LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý QUÁ TRÌNH đào tạo ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG y tế hà ĐÔNG HIỆN NAY - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO
TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.1. Các khái niệm cơ bản
Nội dung quản lý quá trình đào tạo ở trường cao
1.2.
đẳng
1.3. Các nhân tố tác động đến quản lý quá trình đào tạo
ở trường cao đẳng

Trang
3
15
15
25

31

Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO
TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ ĐÔNG

2.1. Thực trạng quá trình đào tạo ở Trường Cao đẳng Y
tế Hà Đông
2.2. Thực trạng và nguyên nhân thực trạng quản lý quá
trình đào tạo ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông

38
38


Trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, quá trình quốc tế hoá sản
xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và phân công lao động diễn ra ngày càng
sâu rộng, chất lượng nguồn nhân lực được coi là yếu tố quyết định thắng lợi
trong cạnh tranh phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Vì vậy, chú trọng phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là chìa khoá để phát triển kinh tế.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Phát
triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao là một đột phá chiến lược” và coi đó là khâu quan trọng để tạo ra
nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong Chiến lược Phát triển kinh tế đất nước, việc nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực đã thực sự trở thành nhiệm vụ then chốt. Chiến lược Phát triển kinh
tế, xã hội giai đoạn 2011-2020 của Đảng đã xác định: “Đào tạo nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của
các lĩnh vực, ngành nghề. Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp,
cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân
lực theo nhu cầu xã hội”.
Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng
nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn về các chuyên
ngành Y - Dược theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo, mở rộng và
tăng quy mô một cách hợp lý nhằm phục vụ chiến lược chăm sóc sức khỏe
nhân dân Thủ đô và cả nước trong tình hình mới. Tuy nhiên, công tác đào tạo
của nhà trường trong những năm qua còn tồn tại một số vấn đề như quá trình
quản lý đào tạo chưa đồng bộ từ mục tiêu, nội dung chương trình, đội ngũ giáo
viên, phương pháp đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế, chất lượng đào
tạo chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực y tế chất
lượng cao cho Thủ đô và cả nước. Thực tiễn đó, đòi hỏi phải nghiên cứu, tìm

3



thời ."Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh
vv... đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản" .
Trong chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX-05-09 đề tài
đề cập đến nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. PGS, TS Nguyễn Văn Lê cho rằng: "Nghiên cứu giáo
dục nghề nghiệp là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước là vấn đề có ý nghĩa chiến lược". Cũng trong đề
tài khoa học này, GS, TS Nguyễn Quang Uẩn đã nêu: "Phát triển con người
thực chất là mở rộng và phát huy những tiềm năng, năng lực của con người
trong hoạt động, đó là quá trình gia tăng gía trị cho con người, giá trị tinh
thần, trí tuệ, giá trị đạo đức, giá trị thể chất, vật chất, hay nói khác đi là quá
trình phát triển trí tuệ, đạo đức nhân cách và tay nghề...”.
Các tác giả Trần Kiểm, Bùi Minh Hiền trong giáo trình “Quản lý và lãnh
đạo nhà trường” nghiên cứu về nhà trường và quản lý lãnh đạo nhà trường.
Tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức “Lý luận dạy học Đại học”, đã
cung cấp lý luận quá trình dạy học, tính quy luật của quá trình dạy và học và
hệ thống nguyên tắc dạy học, các phương pháp dạy học làm cơ sở nghiên cứu
về các hoạt động dạy học.
Đề tài nghiên cứu. “Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thức tổ chức đào tạo
nghề kết hợp tại trường và tại cơ sở sản xuất.
Đề tài nghiên cứu khoa học: “Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng
lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội”.
Một số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí của các nhà nghiên cứu
giáo dục như GS, TSKH Nguyễn Minh Đường, PGS, TS Nguyễn Viết Sự, GS
Vũ Văn Tảo, các nhà quản lý giáo dục.
Hồ Văn Vĩnh trong giáo trình “Khoa học quản lý”, tác giả Trần Quốc
Thành trong giáo trình “Khoa học quản lý đại cương”
6



