Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón n+k dạng nén đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống ngô LVN99 trên đất dốc tại huyện văn yên, tỉnh yên bái - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ THANH NHÃ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA TỔ HỢP PHÂN
BÓN N+K DẠNG VIÊN NÉN ĐẾN SINH TRƢỞNG
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG NGÔ LVN99
TRÊN ĐẤT DỐC TẠI HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Thái Nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ THANH NHÃ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA TỔ HỢP PHÂN
BÓN N+K DẠNG VIÊN NÉN ĐẾN SINH TRƢỞNG
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG NGÔ LVN99
TRÊN ĐẤT DỐC TẠI HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của Thầy
giáo hướng dẫn, Viện Nghiên cứu ngô, bạn bè đồng nghiệp và cơ quan chủ quản.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Kiều Xuân Đàm – Giám đốc Trung tâm Nghiên
cứu và Sản xuất giống ngô Sông Bôi và TS. Trần Trung Kiên – Phó Giám đốc
Trung tâm Đào tạo theo nhu cầu xã hội – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Phòng Đào tạo, Khoa
Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người đã truyền thụ
cho tôi những kiến thức và phương pháp nghiên cứu quý báu trong suốt thời gian tôi
học tập tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ UBND huyện Văn Yên,
Phòng NN&PTNT huyện Văn Yên, Trạm Khuyến nông huyện Văn Yên, UBND xã
Đông Cuông, Trại Giống lúa Đông Cuông và các hộ dân trong xã đã tạo điều kiện,
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo cơ quan, bạn bè đồng nghiệp Trường
Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Yên Bái đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian học tập và thực hiện đề tài.
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè những
người luôn quan tâm cổ vũ, động viên cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên
cứu vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn

Vũ Thanh Nhã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

2.2.2. Thời gian nghiên cứu ......................................................................................35
2.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................35
2.4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................35
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm........................................................................36
2.4.2. Quy trình kỹ thuật ...........................................................................................37
2.4.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi, đánh giá .............................................38
2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu ...............................................................................41
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




iv

Chƣơng 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ...................................42
3.1. Ảnh hưởng của phân viên nén đến các giai đoạn đoạn sinh trưởng, phát triển
của giống ngô LVN99 trên đất dốc trong vụ Hè Thu 2014 và vụ Xuân 2015 tại
huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ...................................................................................42
3.2. Ảnh hưởng của phân viên nén đến một số đặc điểm hình thái, sinh lý của giống
ngô LVN99 trên đất dốc trong vụ Hè Thu 2014 và vụ Xuân 2015 tại huyện Văn
Yên, tỉnh Yên Bái ......................................................................................................44
3.2.1. Ảnh hưởng của phân viên nén đến chiều cao cây và chiều cao đóng bắp ............. 44
3.2.2. Ảnh hưởng của phân phân viên nén đến số lá trên cây và chỉ số diện tích lá ............46
3.2.3. Ảnh hưởng của phân phân viên nén đến chiều dài bắp và đường kính bắp của
giống ngô LVN99 .....................................................................................................49
3.3.1. Sâu đục thân (Ostrinia nubilalis, Ostrinia funacalis) ......................................52
3.3.2. Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani) .................................................................52
3.4. Ảnh hưởng của phân viên nén đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
của giống ngô LVN99 trên đất dốc trong vụ Hè Thu 2014 và vụ Xuân 2015 tại
huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ...................................................................................56

(Trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ Quốc tế)

CS

: Cộng sự

CSDTL

: Chỉ số diện tích lá

CV

: Coefficient of Variantion (Hệ số biến động)

Đ/c

: Đối chứng

FAO

: Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)

IRRI

: International Rice Research Institute (Viện nghiên cứu lúa quốc tế)

LSD.05

: Least Significant Difference (Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 95%)


: United State Department of Agriculture
(Bộ Nông nghiệp Mỹ)

HT14

: Hè Thu 2014

X15

: Xuân 2015

Tổ hợp phân bón N+K dạng nén: Phân viên nén

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2003 - 2013 .......................7
Bảng 1.2. Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới giai đoạn 2011-2013 ...........8
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất ngô của một số nước tiêu biểu trên thế giới năm 2013 .......9
Bảng 1.4. Sản xuất ngô, lúa mỳ, lúa nước của thế giới giai đoạn 1961 – 2013 ........10
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2013 ............12
Bảng 1.6. Tình hình sản xuất ngô ở các vùng năm 2013 ..........................................13
Bảng 1.7. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô vùng Đông Bắc (2011 - 2013) .......15
Bảng 1.8. Tình hình sản xuất ngô tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 - 2013 ....................17

