3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội loài người, giáo dục có vai
trò hết sức to lớn. Thấy được vị trí quan trọng đó tại hội nghị Ban chấp hành
Trung ương khóa VIII Đảng ta đã khẳng định: “Muốn tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy
nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển bền vững” [15, tr.19].
Để nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực đủ về số lượng, hợp lý
về cơ cấu không chỉ là nhiệm vụ của giáo dục chính quy, mà có phần đóng
góp không nhỏ của giáo dục không chính quy (giáo dục thường xuyên). Muốn
thực hiện mục tiêu của GD&ĐT, thực hiện công bằng giáo dục “mọi người đi
học, học thường xuyên, học suốt đời” thì phải “mở rộng các hình thức học
thường xuyên, đặc biệt là hình thức học từ xa” [15, tr.34].
Hiện nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con
người, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò
quyết định nhất đến sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia. Các
nhà kinh tế đã khẳng định rằng đầu tư cho con người thông qua các hoạt động
giáo dục và đào tạo là đầu tư có hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững của đất nước. Nhờ có sự ưu tiên đầu tư cho
giáo dục nhằm phát triển nguồn nhân lực mà nhiều nước chỉ trong thời gian
ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Đổi mới căn
bản toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao
chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội
nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trong những năm gần đây giáo dục thường xuyên ngày càng có vị trí,
vai trò nhất định trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta. Đặc biệt bằng
4
của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang được phát triển theo từng năm, hiện
nay chất lượng đào tạo các lớp liên kết của nhà trường chưa cao. Do vậy để
quản lý hoạt động LKĐT có chất lượng thì cần phải có những biện pháp phù
hợp với xu thế phát triển của xã hội và mục tiêu phát triển của nhà trường.
Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học Quản lý giáo dục
(QLGD), từ thực tiễn công tác tôi thấy việc LKĐT cũng là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của nhà trường, cần tìm ra những biện pháp quản lý
nhằm nâng cao chất lượng các lớp đào tạo theo hình thức liên kết và hiện nhà
trường chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý liên kết đào tạo cũng
như liên kết đào tạo nên tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý liên
kết đào tạo của trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp cao học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Nghiên cứu trên thế giới
UNESCO đã có khuyến cáo đúng đắn khi coi giáo dục của thế kỷ 21 là nền
giáo dục của xã hội học tập và học suốt đời cho mọi người. Quan điểm này thực ra
có từ rất sớm, nó xuất phát từ quan điểm “ Giáo dục bình đẳng” trong tư tưởng của
Mác - Ăng ghen đó là “Mọi người ai cũng được học hành”. Như vậy giáo dục
không thể tách rời xã hội mà giáo dục và xã hội là một khối thống nhất. Xã hội học
tập bao gồm các hình thức: Giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy.
Các nghiên cứu về giáo dục trên thế giới thể hiện xu thế đổi mới giáo
dục ở tất cả các quốc gia. Những nghiên cứu này mang tính cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay để đối phó với sự bùng nổ tri thức, khoa học và công nghệ,
sự phát triển của kinh tế – xã hội và nhu cầu hoàn thiện tri thức của cá nhân
người học ở mọi cấp, bậc học khác nhau. Các hướng nghiên cứu về phát triển
giáo dục trên thế giới thể hiện chủ yếu ở các lĩnh vực sau: Cơ sở lý luận về
chương trình giáo dục; Các nghiên cứu về cải cách chương trình giáo dục;
6
năm 1988 đến 1991 đã có 2 Viện đại học mở được thành lập ỏ Hà Nội và
Thành Phố Hồ Chí Minh.
Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “ Hệ thống giáo dục quốc dân
bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”, “nhà nước có chính
sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây
dựng xã hội học tập”.
Theo đánh giá của Ủy ban VHGDTNTN&NĐ, việc liên kết đào tạo trong
nước cũng đã có những đóng góp nhất định vào việc đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận với đào tạo
trình độ cao cho đối tượng người học vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn. Tuy
nhiên trên thực tế, hoạt động liên kết đào tạo trong nước thời gian qua, đặc biệt là
việc tổ chức đào tạo liên kết ngoài cơ sở chính để cấp bằng CĐ, ĐH chính quy
bộc lộ nhiều bất cập; nội dung, chương trình đào tạo cũng thường bị cắt xén; cơ sở
vật chất, trang thiết bị của đơn vị liên kết còn thiếu thốn, lạc hậu, không phù hợp,
… dẫn tới chất lượng đào tạo liên kết không bảo đảm.