người hoạch định chính sách, quản lý đất nước. Với cách tiếp cận đó, tác giả
đã coi vấn đề phát triển nguồn nhân lực thực chất là ngày càng làm tốt hơn
việc giải phóng con người. Điều này đòi hỏi cùng một lúc đặt ra hai yêu cầu:
tập trung trí tuệ và nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực và thường xuyên
đổi mới, cải thiện môi trường chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ gìn môi
trường tự nhiên của quốc gia.
Bài “Chất lượng nguồn nhân lực - điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế
đất nước” của tác giả Nguyễn Minh Phong, Viện nghiên cứu phát triển
kinh tế xã hội Hà Nội, Theo tác giả, người dân Việt Nam có tiềm năng trí tuệ
và sáng tạo khá cao, cần cù, yêu lao động, dễ thích nghi với các điều kiện lao
động khác nhau; tài nguyên thiên nhiên Việt Nam khá phong phú, song nền
kinh tế lại đang ở trình độ phát triển thấp; số người đi học ngày càng tăng, song
tình trạng người lao động không đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp
và lượng sinh viên đã tốt nghiệp các trường đại học chưa tìm được việc làm
còn nhiều… Trước đòi hỏi đó, nền giáo dục Việt Nam cần chuyển từ đào tạo
dựa theo khả năng sẵn có của mình sang đào tạo theo nhu cầu và đáp ứng nhu
cầu xã hội, gắn quá trình hình thành và phát triển thương hiệu của mình với
chất lượng thực tế của các sinh viên - sản phẩm “đầu ra” sẽ là chuyển biến
quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay. Tác giả đưa ra các giải pháp: xây
dựng chiến lược phát triển GD&ĐT trên cơ sở điều tra, khảo sát toàn diện,
khách quan, đánh giá chính xác chất lượng đội ngũ lao động; làm tốt công tác
dự báo nhu cầu lao động theo ngành nghề, cấp, trình độ ở từng vùng, khu vực
cũng như trên phạm vi cả nước; dự báo xu hướng phát triển thị trường lao động
và nền kinh tế để xây dựng, hoàn thiện chiến lược GD&ĐT; đa dạng hoá các
hình thức và cấp độ đào tạo, các nội dung đào tạo phải cập nhật các tiến bộ
khoa học kỹ thuật hiện đại; gắn kết nội dung đào tạo với yêu cầu của thị
trường, nhất là thị trường quốc tế.
8



đơn vị được phép đào tạo quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ từ việc
tuyển sinh, lựa chọn chương trình đào tạo cho đến cấp bằng”.
Tác giả Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết đăng trên kỷ yếu hội thảo “Giáo
dục đại học Việt Nam hội nhập quốc tế” do Đại học Quốc gia thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức tháng 11 năm 2012 đã chỉ ra những cơ hội của giáo dục đại
học Việt Nam khi bước vào hội nhập quốc tế là “được tiếp cận với hệ thống
các tri thức khoa học mới, tiên tiến nhất của thế giới, được cập nhật và học hỏi
các nội dung đào tạo tiên tiến của các trường khác ở nước ngoài, khả năng
liên kết với các trường khác ở nước ngoài, khả năng liên kết với các trường đại
học quốc tế danh tiếng về nến học thuật, nghiên cứu, được nhận sự viện trợ, tài
trợ cho giáo dục đại học Việt Nam”. Tuy nhiên bên cạnh đó ông cũng chỉ ra
những thách thức, khó khăn trong tiến trình hội nhập quốc tế: Khi thay đổi tư
duy kinh tế trong giáo dục theo cơ chế thị trường có nguy cơ ảnh hưởng đến
việc bảo tồn và duy trì các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống, sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt trong thị trường giáo dục khi ngày càng có nhiều trường với
nhiều loại hình đào tạo, nhiều ngành nghề và cơ chế chính sách cho người học
giữa hai hệ thống công lập và tư thục, tín chỉ được thực hiện ở Việt Nam vẫn
chưa hoàn toàn được như thế giới, tính liên thông, liên kết ngang - dọc vẫn còn
rất nhiều hạn chế, năng lực nghiên cứu khoa học và sử dụng thành thạo các kỹ
năng ngoại ngữ của cán bộ - giảng viên để có thể hội nhập được với nền khoa
học của khu vực và thế giới là thấp...
Theo tác giả Lê Xuân Tề trong bài viết “Trường Đại học Kinh tế Công
nghiệp Long An nâng cao chất lượng đào tạo” được đăng trong kỷ yếu hội
thảo Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học và cao đẳng Việt
Nam do Ban Liên lạc các trường đại học Việt Nam tổ chức cho rằng có 6 yếu
tố quyết định đến chất lượng đào tạo đó là chương trình đào tạo, đội ngũ cán
bộ giảng dạy, chất lượng giáo trình và sách giáo khoa; phương pháp giảng
dạy; liên kết trong đào tạo và cơ sở vật chất.
10



* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý quá trình đào tạo ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung nghiên cứu: đề tài giới hạn trong nghiên cứu quản
lý quá trình đào tạo ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông.
Phạm vi về thời gian: đề tài nghiên cứu các báo cáo tổng kết, các sản phẩm
của quá trình đào tạo ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông, từ năm 2012 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý quá trình đào tạo ở Trường Cao Đẳng Y tế Hà Đông là chức
năng, nhiệm vụ của các chủ thể quản lý, đứng đầu là Hiệu trưởng. Nếu Hiệu
trưởng và các chủ thể quản lý thực hiện tốt các biện pháp như: Tổ chức giáo
dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các lực lượng tham gia vào quá
trình đào tạo; chỉ đạo xây dựng và thực hiện tốt mục tiêu, nội dung chương
trình, phương pháp và hình thức đào tạo; xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên
đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng và hợp lý về cơ cấu; bảo đảm cơ sở vật
chất, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho quá trình đào tạo; tổ chức tốt việc đánh
giá hoạt động học tập của sinh viên,... thì sẽ quản lý được quá trình đào tạo của
nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng nguồn lực y tế cho Thủ đô và cả
nước hiện nay.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo, quản lý giáo dục; trực tiếp là
các quan điểm tư tưởng về phát triển, quản lý, đổi mới quá trình đào tạo cao
đẳng và dạy nghề. Đồng thời luận văn vận dụng các quan điểm phương pháp
luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học giáo dục như quan
12



- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đúc rút những kết kinh nghiệm thực
tiễn về vấn đề quản lý quá trình đào tạo ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông.
- Phương pháp khảo nghiệm: Tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã
đề xuất để khẳng định tính tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đó.
Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm Excel tính tỷ lệ phần trăm, trị số trung bình, độ
tương quan của các câu hỏi cũng như giữa các đối tượng tham gia khảo sát.
7. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài có ý nghĩa to lớn thiết thực trong quản lý quá trình đào tạo của
Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông hiện nay. Góp phần hệ thống hóa những vấn
đề lý luận về quản lý quá trình đào tạo và là tài liệu tham khảo trong quá trình
giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học ở Trường Cao đẳng Y tế Hà
Đông.Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo giúp các nhà quản lý ở các
trường cao đẳng y tế tham khảo, áp dụng.
8. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu
tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương (7 tiết).

14


Chương 1
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG

1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Đào tạo và quá trình đào tạo
Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng “Đào tạo là quá trình hoạt động
có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống có tri thức, kỹ

động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên là yếu tố trung tâm,
năng động nhất, trong đó giảng viên đóng vai trò điều khiển, chỉ đạo, hướng
dẫn sinh viên tự giác, tích cực, chủ động trong chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng
nghề nghiệp thông qua tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình,
nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu đào tạo nghề đã được xác định.
Mục tiêu của quá trình đào tạo:
Là kết quả dự kiến trước của quá trình chuẩn bị con người cho các lĩnh
vực hoạt động xã hội; đó là bộ phận trong mô hình nhân cách của con người
phát triển toàn diện, được phác thảo mô hình hoá thành những yêu cầu xác
định về phẩm chất và năng lực cần phải đạt được sau thời gian dạy học, giáo
duc trong nhà trường.
Cấu trúc của mục tiêu quá trình đào tạo trong nhà trường, bao gồm
nhiều mục tiêu (hệ thống đa cấp), có ý nghĩa quan trọng hàng đầu xuyên suốt
quá trình đào tạo; nó là phương hướng cơ bản cho các chủ thể, các lực lượng
tham gia vào quá trình này, là căn cứ qui định phương hướng, xác định nội
dung, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức và là thước đo để đánh giá kết
quả của quá trình đào tạo trong nhà trường.
Chủ thể và đối tượng của quá trình đào tạo:
Chủ thể của quá trình đào tạo trong nhà trường là nhà giáo dục (hoạt
động truyền thụ). Nhà giáo dục là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục
16


và các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường. Nhà giáo dục có vai trò là chủ thể
năng động nhất của quá trình sư phạm, chi phối, thúc đẩy các nhân tố khác.
Hoạt động chủ yếu là truyền thụ và tổ chức hoạt động lĩnh hội cho đối tượng
giáo dục.
Đối tượng của quá trình đào tạo trong nhà trường, là học sinh, sinh
viên. Họ có vai trò vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình đào tạo. Đối
tượng giáo dục tự tổ chức các hoạt động lĩnh hội của bản thân theo yêu cầu