Hình 3.3: Hiệu quả kinh tế thu được qua các công thức phân bón khác nhau ở
2 vụ Hè Thu 2014 và vụ Xuân 2015 ..........................................................64

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




1

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Mặc dù chỉ đứng
thứ ba về diện tích (sau lúa nước và lúa mỳ), ngô đã có năng suất và sản lượng cao
nhất trong các cây cốc (Ngô Hữu Tình, 2009)[25]. Lượng ngô sử dụng làm thức ăn
chăn nuôi chiếm (70%), nguyên liệu cho ngành công nghiệp (7%) và xuất khẩu trên
10% (Bộ Nông nghiệp &PTNT, 2010)[1]. Với vai trò làm lương thực cho người
(17% tổng sản lượng), ngô được sử dụng để nuôi sống 1/3 dân số toàn cầu, trong đó
các nước ở Trung Mỹ, Nam Mỹ và Châu Phi ngô được dùng làm lương thực chính
(Ngô Hữu Tình, 2003)[24]. Nhu cầu sử dụng ngô ở nước ta đang ngày càng tăng,
theo dự báo của Cục Chăn nuôi thì đến năm 2020, nhu cầu về thức ăn chăn nuôi sẽ
cần khoảng 15 triệu tấn và sẽ phải nhập khoảng 50% nguyên liệu để sản xuất (Bộ
Nông nghiệp và PTNT, 2010)[2].
Việc sử dụng phân viên nén được khẳng định là khắc phục được tình trạng rửa
trôi, bay hơi, liên kết với đất chặt hơn so với bón vãi thông thường. Dùng phân viên
nén tiết kiệm được 35-40% lượng phân so với bón vãi, làm tăng 15-19% năng suất
ở lúa, ít sâu bệnh do ruộng thông thoáng (Nguyễn Tất Cảnh, 2005)[5]. Thí nghiệm
bón phân viên nén cho ngô đã được tiến hành năm 2006, 2007 tại Quảng Uyên, Cao
Bằng; năm 2008 tại Sơn La đã làm tăng năng suất 12-20% (Nguyễn Tất Cảnh,
2008), tr. 131-137[6] tiết kiệm được 20-30% chi phí bón phân do chỉ phải bón một

dân chưa chú trọng đầu tư bón phân cho ngô, mức bón còn rất thấp, tỷ lệ NPK vẫn
còn mất cân đối (tỷ lệ kali còn rất thấp so với tỷ lệ đạm, lân). Do trình độ dân trí còn
thấp, tập quán canh tác lạc hậu không thâm canh hoặc mức thâm canh thấp, vẫn chủ
yếu dựa vào độ phì của đất và tâm lý ưa chuộng phân đạm của nông dân nên việc
tăng bón đạm đã làm trầm trọng thêm sự mất cân đối dinh dưỡng trong đất làm hiệu
quả kinh tế sử dụng phân bón chưa cao. Việc sử dụng nhiều phân vô cơ tuy có làm
tăng năng suất, sản lượng nhưng lại gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ của
cộng đồng. Bón phân theo phương pháp truyền thống không những tốn kém mà còn
gây lãng phí do hiệu quả sử dụng phân thấp, phân bón có thể mất do bay hơi, rửa
trôi, nhất là ở những vùng đất dốc dẫn đến chi phí đầu tư trên một đơn vị diện tích
tăng, hiệu quả kinh tế đem lại thấp. Giải pháp hiệu quả cho việc bón phân trên đất
dốc là cần phải sử dụng phân hỗn hợp NPK có hàm lượng nguyên tố dinh dưỡng
cao để giảm phí vận chuyển và công lao động. Phân viên nén là một loại phân chậm
tan mà nguyên tắc sản xuất là sử dụng các chất phụ gia có khả năng giữ phân lâu
hơn, làm cho phân tan từ từ, vừa đủ cho cây hút vừa có đủ dinh dưỡng mà không bị
ngộ độc, không bị mất mát do bị rửa trôi hay bốc hơi. Tỉnh Yên Bái đã áp dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




3

phân viên nén dúi sâu cho cây lúa đem lại hiệu quả kinh tế cao. Việc sử dụng phân
viên nén cho cây ngô trên đất dốc liệu có đem lại hiệu quả kinh tế cao hay không thì
chưa được nghiên cứu ở tỉnh Yên Bái.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của tổ hợp phân bón N+K dạng nén đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất giống ngô LVN99 trên đất dốc tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”.
2. Mục đích của đề tài


