáng tỏ, nhằm xây dựng
cho được đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã thực sự đáp ứng với yêu cầu,
nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng mới. Nghị quyết số 17, Hội
nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX), ngày 18-32002, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá: Hệ thống chính trị ở cơ sở
1
hiện nay còn nhiều yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ
chức thực hiện và vận động quần chúng... Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được
đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá.
Huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội, mặc dù điều kiện kinh tế còn
nhiều khó khăn, nhưng Đảng bộ và nhân dân trong huyện luôn đoàn kết
một lòng, quyết tâm xây dựng huyện vững mạnh về mọi mặt. Cho đến nay
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong huyện đã được nâng cao
rõ rệt, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được bảo đảm ổn định
giữ vững và tăng cường… tạo thêm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo
của Đảng và Nhà nước. Đạt nhiều thành tựu như vậy chính là do Đảng bộ
huyện đã coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác, đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng; xây dựng chuẩn hóa cán bộ chủ chốt
xã, phường, thị trấn ở trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp quận, huyện hoặc
tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên ngành Xây dựng Đảng và chính
quyền Nhà nước.
8. Kết cấu của đề tài luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương 8 tiết.
6
Chương 1
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ- MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã
1.1.1. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
1.1.1.1. Khái niệm về chất lượng
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất trong mọi lĩnh vực hoạt
động của con người. Việc phấn đấu nâng cao chất lượng bao giờ cũng được
xem là nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ một hoạt động nào. Mặc dù có tầm
quan trọng như vậy, nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa,
và cách hiểu của nhiều người về nó cũng khác nhau .
Tuy vậy, không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến
mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc
dù sẽ còn luôn luôn thay đổi. Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong
dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng
của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp
ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Trong cuốn sách
Từ khái niệm về chất lượng nêu trên và từ lý luận, thực tiễn xây dựng
đội ngũ cán bộ của Đảng ta cho ta thấy, chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt
các cấp nói chung, chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã nói riêng không
phải là phép cộng đơn giản từ chất lượng của từng cán bộ mà là kết quả của
sự tác động tổng hợp, biện chứng giữa các yếu tố chính là: Chất lượng cán bộ,
số lượng cán bộ và cơ cấu đội ngũ cán bộ.
Trong ba yếu tố trên, yếu tố chất lượng cán bộ là hạt nhân, cốt lõi và
quan trọng nhất. Bởi vì con người là nhân tố cơ bản nhất, năng động nhất của
tổ chức; từng người mạnh làm cho tổ chức mạnh, hệ thống mạnh. Chất lượng
8
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phụ thuộc trước hết chất lượng cán bộ. Vì vậy
mối quan tâm hàng đầu của Đảng ta là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
nói chung, chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp nói riêng, trong đó có
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã.
Cũng như chất lượng cán bộ chủ chốt các cấp, chất lượng cán bộ chủ
chốt cấp xã có nội dung rất toàn diện, bao gồm cả phẩm chất đạo đức cách
mạng, uy tín, cả tri thức và năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi cán bộ. Đó
là sự tổng hợp các yếu tố tạo nên phẩm chất và năng lực của mỗi cán bộ.
Trước tiên, chất lượng cán bộ là sự tổng hợp các yếu tố tạo nên phẩm chất
chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ: tức là uy tín, lòng trung
thành, sự giác ngộ và niềm tin vào mục đích, lý tưởng của Đảng ta, được thể
hiện bằng hành động của cán bộ trong việc gương mẫu, đi đầu trong các
phong trào cách mạng của quần chúng; vận động, lôi cuốn, hướng dẫn, tổ
chức quần chúng tham gia các hoạt động cách mạng, thực hiện tốt các nhiệm
vụ chính trị của địa phương; là khả năng chấp hành và lãnh đạo, chỉ đạo tổ
chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước và là khả năng vận động gia đình, người thân và quần
của cả đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã.
Với ý nghĩa đó, số lượng có quan hệ chặt chẽ với chất lượng. Điều đó
có nghĩa là chất lượng cán bộ và số lượng cán bộ tồn tại trong liên hệ ràng
buộc, phụ thuộc lẫn nhau để tạo thành chất lượng đội ngũ cán bộ.
Cơ cấu đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là cách thức tổ chức, sắp xếp, bố
trí các thành phần trong đội ngũ phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ được phân
công. Xác định cơ cấu đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hợp lý là phương pháp
bố trí, sắp xếp các thành phần trong đội ngũ sao cho ngày càng thật khoa học,
tạo ra một tỷ lệ cân đối, hợp lý hài hòa về số lượng và chất lượng; vừa chú
trọng đảm bảo ngày càng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất
khoa học và cách mạng của Đảng, tăng cường lực lượng cán bộ trẻ, giàu tiềm
10
năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, lại vừa
luôn giữ vững thế ổn định, bền vững và liên tục phát triển của Đảng bộ, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc và các ban, ngành, đoàn thể.
