Luận văn đánh giá giá trị giải trí và giá trị phi sử dụng của vườn quốc gia ba bể bắc kạn - Pdf 43

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................................1
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ VÀ GIÁ TRỊ PHI SỬ
DỤNG CỦA MỘT VƯỜN QUỐC GIA ............................................................................4
1.1. Vườn Quốc gia và Tổng giá trị kinh tế của Vườn Quốc gia.................................................................... 4

1.1.1.Vườn Quốc gia và sự cần thiết đánh giá giá trị của VQG ................................. 4
1.1.2. Tổng giá trị kinh tế của0 một Vườn Quốc gia ................................................... 6
1.1.3. Phương pháp định giá giá trị của một VQG ................................................... 10
1.2. Phương pháp chi phí du lịch định giá giá trị giải trí của VQG............................................................11

1.2.1. Phương pháp chi phí du lịch (TCM - Travel Cost Method)............................ 11
1.2.2. Mô hình lý thuyết hàm chi phí du lịch .............................................................. 12
1.2.3. Một số phương pháp tiếp cận chi phí du lịch................................................... 14
1.2.4. Tổng quan các nghiên cứu sử dụng phương pháp chi phí du lịch để đánh giá
giá trị cảnh quan ......................................................................................................... 19
1.2.5. Một số ưu điểm hạn chế của phương pháp chi phí du lịch ............................. 21
1.3. Phương pháp định giá ngẫu nhiên trong định giá giá trị phi sử dụng........................................................22

1.3.1. Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) 22
1.3.2. Mô hình lý thuyết về định giá ngẫu nhiên ........................................................ 24
1.3.3. Các bước tiến hành định giá ngẫu nhiên ......................................................... 26
1.3.4. Tổng quan các nghiên cứu sử dụng CVM đo lường giá trị phi sử dụng của
môi trường................................................................................................................... 28
1.3.5. Một số ưu điểm và hạn chế của phương pháp định giá ngẫu nhiên ............... 31
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ - BẮC KẠN............................... 33
2.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển VQG Ba Bể .....................................................................................33
2.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội .....................................................................................................................35

2.2.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................................. 35
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .................................................................................. 37

3.3. Đánh giá giá trị phi sử dụng VQG Ba Bể bằng phương pháp CVM .........................................................79

3.3.1. Mô hình đánh giá .............................................................................................. 79
3.3.2.Thiết lập thị trường giả tưởng ........................................................................... 80
3.3.3. Thu nhận thông tin về mức sẵn lòng chi trả..................................................... 81
3.3.4. Phân tích các yếu tố tác động đến sự bằng lòng chi trả.................................. 84
3.3.5. Lượng giá giá trị phi sử dụng VQG Ba Bể ...................................................... 89
3.4. Kết luận rút ra từ nghiên cứu và một số đề xuất ..............................................................................................90
KẾT LUẬN ..................................................................................................................................94
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................................... 95
PHỤ LỤC 1 ..................................................................................................................................97