3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được lượng phân viên nén thích hợp cho giống ngô lai trên đất dốc
huyện Văn Yên nói riêng và của tỉnh Yên Bái nói chung, góp phần tăng năng suất,
sản lượng ngô trên đất dốc, tăng hiệu quả kinh tế, giúp nông dân tăng thu nhập, xóa
đói giảm nghèo.
- Kết quả nghiên cứu về phân viên nén cho ngô trên đất dốc ở tỉnh Yên Bái có
thể áp dụng ra một số tỉnh khác ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




5

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Đất dốc ngày càng có vai trò quan trọng trong điều kiện dân số tăng nhanh,
biến đổi khí hậu, tăng đầu tư để nâng cao năng suất, chất lượng lương thực, thực
phẩm. Đất dốc giàu tiềm năng nhưng đang bị thoái hoá nghiêm trọng do việc canh
tác chưa thực sự khoa học. Trong thời gian gần đây, Chính phủ, các nhà khoa học
của Việt Nam và trên thế giới quan tâm đặc biệt đến vấn đề canh tác bền vững trên
đất dốc theo xu hướng bảo vệ và cải thiện độ phì đất để duy trì năng suất cây trồng
cao và bền vững.
Năng suất cây trồng tăng nhờ nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng là phân
bón. Theo đánh giá của các nhà khoa học Mỹ trong hệ thống các biện pháp tăng
năng suất cây trồng, phân bón chiếm tỷ trọng 41%, thuốc bảo vệ thực vật chiếm tỷ
trọng 13 – 20%, thời tiết thuận lợi 15%, sử dụng hạt giống lai 8%, tưới tiêu 5% và

biệt của phân viên nén được sản xuất bởi Học viện Nông nghiệp Hà Nội với các loại
phân chậm tan trên thế giới là ở chỗ đạm không phải được bọc lại và đạm được kết
hợp với các chất phụ gia cho vào trong viên phân để tạo thành các hợp chất đạm
khó tan hơn, đạm và các chất dinh dưỡng được bọc lại trong những “viên phân” nhỏ
hơn trong một viên phân lớn hơn. Đây là sơ để chúng tôi tiến hành thí nghiệm phân
viên nén N+K cho cây ngô trên đất dốc với mong muốn sẽ khắc phục được những
khó khăn trong canh tác cây ngô của người dân niền núi.
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, mặc dù chỉ đứng
thứ ba về diện tích sau lúa nước và lúa mì, nhưng ngô lại dẫn đầu về năng suất và
sản lượng, là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây
lương thực chủ yếu.
Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học về các lĩnh
vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hoá, điện khí hoá và tin
học... vào công tác nghiên cứu và sản xuất (Ngô Hữu Tình, 1997)[23]. Do vậy diện
tích, năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây.
Từ bảng 1.1 cho thấy, về diện tích năm 2003, diện tích ngô trên toàn thế giới
114,67 triệu ha, sau 6 năm con số này đã tăng hơn 46 triệu ha (đạt 161,01 triệu ha).
Năm 2009 diện tích ngô giảm xuống hơn 4 triệu ha, còn 156,93 triệu ha. Đến năm
2012 so với năm 2003 thì diện tích trồng ngô trên thế giới tăng hơn 62 triệu ha lên
177,39 triệu ha. Năng suất nhìn chung là tăng, năm 2003 năng suất đạt 44,60 tạ/ha
đến năm 2011 đạt 51,84 tạ/ha tăng hơn 7 tạ/ ha. Năm 2012 thì giảm xuống còn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




7



729,21

2005

147,44

48,42

713,91

2006

148,61

47,53

706,31

2007

158,60

49,63

788,11

2008

161,01


177,39

49,16

872,06

2013

184,2

55,2

1016,7

Năm

(Nguồn: FAOSTAT, 2015) [32].
Có được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai
trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh
tác. Đặc biệt, từ năm 1996 đến nay cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo
giống ngô lai, kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học, việc ứng
dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô trên thế