Bức tranh chung về cấu trúc của quá trình đào tạo trong nhà trường cho
phép tiếp cận rõ hơn vị trí, chức năng cũng như mối liên hệ tác động qua lại
giữa các nhân tố, các quá trình bộ phận quy định xu hướng vận động, phát
triển của quá trình này. Muốn nâng cao hiệu quả quá trình đào tạo trong nhà
trường phải chú trọng đổi mới cải tiến, hoàn thiện, nâng cao đồng bộ các nhân
tố của nó.
1.1.2. Quản lý quá trình đào tạo
Theo Các-Mác: Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình nhưng một
giàn nhạc phải được điều khiển bởi nhạc trưởng”. F.W. Taylor (Mỹ, 18561915) được đánh giá là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã đưa ra định
nghĩa: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó
khiến họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. H.Fayol (Pháp,
1841-1925) nói về nội hàm của khái niệm như sau: “Quản lý tức là lập kế
hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Peter Druker quan niệm
“Quản lý là một chức năng xã hội nhằm để phát triển con người và xã hội với
những hệ giá trị, nội dung, phương pháp biến đổi không ngừng.
Theo tác giả Trần Kiểm viết: “Quản lý là những tác động của chủ thể
quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối
các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là
nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
18


và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể ngườithành viên của hệ-nhằm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến”.
Từ những định nghĩa nêu trên có thể hiểu quản lý là một quá trình
mang tính xã hội. Dù được tiếp cận theo bất kỳ cách nào, quản lý cũng mang
một số đặc trưng cơ bản như: Quản lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi
quá trình xã hội; Quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã
hội; Quản lý, xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin; Quản lý bao
giờ cũng là những tác động có hướng đích, là những tác động phối hợp nổ lực
của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức; Yếu tố con người, trong đó,

và quản lý các phân hệ của nó, trong đó đặc biệt là quản lý trường học.
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của bộ máy quản lý giáo
dục đến hoạt động giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt kết quả mong
đợi, quan hệ căn bản của hoạt động quản lý giáo dục là quan hệ giữa của
người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục. Các
mối quan hệ khác biểu hiện trong mối quan hệ giữa các cấp bậc quản lý,
giữa người dạy với người họ, giữa con người với cơ sở vật chất và điều kiện
phục vụ cho quá trình giáo dục. Có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ
quản lý giáo dục
Tác giả Đặng Quốc Bảo viết: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan
là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục
thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi
người. Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục
quốc dân”.
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục,
có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục đào tạo
20


nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các
cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong
điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến
động” và phân ra hai cấp độ của quản lý giáo dục.
Nội dung quản lý giáo dục thực chất là quản lý quá trình giáo dục và
đào tạo, quản lý hoạt động của người dạy, người học và quản lý các cơ sở
giáo dục và đào tạo, quản lý việc thực hiện kế hoạch, chương trình đào tạo
nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra của từng cơ sở đào tạo.
Quản lý đào tạo có thể được định nghĩa như bất kỳ công việc quản lý
nào trong quá trình đào tạo. Quản lý đào tạo là hoạt động điều hành, phối hợp

mục tiêu quản lý.
Đối với trường cao đẳng, trung cấp và dạy nghề, quản lý quá trình đào
tạo là nội dung quan trọng, bảo đảm cho sản phẩm đào tạo ra đáp ứng được
mục tiêu, yêu cầu đào tạo; phù hợp nhu cầu, đòi hỏi của xã hội. Dưới góc độ
nghiên cứu khoa học giáo dục; quản lý quá trình đào tạo là thiết kế các tiêu
chuẩn và duy trì các cơ chế bảo đảm chất lượng để sản phẩm giáo dục đạt
được các tiêu chuẩn nhất định.
Quản lý quá trình đào tạo là thuật ngữ được sử dụng để miêu tả các thủ
pháp hoặc các quy trình được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá xem các sản
phẩm giáo dục có bảo đảm được các thông số chất lượng theo mục đích, yêu
cầu đã được định sẵn hay không.
Quản lý quá trình đào tạo ở trường là một trong những vấn đề cụ
thể của quản lý giáo dục trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề; đó là
hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ
thể quản lý nhằm làm cho hệ thống đào tạo, vận hành theo đúng đường
lối, chủ trương và thực hiện những yêu cầu của xã hội để đáp ứng sự phát
triển kinh tế - xã hội. Quản lý quá trình đào tạo ở trường cao đẳng bao
22