Trong vòng 1 thập kỷ gần đây chúng ta đã chuyển dần từ mô hình giáo
dục đào tạo khép kín sang mô hình giáo dục mở với hệ thống tạo điều kiện
học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học, thực
hiện liên kết đào tạo giữa các nhà trường. Công tác quản lý giáo dục đào tạo
trong các trường cao đẳng, đại học cũng đã được đổi mới một bước để thích
ứng với mô hình và cơ chế mới. Những năm qua đã xuất hiện nhiều sự liên
kết trong quá trình đào tạo sinh viên giữa các trường tuy nhiên vẫn còn gặp
nhiều khó khăn, bất cập vì thiếu những nghiên cứu cơ bản về mặt lý luận
trong đó có cả lý luận về quản lý giáo dục đào tạo, các cơ sở đào tạo như:
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, Học viện quản lý giáo dục, Đại học Giáo
dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội….những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý
giáo dục, quản lý đào tạo ở các nhà trường đã thu hút hàng trăm học viên lựa
chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ. Những nghiên cứu đã dẫn ra ở trên đã có
những đóng góp nhất định về lý luận quản lý giáo dục đào tạo ở Việt Nam
phân tích một cách tương đối toàn diện có hệ thống thực trạng của sự liên kết
10
đào tạo giữa trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang với các trường Cao đẳng,
Đại học, các cơ sở giáo dục mà nhà trường liên kết. Đồng thời bước đầu đề
xuất và khảo nghiệm các biện pháp quản lý nhằm kết hợp chặt chẽ giữa đơn
vị chủ trì đào tạo và đơn vị phối hợp đào tạo để nâng cao hiệu quả hoạt động
quản lý liên kết đào tạo của nhà trường. Đề tài mong muốn đúc rút được
những kinh nghiệm để góp phần đề ra các biện pháp quản lý LKĐT một cách
đồng bộ, có tính khả thi cao, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và đáp
ứng được mục tiêu phát triển của nhà trường.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý liên kết đào tạo các
trường cao đẳng, đại học, từ đó đề xuất những biện pháp quản lý liên kết đào
tạo góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của trường Cao đẳng
Sư phạm Hà Giang
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận liên kết đào tạo, quản lý liên kết đào tạo, quản lý
liên kết đào tạo của trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang
Tìm hiểu và phân tích thực trạng liên kết đào tạo, quản lý liên kết đào
tạo của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang từ năm 2009 đến 2013.
Đề xuất biện pháp quản lý liên kết đào tạo của Trường Cao đẳng Sư
phạm Hà Giang với mục đích nâng cao chất lượng đào tạo.
Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý
hoạt động liên kết đào tạo.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Liên kết đào tạo của trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang
12
Phân tích, tổng hợp, đánh giá, nêu vấn đề, nghiên cứu các tài liệu lý
luận về khoa học quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, luật giáo dục, các văn
bản pháp quy, những quy định của ngành GD&ĐT, các quan điểm lý luận thể
hiện trong các văn kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ, nghiên cứu trên
sách, báo chí, các tài liệu chuyên môn liên quan đến nội dung đề tài.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát sư phạm
Thu thập thông tin qua việc quan sát các hoạt động quản lý của Ban
giám hiệu và hoạt động của các phòng chức năng, hoạt động dạy và học của
giáo viên và học viên.
Chủ yếu là thu thập, xử lý dữ liệu, tìm hiểu thực trạng. Các phương
pháp cơ bản: Phân tích, tổng hợp, đánh giá, nêu vấn đề và đề xuất những giải
pháp kết hợp với trao đổi, phỏng vấn, điều tra và thử nghiệm.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn.
Bước 1: Xây dựng phiếu điều tra
Bước 2: Tiến hành điều tra
Bước 3: Thu thập phiếu điều tra và sử lý số liệu
- Phương pháp thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu của đề tài.
7. Ý nghĩa của luận văn
Đề tài luận văn góp phần bổ sung cho lý luận quản lý liên kết đào tạo
của các trường ở nước ta hiện nay. Đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp
với thực tế và có tính khả thi góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở một số
trường cao đẳng. Những kết quả nghiên cứu còn là cơ sở và là tài liệu tham
khảo cho cán bộ quản lý, giảng viên đang làm công tác đào tạo.