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BV

GIÁ TRỊ LƯU TRUYỀN

BỘ NN&PTNT

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

CVM

PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ NGẪU NHIÊN

DLST

DU LỊCH SINH THÁI


THU NHẬP BÌNH QUÂN

UV

GIÁ TRỊ SỬ DỤNG

VQG

VƯỜN QUỐC GIA

WTA

BẰNG LÒNG CHẤP NHẬN

WTP

BẰNG LÒNG CHI TRẢ


DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÊN BẢNG

TRANG

Bảng 1.1: Giá trị tồn tại và giá trị để lại của một số VQG

29

Bảng 2.1: Thu nhập của dân cư vùng hồ Ba Bể


Bảng 3.6: Phương tiện du khách sử dụng đến VQG

70

Bảng 3.7: Chi phí đi lại của du khách

71

Bảng 3.8: Chi phí thời gian của du khách

73

Bảng 3.9: Chi phí ăn ở của du khách tại Ba Bể

75

Bảng 3.10: Tổng hợp chi phí của du khách theo các vùng

76

Bảng 3.11: Lợi ích giải trí của du khách từ các vùng đến Ba Bể

79

Bảng 3.12: Tỷ lệ du khách sẵn sàng chi trả cho bảo tồn

82

Bảng 3.13: Mục đích chi trả của du khách

Hình 1.1: Tổng giá trị kinh tế của môi trường

11

Hình 1.2: Đường cầu du lịch

17

Hình 1.3: Đường cầu du lịch trong trường hợp chất lượng môi

19

trường thay đổi
Hình 3.1: Các hoạt động chính của du khách tại VQG

63

Hình 3.2: Một số điểm du khách chưa hài lòng

63

Hình 3.3: Bản đồ phân vùng điểm xuất phát của du khách

67

Hình 3.4: Đường cầu giải trí

78



phương pháp chi phí du lịch và xác định giá trị phi sử dụng bằng phương pháp định giá
ngẫu nhiên. Đây là những giá trị phi thị trường mà việc bảo tồn VQG có thể mang lại
cho thế hệ hiện tại và tương lai. Từ trước tới nay người ta đều nhận thức được các giá
trị vô hình này song việc lượng giá chúng không dễ dàng, mặc dù theo một số nghiên
cứu ngoài nước thì chỉ riêng giá trị phi sử dụng đã chiếm khoảng 35 -70% giá trị của tài
sản môi trường.
Mặt khác, với giá trị cảnh quan, đã có nhiều nghiên cứu đánh giá ở trong và
ngoài nước nhưng với giá trị chưa sử dụng có thể đây là một nghiên cứu đầu tiên ở
Việt Nam. Do đó, đề tài mong muốn xây dựng một phương pháp xác định giá trị
chưa sử dụng có thể tham khảo khi thực hiện xác định giá rừng ở nước ta.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá giá trị cảnh quan và giá trị chưa
sử dụng của Vườn Quốc gia Ba Bể thông qua làm rõ các vấn đề sau:
- Sử dụng phương pháp chi phí du lịch theo vùng ước tính chi phí của du
khách đến Ba Bể, từ đó xây dựng hàm cầu và xác định giá trị cảnh quan của khu du
lịch Ba Bể.
- Đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch, sự hài lòng của du khách và đề xuất
mức phí vào cổng của VQG Ba Bể.
- Sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên để xác định sự bằng lòng chi trả
(WTP) của du khách cho hoạt động bảo tồn của VQG. Sử dụng mô hình kinh tế
lượng phân tích các yếu tố tác động đến WTP.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm kết hợp hài hoà giữa hoạt động du lịch và
hoạt động bảo tồn.


3. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Về khoa học, đề tài thực hiện đánh giá giá trị giải trí và giá trị chưa sử dụng
của VQG dựa trên lý thuyết của kinh tế học môi trường.
Về địa điểm nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại khu vực VQG Ba Bể.
Về thời gian, đề tài tiến hành điều tra thu thập số liệu bằng bảng hỏi đối với

3- Là khu vực có điều kiện về giao thông tương đối thuận lợi.
Hiện nay, Việt Nam đã thành lập 28 VQG phân bố ở cả ba miền, được quản
lý bảo vệ theo quy chế quản lý rừng đặc dụng. Việc quản lý VQG được phân cấp
giao cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong trường hợp VQG nằm trên
địa bàn của nhiều Tỉnh, còn lại giao cho Ủy ban nhân dân Tỉnh quản lý nếu VQG
nằm trên địa bàn một địa phương.
Mỗi VQG đều được thành lập một ban quản lý. Ban quản lý là chủ rừng,
được giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chịu trách
nhiệm quản lý, bảo vệ và xây dựng khu rừng được giao.
Do tầm quan trọng của bảo tồn mà Vườn Quốc gia được chia thành các phân
khu chức năng như sau:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: là khu vực được bảo toàn nguyên vẹn, được
quản lý bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên; nghiêm cấm mọi hành vi


làm thay đổi cảnh quan tự nhiên của khu rừng. Đây là những khu vực có rừng
nguyên sinh, có tính đa dạng sinh học cao được bảo vệ nghiêm ngặt.
- Phân khu phục hồi sinh thái : Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để
rừng phục hồi, tái sinh tự nhiên; nghiêm cấm việc du nhập những loài động vật,
thực vật không có nguồn gốc tại khu rừng. Thông thường đây là khu vực đang được
khoanh nuôi để rừng tái sinh tự nhiên.
- Phân khu dịch vụ - hành chính : Là khu vực để xây dựng các công trình
làm việc và sinh hoạt của Ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ
du lịch, vui chơi giải trí.
Đồng thời, để ngăn chặn những tác động xấu, Vườn Quốc gia phải thiết lập
vùng đệm. Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát
ranh giới với các Vườn Quốc gia; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm
phạm khu rừng đặc dụng. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ
trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; cấm săn bắn, bẫy
bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ.

gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng từ đó nâng cao nhận thức về môi trường của
cộng đồng và đưa ra những chỉ dẫn trong quá trình ra quyết định kinh tế của VQG.
1.1.2. Tổng giá trị kinh tế của một Vườn Quốc gia
Vườn Quốc gia là một tài sản môi trường nên tổng giá trị kinh tế của một
VQG về nguyên tắc có thể xem xét thông qua các thành phần giá trị của một tài sản
môi trường.
Các nhà kinh tế học đã rất thành công khi phân loại giá trị kinh tế của một tài
sản môi trường. Mặc dù thuật ngữ có thể chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng
phương pháp luận này đặt cơ sở cho việc giải thích về sự hình thành của giá trị trên
cơ sở sự tương tác giữa chủ thể con người - người định ra giá trị và khách thể - vật
được đánh giá. Về tổng quan, để đo lường tổng giá trị kinh tế của một tài sản môi
trường nói chung và một VQG nói riêng, các nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc
phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng.
Giá trị sử dụng là những lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn tài nguyên
trên thực tế. Đôi khi cũng có thể hiểu giá trị sử dụng là giá trị các cá nhân gắn với


việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên
cung cấp. Ví dụ, đối với một VQG hay một khu rừng, con người có thể thu được lợi
ích từ gỗ làm nhà, củi đốt; dùng cây cỏ làm thuốc; đi dạo trong rừng, ngắm nhìn các
loài động thực vật hoặc chiêm ngưỡng cảnh đẹp.
Giá trị sử dụng hình thành từ việc thực sự sử dụng tài sản môi trường, trên
thực tế nó bao gồm:
Giá trị sử dụng trực tiếp là các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trực tiếp cung
cấp mà chúng ta có thể tính được giá cả và khối lượng trên thị trường.
Một quan điểm khác cho rằng giá trị sử dụng trực tiếp là các lợi ích nhận
được từ việc sử dụng trực tiếp tài sản và có thể được chia thành hai loại là sử dụng
tiêu hao và không tiêu hao. Chẳng hạn, giá trị sử dụng trực tiếp của rừng gồm giá trị
sử dụng tiêu hao như sản xuất gỗ, thực phẩm và các lâm sản ngoài gỗ khác; giá trị
sử dụng không tiêu hao bao gồm các hoạt động giải trí và các hình thái du lịch thậm

Chẳng hạn, người dân sống tại vùng cát Quảng Bình hiểu rằng cuộc sống của họ và
con cháu họ trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào rừng phòng hộ chắn cát bay.
Họ sẵn sàng đóng góp tiền bạc và công sức để duy trì rừng vì lợi ích của họ và con
cháu họ. Trong trường hợp này, mức sẵn sàng đóng góp của họ được xem là giá trị
để lại, giá trị lưu truyền cho thế hệ sau.
Giá trị tồn tại (Existence value) là giá trị của tài sản môi trường có được từ
nhận thức rằng tài sản đó còn tồn tại. Xét về tổng thể, xã hội cũng nhận được các lợi
ích từ hàng hoá môi trường ngoài sự hữu dụng liên quan tới việc sử dụng trực tiếp
hay gián tiếp. Sự tiêu dùng không có một hàng hoá cụ thể nhưng rõ ràng các cá
nhân cảm thấy hài lòng khi biết một nguồn tài nguyên nào đó vẫn còn tồn tại. Rất
khó giải thích tại sao xã hội lại đánh giá các lợi ích này. Tuy nhiên, chúng ta biết
rằng xã hội nói chung sẵn lòng chi trả để bảo tồn các tài sản này. Trong các trường
hợp như vậy lợi ích cho xã hội đơn giản từ việc biết rằng các tài sản này đang tồn
tại và đang được bảo vệ. Thành phần này của tổng giá trị được biết đến như giá trị
tồn tại.
Như vậy, giá trị tồn tại xuất phát từ nhận thức của con người về tài nguyên
và môi trường mà người ta cho rằng sự tồn tại của một cá thể hay một giống loài