gồm nhiều nội dung, trong đó có nội dung quan trọng là quản lý chất
lượng đào tạo.
Quá trình đào tạo vận động và phát triển là do các nhân tố cấu thành của
nó vận động và tương tác với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của quá trình, góp
phần thực hiện mục đích giáo dục nói chung. Vì vậy, quản lý quá trình đào tạo
vừa phải làm sao cho mỗi nhân tố có được lực tác động đủ mạnh, lại vừa đảm
bảo sự vận động nhịp nhàng, hài hoà và thống nhất của toàn bộ quá trình,
không được để nhân tố nào vận động yếu làm ảnh hưởng đến sự phát triển
chung của quá trình. Điều này đòi hỏi người quản lý phải có nghệ thuật, vận
dụng linh hoạt các biện pháp quản lý mới đạt được mục tiêu đề ra.

quản lý quá trình dạy học, cùng với các nhân tố khác sẽ là động lực trực tiếp
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
Đối tượng quản lý: là toàn bộ các bộ phận cấu thành quá trình đào tạo
và các nguồn lực trong nhà trường. Các tập thể sư phạm và học sinh (sinh
viên) vừa là khách thể (đối tượng) bị quản lý vừa là chủ thể trong quá trình tổ
chức tự quản lý quá trình đào tạo của mình.
Nội dung quản lý quá trình đào tạo: thực chất là quản lý các yếu tố
theo một trình tự, quy trình vừa khoa học, vừa phù hợp với thực tế của
trường cao đẳng, đem lại hiệu quả trong công tác đào tạo. Các yếu tố đó là:
mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; phương pháp đào tạo; hình thức tổ chức
đào tạo; hoạt động dạy học - giáo dục (chủ thể là giảng viên); hoạt động học
tập (chủ thể là người học); cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đào tạo;
môi trường đào tạo; tổ chức thực hiện Quy chế đào tạo trong kiểm tra, đánh
giá; tổ chức bộ máy đào tạo.
Phương pháp quản lý: bao gồm toàn bộ những cách thức, biện pháp tác
động, điều khiển của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng hệ thống
công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã xác định. Hệ thống
24


công cụ quản lý gồm: các chỉ thị, nghị quyết của các tổ chức đảng; pháp luật
của Nhà nước; quy chế giáo dục đào tạo của nhà trường và chương trình, kế
hoạch dạy học - giáo dục. Sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp quản lý, song
cần tập trung vào ba phương pháp chủ yếu, đó là: Phương pháp hành chính;
phương pháp giáo dục - tâm lý và phương pháp kích thích…
Mối quan hệ các yếu tố: các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ và có
tác động qua lại lẫn nhau. Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý quá trình
đào tạo cần tiến hành các bước theo quy trình như quản lý giáo dục: kế hoạch
hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá
Trong quản lý quá trình đào tạo, các yếu tố trên luôn luôn vận động và

cho các chủ thể. Mặt khác, phải phát huy tốt vai trò của hệ thống cán bộ
quản lý của nhà trường trong tổ chức và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện
mục tiêu quản lý quá trình đào tạo.
1.2.2. Quản lý nội dung, chương trình đào tạo ở trường cao đẳng
Thông qua công tác điều tra khảo sát nhu cầu việc làm, kiến thức
chuyên môn, tay nghề phù hợp với sự phát triển của ngành nghề và yêu cầu
của đất nước và các nước trong khu vực. Cùng với sự tiếp thu của học sinhsinh viên để có nội dung chương trình cho phù hợp. Hàng năm có sự điều
chỉnh, chỉnh sửa nội dung chương trình đào tạo.
Nội dung, chương trình đào tạo là những yêu cầu đặt ra để mang lại cho
người học có được những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp
cần thiết theo đúng mục tiêu đào tạo.
Nội dung đào tạo chính là cơ sở cho kế hoạch giảng dạy và chương
trình môn học, chương trình các hệ khác nhau gồm: kế hoạch dạy toàn khóa
học, tiến độ dạy trong năm học, từng học kỳ... đó là hệ thống văn bản pháp
quy để hiệu trưởng chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác dạy và công tác học
tập của học sinh trong nhà trường.
26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status