8. Cấu trúc luận văn
từng tổ chức, thành phần tham gia liên kết như lợi ích kinh tế, lợi ích môi trường.
Các thành phần, tổ chức liên kết: Bao gồm các thành phần tổ chức độc
lập, có tư cách pháp nhân thuộc nhiều loại hình, tổ chức kinh tế - xã hội, giáo
dục - đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước…tham gia với những vai trò, vị trí
nhất định trong liên kết.
15
Các hình thức liên kết: Tùy theo mục đích và tính chất liên kết mà có
thể có theo hình thức tổ chức đào tạo các khóa đào tạo liên kết, thỏa thuận
phối hợp thực hiện các dự án nghiên cứu hay phát triển các sản phẩm dịch vụ,
các hợp đồng kinh tế trong hợp tác nghiên cứu, đào tạo và bồi dưỡng nhân
lực, nghiên cứu và sản xuất sản phẩm mới.
Các nội dung liên kết: Tùy thuộc vào mục đích đối tượng và hình thức
liên kết mà có các nội dung liên kết sẽ khác nhau bao gồm: Đầu tư, hỗ trợ tài
chính, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu KH&CN đến các hoạt động
sản xuất kinh doanh với vai trò, vị trí, trách nhiệm tham gia theo thỏa thuận
của các bên tham gia liên kết.
Cơ chế liên kết: Là cách thức tổ chức, quản lý và các nguyên tắc vận
hành các mối liên kết bảo đảm đạt được mục tiêu mong muốn và trách nhiệm,
quyền lợi, lợi ích của các bên tham gia liên kết. Trên thực tế có thể phối hợp
nhiều cơ chế khác nhau như cơ chế thị trường (theo quy luật cung cầu, giá trị,
giá cả…), cơ chế hợp tác, liên kết mở, liên kết toàn diện.
Sản phẩm liên kết: Là các sản phẩm được tạo ra của quá trình liên kết
như các sản phẩm hàng hóa - dịch vụ; Sản phẩm đào tạo (nhân lực KH&CN);
sản phẩm nghiên cứu khoa học - công nghệ (vật liệu mới, thiết bị, quy trình,
công nghệ mới…).
Môi trường và các điều kiện liên kết: Là tập hợp các nhân tố bên ngoài
(môi trường chính trị - xã hội, kinh tế văn hóa, các tổ chức khác,…) và môi
trường bên trong của mối liên kết giữa các đối tác (các quan hệ nội bộ, các
văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật của của đất nước trong
trào lưu phát triển của thời đại.
Quá trình đào tạo bắt đầu từ việc xây dựng mục tiêu đào tạo. Từ đó xác
định các nhiệm vụ cụ thể. Mục tiêu được xác định đúng và mọi người đều
được thấm nhuần, đều ý thức được nó thì mới đạt đến chất lượng và hiệu quả.
Ngoài các yếu tố khác như nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương
17
tiện, thiết bị thì đạo tạo cần có một môi trường thuận lợi ở cả hai phương diện
vi mô và vĩ mô.
Sự vận động và phát triển của quá trình đào tạo là kết quả của quá trình
tác động biện chứng giữa các nhân tố trên. Muốn nâng cao chất lượng đào tạo
phải nâng cao chất lượng của từng thành tố và đồng thời nâng cao chất lượng
tổng hợp của toàn hệ thống. Quản lý quá trình đào tạo trong quản lý giáo dục
dạy học và quản lý quá trình đào tạo.
Một cách tổng quát ta có thể hiểu quản lý giáo dục và đào tạo là hoạt
động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào
tạo người học theo yêu cầu phát triển của xã hội.
Cũng như hoạt động kinh tế - xã hội, quản lý đào tạo có 2 chức năng
tổng quát: Thứ nhất, đó là chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo, đáp
ứng nhu cầu của nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn trước mắt. Thứ hai là
chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu sự tiến bộ kinh tế - xã
hội. Từ 2 chức năng tổng quát trên, quản lý giáo dục và đào tạo phải quán
triệt, gắn bó với 4 chức năng:
Lập kế hoạch đào tạo: Đưa mọi hoạt động giáo dục và đào tạo vào kế
hoạch với mục tiêu, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể, ấn định tường minh các
điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.