Như vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay được hiểu
là một chỉnh thể các yếu tố, được cố kết, tạo thành từ sự tác động biện chứng,
tổng hợp và toàn diện của cả hệ thống gồm nhiều mặt, nhiều mối liên hệ
phong phú, trong đó chủ yếu xoay quanh ba yếu tố chính là: chất lượng cán
bộ, số lượng cán bộ và cơ cấu đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, mà yếu tố quan
trọng hàng đầu là chất lượng cán bộ. Cũng cần chú ý rằng, đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã chỉ có thể có chất lượng và phát huy sức mạnh thực sự khi nó
được tồn tại trong một điều kiện tổ chức nhất định. Nếu không như vậy, rất có
thể chẳng những trong thực tế cả đội ngũ sẽ không mạnh lên mà thậm chí còn
yếu đi ngay trong trường hợp từng yếu tố chính cấu thành chất lượng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã căn bản đã thỏa mãn các yêu cầu cần thiết. Ngoài ra
còn phải hết sức lưu ý những dấu hiệu chủ yếu đáng tin cậy trong việc xác
loại cán bộ cụ thể.
1.1.2. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã
1.1.2.1. Tiêu chuẩn cán bộ
Tiêu chuẩn cán bộ là căn cứ để lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng, đánh giá sử dụng cán bộ. Có tiêu chuẩn cán bộ đúng mới có cơ sở để
rà soát, đánh giá khách quan đội ngũ cán bộ hiện có, sắp xếp cán bộ phù hợp
cũng như loại bỏ những cán bộ cơ hội, thoái hoá biến chất. Mặt khác, căn cứ
vào tiêu chuẩn chung đã qui định, để từng cán bộ tự nỗ lực phấn đấu hoàn
thiện bản thân mình.
12
Đảng ta đã xác định tiêu chuẩn cán bộ là một yêu cầu khách quan, có
tính lịch sử, cụ thể phản ánh những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách
mạng do Đảng lãnh đạo. Tiêu chuẩn cán bộ không ngừng vận động và phát
triển phù hợp với sự vận động và phát triển của sự nghiệp cách mạng. Tuy
nhiên trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, tiêu chuẩn cán bộ có tính ổn định
tương đối làm căn cứ để xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước phù
hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của giai đoạn đó. Từ nhận thức chung như
vậy, tiêu chuẩn cán bộ được hiểu “Là những tiêu chí thể hiện yêu cầu về
phẩm chất và năng lực của cán bộ để hoàn thành nhiệm vụ, phải luôn được
bổ sung, cụ thể hoá phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cách mạng”.
Như vậy khi nói đến tiêu chuẩn cán bộ là nói về những qui định người
cán bộ phải có về phẩm chất và năng lực tương ứng với chức trách, nhiệm vụ
họ phải đảm nhiệm trong giai đoạn cách mạng nhất định. Những qui định đó
không nhất thành bất biến mà được bổ sung phát triển, thậm chí thay đổi khi
hoàn cảnh, nhiệm vụ đó hoàn toàn thay đổi.
1.1.2.2. Tiêu chuẩn về phẩm chất cán bộ chủ chốt cấp xã
những cán bộ lãnh đạo chính trị, vì vậy cũng phải đạt những tiêu chuẩn cơ
bản trên. Tuy nhiên, do mức độ yêu cầu cụ thể có tính lịch sử ở cấp xã, một số
mặt về trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, năng lực dự báo, định
hướng phát triển... có thể còn ở mức thấp hơn. Căn cứ vào Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 5 (khoá IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cấp xã, phường, thị trấn; Nghị định 114/2013/NĐ-CP ngày 10-102003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định
04/2004/QĐ- BVN ngày 16-1-2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn
đối với cán bộ công chức xã, phường, thị trấn và theo chúng tôi, nói đến phẩm
chất, năng lực đối với đội ngũ này cần nhấn mạnh những đặc thù sau:
Một là, do trực tiếp với quần chúng nhân dân, là người đại diện cho
Đảng, Nhà nước và các ngành, các lĩnh vực ở địa phương, mỗi cán bộ phải
14
thể hiện đúng vai trò của mình, phải biết giữ uy tín của Đảng, Nhà nước trước
dân; đồng thời cũng để giữ vững lòng tin của dân với đối với Đảng, Nhà
nước. Do đó, phẩm chất chính trị-tư tưởng phải được coi trọng.