nào đó có ý nghĩa về mặt kinh tế không chỉ trước mắt mà còn cả lâu dài buộc người
ta phải duy trì giống loài đó bằng mọi giá. Trong việc tính toán giá trị này thì việc
xác lập tiền tệ là khó khăn nhưng sự xác lập nhận thức về mặt giá trị rất dễ dàng.
Về nguyên tắc các giá trị tồn tại là một động cơ quan trọng của nhiều nỗ lực
bảo tồn và cũng là cơ sở ban hành chính sách môi trường. Một ví dụ thực tế là Đạo
luật về bảo vệ và bảo tồn các loài loài chim và các giống loài cây đang bị đe dọa
tuyệt chủng được áp dụng tại nhiều nước. Đạo luật của Mỹ năm 1973 về các loài
đang bị nguy hiểm là một điển hình về sự thừa nhận của Mỹ về giá trị tồn tại. Đạo
luật đã chính thức lên tiếng bảo vệ tính đa dạng sinh học của trái đất. Kết quả quan
trọng của nó là hình thành một danh sách chính thức về các sinh vật đang có nguy
cơ tuyệt chủng, bất kể chúng có giá trị sử dụng trực tiếp hay gián tiếp đối với con


Giá trị để lại (giá trị lưu truyền)

IUV: Giá trị sử dụng gián tiếp

EV:

Giá trị tồn tại

Tổng giá trị kinh tế

Giá trị SD
trực tiếp

Lợi ích có
thể SD trực
tiếp
- Thực phẩm
- Sinh khối
- Giải trí
- Sức khoẻ

Giá trị SD
gián tiếp

Lợi ích từ
chức năng
của MT
- Chức năng
sinh thái

trị vẫn tồn tại

- MT sống
-Sự sống của các
loài

Tính hữu hình giảm dần

Hình 1.1: Tổng giá trị kinh tế của môi trường
Nguồn: Giá trị của tài sản môi trường, Monasinghe, 1992
1.1.3. Phương pháp định giá giá trị của một VQG
Tổng giá trị kinh tế của một VQG nói riêng và tổng giá trị của một tài sản
môi trường nói chung thường được đánh giá thông qua giá trị sử dụng và giá trị
chưa sử dụng. Giá trị sử dụng là những giá trị nhận được từ việc sử dụng trực tiếp
VQG bao gồm giá trị thu được từ gỗ củi, thực phẩm, dược liệu và các sản phẩm phi
lâm sản. Nó còn bao gồm giá trị từ chức năng sinh thái của VQG như khả năng hấp
thụ cácbon, khả năng chống gió bão cũng như giá trị cảnh quan du lịch, giá trị


nghiên cứu khoa học…Còn giá trị chưa sử dụng là giá trị của tài sản môi trường
được đánh giá thông qua nhận thức của những người đang sử dụng hoặc không sử
dụng VQG. Nó được đánh giá bằng sự sẵn lòng chi trả để bảo tồn tài sản môi trường
hoặc bằng lòng chấp nhận một mức đền bù nếu tài sản môi trường bị xâm hại.
Đối với bộ phận giá trị sử dụng trực tiếp của VQG như giá trị thu được từ gỗ
củi, các sản phẩm phi lâm sản có thể xác định thông qua giá thị trường. Bộ phận này
là giá trị hiện hữu và được xác định dễ dàng thông qua mức giá từng sản phẩm. Tuy
nhiên, với các VQG ở Việt Nam, giá trị này thường không thể hiện vì toàn bộ các
sản phẩm lâm sản hoặc phi lâm sản bị cấm khai thác cho mục đích thương mại.
Bộ phận giá trị sử dụng gián tiếp hoặc giá trị chưa sử dụng thường không có
giá trên thị trường, không tồn tại thị trường nên việc định giá phải sử dụng phương

nhiên (VQG, bãi biển, công viên) được sử dụng cho mục đích giải trí, hoặc đánh giá
thiệt hại ô nhiễm môi trường thông qua việc quan sát sự thay đổi lượng khách du
lịch đến với địa điểm giải trí.
Cơ sở lý thuyết phương pháp TCM dựa trên giả định chi phí về thời gian và
chi phí cho chuyến đi của du khách sẽ đại diện cho giá trị của địa điểm giải trí. Do
đó, từ sự bằng lòng chi trả của du khách cho chuyến đi và số lượt tham quan của du
khách có thể xây dựng đường cầu thể hiện mối quan hệ giữa số lượt tham quan và
chi phí tham quan. Sau đó, giá trị cảnh quan của địa điểm nghiên cứu được đánh giá
như là tổng lợi ích của du khách và được đo bằng phần diện tích dưới đường cầu.
Như vậy, TCM đánh giá giá trị các hàng hoá môi trường không có giá thị
trường thông qua hành vi tiêu dùng có liên quan tới thị trường. Đặc biệt, các chi phí
phải bỏ ra để được tiêu dùng các dịch vụ môi trường sẽ được xem như là sự thay thế
cho giá của các dịch vụ đó. Các chi phí này bao gồm chi phí đi lại, chi phí vào cửa,
các chi phí khác tại địa điểm giải trí và các chi phí cơ hội về thời gian mà du khách
đã bỏ ra để có được chuyến đi đến địa điểm giải trí.
1.2.2. Mô hình lý thuyết hàm chi phí du lịch
Một cách tổng quát, chi phí du lịch của du khách i tới địa điểm giải trí j
(TCij) phụ thuộc vào một số biến:


TCij = TC(DCij , Tij , Fi) (1)
i = 1…n, j = 1…..m
Trong đó:
DCij là chi phí về khoảng cách. Chi phí này phụ thuộc vào độ dài quãng
đường tới điểm du lịch và phụ thuộc vào chi phí cho mỗi km đi lại.
Tij là chi phí thời gian. Chi phí này phụ thuộc vào thời gian để tới được điểm
du lịch và giá trị về thời gian của mỗi cá nhân.
Fi là phí vào cửa của địa điểm j.
Giả sử Vi là số lượt tham quan của du khách i tới địa điểm j, khi đó Vi là biến
phụ thuộc vào chi phí của chuyến đi (TCij) và một số biến thể hiện đặc điểm xã hội

việc, c- là chi phí bằng tiền của mỗi chuyến đi, t - là thời gian tổng cộng, t1- là thời
gian di chuyển cho một chuyến đi khứ hồi, t2- là thời gian ở tại địa điểm.
Kết hợp hai ràng buộc nói trên, ta có:
m + t w = x + [c + (t1+t2)w]r
 c + (t1+t2)w = pr là tổng chi phí cho mỗi chuyến đi. Bao gồm chi phí bằng
tiền cũng như chi phí cơ hội về thời gian dùng cho chuyến đi. Giải bài toán của
người tiêu dùng sẽ có được các hàm cầu cho x và r. Số chuyến đi tối ưu là một hàm
của pr, m và q hay r(pr,m,q).
1.2.3. Một số phương pháp tiếp cận chi phí du lịch
Có ba phương pháp tiếp cận chi phí du lịch để đánh giá giá trị giải trí gồm:
- Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch theo vùng (ZTCM): sử dụng chủ yếu
dữ liệu thứ cấp và một số thông tin từ khách du lịch.
- Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch của cá nhân (ITCM): sử dụng chủ yếu
các thông tin phỏng vấn được từ du khách.
- Phương pháp tiếp cận dựa trên độ thoả dụng ngẫu nhiên (RUA): sử dụng
thông tin từ điều tra và các nguồn dữ liệu khác kết hợp với một số kỹ thuật thống kê.
1.2.3.1 Phương pháp chi phí du lịch theo vùng (ZTCM)
Tiếp cận chi phí du lịch theo vùng (Zone Travel Cost Approarch) là cách tiếp
cận đơn giản và ít tốn kém. Để lượng giá giá trị cảnh quan thông qua chi phí du lịch
bằng phương pháp này cần thực hiện 7 bước:
Bước 1: Phân chia khu vực xung quanh địa điểm du lịch được nghiên cứu thành
các vùng du lịch cơ bản. Các vùng này có thể được phân chia theo các đường tròn đồng
tâm kể từ điểm du lịch nhưng cũng có thể phân chia theo khu vực hành chính có cùng
đặc điểm nào đó. Thông thường, số liệu về dân số thu thập theo địa giới hành chính dễ


dàng hơn thu thập theo các đường tròn đồng tâm. Số lượng các vùng có thể tương đối
lớn tùy theo đặc thù của địa điểm nghiên cứu.
Bước 2: Thu thập thông tin về số lượng du khách tới từ các vùng khác nhau và
tổng số chuyến tham quan tới điểm du lịch ở thời điểm trước năm nghiên cứu. Thông

Điều này được thể hiện bởi mô hình sau đây:
Chi phí
P0
P2

P1

V2

V1

V0

Lượng khách

Hình 1.2 : Đường cầu du lịch
Trong mô hình trên, lượng khách đến từ vùng 0 (vùng kề cận điểm du lịch) là
V0. Từ hàm quan hệ giữa chi phí du lịch và lượng khách có thể xác định các điểm
còn lại trên đường cầu. Chẳng hạn, tại mức phí du lịch P1, lượng khách sẽ giảm từ
V0 xuống V1, nếu mức phí tăng lên mức P2 thì số lượng khách sẽ giảm xuống mức
V2. Những tổ hợp chi phí - lượng khách là các dự đoán dựa trên quan hệ giữa chi
phí du lịch với lượng khách du lịch. Giả thuyết quan trọng nhất ở đây là khi chi phí
du lịch được xác định trong biểu thức (*) tăng lên thì số lượng khách tới thăm khu
du lịch giảm đi.
Bước 7: Ước lượng giá trị cảnh quan của điểm nghiên cứu thông qua tính
thặng dư tiêu dùng đối với du khách hoặc xác định phần diện tích nằm phía dưới
đường cầu.
1.2.3.2 Phương pháp tiếp cận chi phí du lịch cá nhân (Individual Travel Cost
Method – ITCM)