Tổ chức đào tạo: Hình thành và phát triển quá trình đào tạo tương ứng
với mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Trong đào tạo: Liên kết là hình thức phối hợp, hỗ trợ, tạo sự gắn bó chặt
chẽ với nhau giữa các cơ sở đào tạo hoặc giữa các cơ sở đào tạo với các đối tác
khác nhằm thực hiện các chức năng, nhiệu vụ của cơ sở đào tạo. Năm 2008 Bộ
GD&ĐT nước ta đã ban hành Quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT về liên kết đào
tạo trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Tại văn bản này liên kết đào tạo
được hiểu là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào
tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học [3].
19
Liên kết đào tạo (LKĐT) là một mô hình trong giáo dục nhằm tạo cơ hội
học tập cho toàn xã hội. Nhờ cách làm này, nhiều người ở vùng sâu, vùng xa;
nhiều người bận làm việc, không có thời gian... cũng có cơ hội học tập lên cao.
Liên kết đào tạo không phải là một hình thức mới trong ngành giáo dục, nó đang
ngày càng phát triển do nhu cầu học tập của các cá nhân đang ngày càng cao, liên
kết đào tạo tạo cho các cá nhân tự nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp
vụ và cũng chính là phát triển các hình thức đào tạo, giáo dục từ xa, tiếp tục đa
dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình trường phù hợp với tình hình
mới, với nhu cầu học tập của tuổi trẻ và của toàn xã hội.
Hiện nay nhà nước ta đang tồn tại hai loại hình liên kết đào tạo đó là
liên kết đào tạo trong nước và liên kết đào tạo nước ngoài:
Liên kết đào tạo trong nước là loại hình liên kết đào tạo giữa các trường.
Chẳng hạn như một trường đại học có rất nhiều cơ sở liên kết ở nhiều vùng tỉnh
lẻ và vùng sâu vùng xa. Tham gia các chương trình liên kết này, học viên có thể
được học chương trình và nhận bằng do trường chủ trì đào tạo đó cấp.
Liên kết đào tạo với nước ngoài là một hình thức đang được đang
nhiều trường áp dụng. Hình thức liên kết giáo dục này không chỉ dành cho hệ
giáo dục đại học mà còn dành cho hệ giáo dục sau đại học. LKĐT nước ngoài
hiện đang được tổ chức đào tạo theo các hình thức: Thứ nhất là hình thức học
toàn bộ khóa học tại Việt Nam lấy bằng (hoặc chứng chỉ) của nước ngoài;
của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ
khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý.
Về số lượng các chức năng quản lý nói chung, những tác giả nghiên
cứu về quản lý có ý kiến không giống nhau. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả
đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo,
kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực
hiện chức năng quản lý.
Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự
án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các
22
chức năng khác. Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển
theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành
động của cả tổ chức.
Chức năng tổ chức: Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là cơ
cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân
nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan
hệ giữa chúng. Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con
người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động
nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ
phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá
kế hoạch thành hiện thực, tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng.
Chức năng chỉ đạo: Chức năng này đòi hỏi người quản lý phải vận
dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật quản lý. Đây là quá trình tác
động qua lại giũa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm giúp
phần thực hiện hoá các mục tiêu đề ra. Bản chất của chức năng chỉ đạo xét
cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy những tiềm năng của con
người trong hệ thống quản lý, thực hiện tốt mối liên hệ giữa con người với
con người và quá trình đó giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện,
Trong quản lý giáo dục, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước và
quản lý sự nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không
thể tách rời, tạo thành quản lý giáo dục thống nhất.
Quản lý giáo dục đòi hỏi những yều cầu cao về tính toàn diện, tính
thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển.
Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng.Quản lý giáo dục phải quán triệt
quan điểm quần chúng.
* Quản lý liên kết đào tạo
Là sự phối hợp quản lý giữa đơn vị chủ trì đào tạo và đơn vị phối hợp
đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đào tạo.
24
Quản lý liên kết đào tạo chính là quản lý các hoạt động sau:
Quản lý lý hoạt động giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác
theo mục tiêu chương trình giáo dục trên cơ sở quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân
viên và người học.
Quản lý môi trường sư phạm trong nhà trường và xây dựng nhà trường
thành hệ thống mở nhằm xã hội hóa và công khai hóa các hoạt động giáo dục,
đào tạo của nhà trường hướng vào mục tiêu đào tạo.