Hai là, ở môi trường chủ yếu là các vùng nông thôn, quan hệ xã hội
mang tính cổ truyền là thân tộc, cán bộ hầu hết xuất thân từ nông dân. Để giữ
đúng vai trò, vị trí của mình, mỗi cán bộ phải rèn luyện để có bản lĩnh chính
trị vững vàng; vì lợi ích của tập thể, đặt lợi ích của tập thể lên trên hết, gạt bỏ
lợi ích cá nhân.
Ba là, ở môi trường vừa thực hiện sự lãnh đạo chính trị, lại đồng thời
quản lý các cơ sở vật chất, giám sát và thực hiện các chế độ chính sách do đó dễ
tạo cho cán bộ chủ chốt mắc những sai phạm, rơi vào các hiện tượng tiêu cực
như tham ô, nhận hối lộ, tham nhũng... Vì vậy, để tránh được những sai lầm đó
đòi hỏi mỗi cán bộ phải rèn luyện để có đạo đức cách mạng chân chính.
Yêu cầu hiện nay đối với cán bộ chủ chốt cấp xã cần có những phẩm
chất, năng lực sau đây:
trước dân, biết lắng nghe ý kiến của cán bộ dưới quyền, của đảng viên, hội
viên và quần chúng nhân dân ở cơ sở, kể cả những ý kiến trái ngược với ý
kiến của mình. Đối với đồng chí, đồng nghiệp, phải thẳng thắn góp ý, làm rõ
đúng sai; trong công việc phải thẳng thắn, trung thực, biết hy sinh vì lợi ích
chung. Trong điều hành, chỉ đạo công việc phải công tâm, công khai, rõ ràng,
không thiên vị; có ý thức cầu thị, luôn “mở mình” cho tổ chức và nhân dân
kiểm tra, giám sát.
1.1.2.3. Tiêu chuẩn về năng lực cán bộ chủ chốt cấp xã
Người cán bộ lãnh đạo nói chung, cán bộ chủ chốt nói riêng dù ở cấp
nào cũng phải có năng lực nhất định. Trong đó, năng lực trí tuệ và năng lực tổ
chức thực tiễn là hai nhân tố quan trọng nhất. Hai yếu tố này có quan hệ chặt
chẽ với nhau, không tách rời nhau. Không có năng lực trí tuệ thì không có khả
16
năng khái quát, sáng tạo và vận dụng đúng đắn linh hoạt các qui luật khách
quan. Ngược lại, không có năng lực thực tiễn thì sa vào bệnh giáo điều, chủ
quan duy ý chí, quan liêu, mệnh lệnh xa rời thực tiễn, thoát ly cuộc sống đầy
sôi động đang cuộn chảy.
Cấp xã là cấp trực tiếp triển khai, tổ chức, vận động nhân dân thực thi
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đòi hỏi
đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị phải có năng lực toàn diện,
nhất định trên nhiều lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Ngoài ra, cán bộ chủ chốt cấp xã còn phải có năng lực sáng tạo, tính quyết
đoán và khả năng làm việc với con người.
Về năng lực trí tuệ: Cán bộ chủ chốt cấp xã phải là người có trình độ
hiểu biết tương đối toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội … ở
địa phương; nhạy bén trong việc tiếp thu cái mới, cái hay, cái tiến bộ; nắm
vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của
sở đối với ngành, lĩnh vực mình phụ trách; biết dựa vào dân để lựa chọn cán
bộ và quyết định các chủ trương, nhiệm vụ công tác lớn. Biết tổ chức công tác
kiểm tra, giám sát thực hiện các quyết định để duy trì, điều chỉnh tiến độ thực
hiện quyết định, phát hiện kịp thời những vấn đề mới nảy sinh để giải quyết;
biết tìm ra những sai sót, lệch lạc để sửa chữa, hoàn chỉnh quyết định, bảo
đảm quyết định được thực thi chính xác, hiệu quả.
- Năng lực sáng tạo, tính quyết đoán: Cán bộ chủ chốt cấp xã phải biết
phán đoán chính xác tình hình, đưa ra được quyết định chỉ đạo kịp thời, chính
xác trong những tình huống bất ngờ mà không có thời gian để phân tích dữ
kiện hoặc chưa có đủ dữ kiện cần thiết để phân tích; biết đưa ra quyết định
một cách dứt khoát và chịu trách nhiệm về quyết định của mình; có khả năng
ngăn ngừa và giải quyết mâu thuẫn, xung đột trong tập thể; biết xử lý điểm
nóng diễn ra trên địa bàn.