đánh giá sự thay đổi giá trị khi chất lượng của địa điểm giải trí thay đổi. Cụ thể, có
thể xây dựng hai đường cầu ứng với từng mức độ chất lượng môi trường, khi đó
khoảng cách giữa hai đường cầu sẽ đo lường sự thay đổi trong thặng dư tiêu dùng
khi chất lượng môi trường thay đổi.
Chi phí

A

D

V1

V2

Số lượt tham quan

C

B

Hình 1.3: Đường cầu du lịch trong trường hợp chất lượng môi trường thay đổi
Theo mô hình trên, đường cầu du lịch trước khi có sự thay đổi chất lượng
môi trường là V1, sau khi chất lượng môi trường thay đổi là V2. Phần tổn thất lợi ích
do thay đổi chất lượng môi trường được đo lường bằng diện tích ABCD cũng là
phần giảm thặng dư tiêu dùng.
1.2.3.3 Phương pháp TCM tiếp cận dựa trên độ thoả dụng ngẫu nhiên (Random
Utility Approach).
Cách tiếp cận dựa trên độ thoả dụng là phức tạp nhất, tốn kém chi phí nhất

Ý tưởng của Hotelling là các cá nhân đến tham quan một VQG đều phải bỏ
ra một khoản chi phí, đặc biệt là chi phí du lịch. Vì mỗi người đến từ một địa điểm
khác nhau nên chi phí du lịch của họ cũng khác nhau. Điều này có thể kết hợp với
số lượt tham quan để xây dựng đường cầu giải trí cho địa điểm đó.
Hotelling cũng gợi ý tập hợp các chuyến đi của du khách từ địa điểm khác
nhau theo vùng lấy tâm là VQG. Từ đó, chi phí du lịch của các cá nhân đến từ bất
kỳ địa điểm nào trong một vùng có thể coi bằng nhau. Với mỗi vùng cần xác định
số lượt tham quan của du khách, chi phí bỏ ra cho chuyến đi và dân số của mỗi


vùng để xây dựng đường cầu du lịch trong đó “giá” là chi phí cho chuyến đi và
“lượng” là số lượt tham quan.
Do khả năng ứng dụng rộng rãi của phương pháp chi phí du lịch mà sau này
đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước áp dụng phương pháp này.
So sánh các phương án xây dựng đường ở vùng rừng Grampian là ứng dụng
đầu tiên của phương pháp TCM ở Australia. Sau đó Ulph và Reynolds (1978) suy ra
giá trị 100$ thặng dư tiêu dùng trung bình trong một ngày ở công viên quốc gia
Warrumbungle - New South Wales. Nghiên cứu cũng sử dụng chi phí du hành này
để so sánh các lợi ích giải trí và các chi phí của công viên.
Bennett và Thomas (1982) khảo sát việc đưa chi phí thời gian như một thành
phần của chi phí du lịch cho việc giải trí ở vùng sông Muray ở Tây Australia.
Hunloe (1990) ước lượng thặng dư của người tiêu dùng cho du khách đến thăm
vùng dãy san hô lớn của Australia (Great Barrier Reef) bằng 118 triệu đô la hàng
năm. Giá trị này sau đó đã được so sánh với các phương án sử dụng khác.
Phương pháp chi phí du lịch cũng cho phép tính toán những giá trị có ích để
so sánh các địa điểm khác nhau. Chẳng hạn nghiên cứu của Sinden (1990) đã đánh
giá và so sánh lợi ích của việc giải trí tại 25 địa điểm dọc sông Ovens và King ở
Đông bắc Victoria. Uỷ ban đánh giá tài nguyên (1992) cũng sử dụng phương pháp
này để đánh giá giá trị tham quan giải trí ở vùng rừng Đông Nam (Úc), từ đó so
sánh lợi ích của việc bảo tồn với lợi ích thu được từ việc đốn gỗ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status