Nâng cao trách nhiệm và quyền hạn của các bên tham gia vào quá trình
liên kết, cải tiến nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm cụ thể
của thời điểm liên kết.
Đánh giá kết quả hoạt động giáo dục, đào tạo, tìm ra biện pháp tối ưu
để từng bước nâng cao kết quả đào tạo.
Quản lý cơ sở vật chất, và các nguồn lực tạo nên sự vận hành và phát
triển hoạt động liên kết đào tạo theo quy định.
Quản lý liên kết đào tạo là việc phối hợp giũa hai đơn vị chủ trì đào tạo
và phối hợp đào tạo cùng nhau quản lý. Với vai trò, nhiệm vụ là đơn vị chủ trì
đào tạo sẽ quản lý, xây dựng chỉ tiêu, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình
Quá trình quản lý liên kết đào tạo có sự kết hợp giữa đơn vị chủ trì đào tạo
là các trường tổ chức quá trình đào tạo bao gồm: Tuyển sinh, thực hiện chương
trình,đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, công nhận kết quả và cấp bằng tốt
nghiệp. Và đơn vị phối hợp đào tạo là chủ thể trực tiếp tham gia liên kết đào tạo
với vai trò hợp tác, hỗ trợ các điều kiện thực hiện liên kết đào tạo.
1.2. Đặc điểm, nhiệm vụ quản lý liên kết đào tạo của trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Giang
1.2.1. Đặc điểm liên kết đào tạo của trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang
Nhà trường thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội; huy động
tiềm năng của các trường nhằm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho địa
phương.
26
Tạo cơ hội học tập cho nhiều người trên cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu
quả giáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng và xã hội hoá giáo dục.
Khoảng cách địa lý giũa nhà trường, các đơn vị liên kết, nơi học viên sinh
sống và làm việc xa, giao thông khó khăn, học viên đa dạng về dân tộc, thời gian
học chủ yếu vào dịp hè, số lượng sinh viên/ lóp đông, giáo trình thư viện thiếu;
học tập trung theo định kỳ: 2 tháng/kỳ; 2 kỳ /năm.
Kế hoạch phụ thuộc hoàn toàn vào đơn vị chủ trì đào tạo, là trường sư
phạm nhưng có liên kết đào tạo các ngành kỹ thuật, kinh tế, tài chính; một số
ngành trong một lớp học viên không đồng đều về trình độ ( THPT, TCCN, CĐ...)
Học viên đi học phần lớn là do cơ quan đơn vị xét, cử đi học không xuất
phát từ nhu cầu thực tiễn cá nhân. Một số ngành liên kết, trường liên kết do các sở,
ban ngành xây dựng đề án, đơn vị cấp trên chỉ định, giao nhiệm vụ liên kết đào
tạo, tuyển sinh đầu vào thiếu sự cạnh tranh, chọn lựa.
Trong liên kết đào tạo nhà trường thực hiện đúng các điều kiện thực
hiện liên kết đào tạo (trích điều 7, chương 1 - quyết định về liên kết đào tạo
ngày 23/08/2008 của Bộ trưởng bộ GD - ĐT)
Rèn luyện cho người học có kỹ năng làm việc độc lập với tài liệu, kỹ
năng phân tích, tổng hợp vấn đề, kỹ năng làm việc theo nhóm thông qua trao
đổi, thảo luận - kỹ năng hợp tác ... Đây cũng là những kỹ năng sống quan
trọng giúp người học vừa tự tin vào năng lực của bản thân, vừa tăng khả năng
hoà nhập với cộng đồng.
Bất cứ mối liên kết đào tạo nào cũng cần thiết phải tổ chức bộ máy
quản lý chặt chẽ đáp ứng được yêu cầu của đào tạo. Vì vậy liên kết đào tạo
phải đáp ứng được các nội dung cơ bản. Việc phối hợp phải đồng bộ, thống
nhất, bình đẳng, trên cơ sở hợp đồng liên kết đào tạo. Công tác đào tạo là một
quá trình, diễn ra trong một quy trình và qua nhiều giai đoạn, vì vậy giữa đơn
vị chủ trì đào tạo và đơn vị phối hợp đào tạo phải liên kết chặt chẽ, đồng bộ,
thống nhất, phân công trách nhiệm rõ ràng qua các khâu và được thể hiện