18
Thực tiễn lãnh đạo, quản lý ở cơ sở cho thấy, có nhiều tình huống nảy
sinh đòi hỏi cán bộ chủ chốt cấp xã phải chủ động, sáng tạo trong giải quyết
công việc. Có những tình huống nảy sinh từ vấn đề lấn chiếm, tranh chấp đất
đai, tài chính: thiếu kinh phí để hoạt động, kinh phí bị thất thoát, sử dụng sai
mục đích…; tình huống nảy sinh khi ra những quyết định có những điểm trái
với văn bản của cấp trên; tình huống nảy sinh so thiên tai, địch họa, do va
chạm xóm giềng, dòng tộc… Do vậy, cán bộ chủ chốt phải nắm vững và biết
vận dụng sáng tạo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
vào thực tiễn của địa phương, cơ sở; phải am hiểu thực tế ở địa phương để
giải quyết đúng đắn, kịp thời các tình huống nảy sinh ở cơ sở.
- Năng lực làm việc với con người: Có khả năng tiếp xúc với các loại
đối tượng với nhiều tư cách khác nhau; có khả năng tác động vào con người
bằng tình cảm, ý chí và nhân cách của bản thân; biết thiết lập các mối quan
chú ý đến các yếu tố đặc thù như: có lối sống giản dị, gần gũi quần chúng lao
động nông dân, biết tiếng nói, chữ viết, am hiểu văn hóa dân tộc đó, có kinh
nghiệm thực tế trong việc ứng dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công
nghệ vào đồng ruộng, tiểu thủ công nghiệp ở địa phương sẽ có kết quả tốt hơn
trong công tác lãnh đạo và quản lý ở cơ sở. Đối với những xã có nhiều người
dân là đồng bào Công giáo cần bố trí những cán bộ chủ chốt xã có đặc điểm
nổi trội như: bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm thật vững về quan điểm, chủ
trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, am hiểu sâu sắc
về những đặc điểm của Công giáo.
Tóm lại, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã nhất thiết
phải dựa chủ yếu vào sự tác động biện chứng giữa ba yếu tố đã nêu trên, đồng
thời nó được thể hiện rõ nét nhất qua việc hoàn thành nhiệm vụ trên các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, qua chất lượng
xây dựng, củng cố, kiện toàn các Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các
20
đoàn thể ở các xã, thị trấn đó, qua sự đoàn kết, thống nhất, dân chủ, kỷ luật kỷ
cương và uy tín của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đối với nhân dân.
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng ta về cán bộ và vai trò của cán bộ
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.2. Khái niệm về cán bộ
Xung quanh khái niệm cán bộ cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác
nhau. “ Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường cán bộ được coi là tất cả
những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể,
quân đội. Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người có
mức lương từ cán sự (cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương
thấp hơn cán sự một” [59, tr.16].
then chốt, chủ yếu, có tác dụng làm nòng cốt trong việc thực hiện nhiệm vụ
của tổ chức, đơn vị, địa phương đó.
Việc xác định cán bộ chủ chốt hay không chủ chốt cần căn cứ vào chức
trách cụ thể của mỗi người cán bộ và được đặt trong mối quan hệ với hệ thống
tổ chức. Có cán bộ ở cương vị này và trong tổ chức này là chủ chốt, nhưng
trong mối quan hệ khác, vị trí khác thì không còn là chủ chốt nữa. Ví dụ: một
bí thư đảng ủy xã là cán bộ chủ chốt của xã nhưng không phải là cán bộ chủ
chốt của huyện, mặc dù anh cũng có thể tham gia vào ban chấp hành của
huyện, là huyện ủy viên. Vì vậy, nói cán bộ lãnh đạo chủ chốt chỉ là tương đối.
* Cán bộ lãnh đạo: Theo nghĩa rộng “bao gồm những ai giữ chức vụ và
trách nhiệm cao trong một tổ chức, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ
chức, của bộ máy, có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của
cả bộ máy” [59, tr.33]
Theo Lênin, cán bộ lãnh đạo là “người đại diện tiên tiến có khả năng tổ
chức và lãnh đạo phong trào” [42, tr.473].
22
Ở nước ta khái niệm cán bộ lãnh đạo còn gắn liền với khái niệm cán bộ
quản lý, đó là những người có chức vụ và trách nhiệm điều hành, đứng đầu
trong các cơ quan, tổ chức, sự nghiệp….giám đốc, hiệu trưởng, viện trưởng...
Nội hàm khái niệm cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý có những điểm giống
nhau vì đều là những chủ thể ra quyết định điều khiển hoạt động của một tổ
chức do vậy vừa thực hiện chức năng lãnh đạo vừa thực hiện chức năng quản
lý. Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn đồng nhất với
nhau. Hoạt động lãnh đạo chủ yếu là định hướng khách thể thông qua hệ
thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách …Còn hoạt động quản lý
mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh
được qui định từ trước.