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




8


2013

Thế giới

172,2

178,5

184,2

51,5

48,9

55,2

888

872,8

1016,7

Châu Á

56,6

58,1

59,3


117,4

Châu Mĩ

64,4

67,9

70,7

68,0

61,6

73,9

438,1

418,3

522,6

Châu Phi

34,6

34,1

35,0


0,73

(Nguồn: FAOSTAT, 2015)[32]
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy sự chênh lêch tương đối lớn giữa diện tích,
năng suất và sản lượng của các châu lục trên thế giới. Đứng đầu là châu Mĩ - châu lục
có diện tích trồng ngô lớn nhất với diện tích là 70,7 triệu ha chiếm 38,3% tổng diện tích
trồng ngô của thế giới. Năng suất ngô của châu lục này cũng tăng dần qua các năm từ
2011 đạt 68,0 tạ/ha lên 73,9 tạ/ha năm 2013, phần lớn ngô ở châu lục này được sử dụng
trong chăn nuôi và một số ngành công nghiệp. Châu Á là châu lục có diện tích trồng
ngô lớn thứ hai với 59,3 triệu ha, đạt sản lượng 304,3 triệu tấn nhưng năng suất chỉ
đạt 51,2 tạ/ha thấp hơn năng suất trung bình của thế giới. Châu Âu và Châu Úc là
hai châu lục có diện tích trồng ngô nhỏ, tuy nhiên năng suất đạt tương đối cao trong
khi đó Châu Phi tuy có diện tích trồng ngô đứng thứ 3 sau Châu Mĩ và Châu Á nhưng
năng suất ngô ở châu lục này tăng rất chậm năm 2011 đạt 19,2 tạ/ha đến 2013 chỉ
tăng lên được 20,4 tạ/ha, sản lượng chỉ đạt 71,6 triệu tấn. Nguyên nhân chính là do
điều kiện tự nhiên ở Châu Phi rất khắc nghiệt cùng với đó là trình độ thâm canh thấp,
chưa áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
Diện tích, năng suất, sản lượng ngô, lúa mì, gạo lúa của thế giới năm 2013
được trình bày trong bảng 1.3.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




9

Bảng 1.3. Tình hình sản xuất ngô của một số nước tiêu biểu trên thế giới năm 2013

Mỹ


0,033

256

0,11

Đức

0,50

88,2

4,38

Nƣớc

(Nguồn: FAOSTAT, 2015) [32]
Nhìn chung những năm gần đây nhờ tăng cường đẩy mạnh phát triển sản xuất
ngô mà diện tích trồng ngô được mở rộng bên cạnh đó việc áp dụng các biện pháp
kỹ thuật trong canh tác cũng làm tăng năng suất ngô đáng kể, từ 51,5 tạ/ha (2011)
đã tăng lên 55,2 tạ/ha (2013). Những điều này đã làm tăng sản lượng ngô trên giới
từ 888 triệu tấn (2011) lên 1016,7 triệu tấn (2013).
Không những có sự chênh lệch lớn về diện tích, năng suất và sản lượng giữa các
châu lục mà giữa các quốc gia khác nhau cũng có sự chênh lệch rất lớn (Bảng 1.3).
Qua bảng số liệu cho thấy Mỹ là nước có diện tích và sản lượng ngô lớn nhất
thế giới với diện tích 35,5 triệu ha, sản lượng đạt 353,7 triệu tấn chiếm 34,8% sản
lượng ngô thế giới. Trung Quốc là nước có diện tích trồng ngô lớn thứ 2 trên thế
giới với 35,2 triệu ha đạt sản lượng 217,8 triệu tấn chiếm 25% tổng sản lượng ngô
của thế giới. Mặc dù có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, diện tích trồng ngô nhỏ

(triệu
tấn)

% so
với
1961

1961
Ngô

105,5

-

19,4

-

205,2

-

Lúa nước

115,4

-

18,7



592,5

188,74

Lúa nước

154,4

33,80

38,9

108,02

599,3

177,97

Lúa mỳ

215,4

5,48

27,2

149,54

585,7

245,64

Lúa mỳ

218,4

6,95

32,6

199,08

713,2

220,68

(Nguồn: FAOSTAT, 2015) [32].
Ngô cùng với lúa mỳ và lúa nước là ba cây lương thực chính của loài người đã
có sự tăng trưởng liên tục về năng suất và sản lượng trong suốt gần 50 năm qua.
Đặc biệt, trong thời gian gần đây, ngô là cây trồng có tốc độ tăng cao nhất về hai chỉ
tiêu trên. So với năm 1961, năm 2013 diện tích của ngô tăng 74,69%, lúa nước
44,54%, còn lúa mỳ chỉ tăng 6,95% và năng suất cũng tăng liên tục, ngô tăng thêm
184,54% (từ 19,4 tạ/ha lên 55,2 tạ/ha), lúa nước là 138,5% (từ 18,7 tạ/ha lên 44,6
tạ/ha), lúa mỳ là 199,08% (từ 10,09 lên 32,6 tạ/ha), dẫn đến sản lượng cả ba cây đều
tăng rất cao, ngô tăng lên 395,32%, lúa nước 245,64% và lúa mỳ tăng lên 220,68%.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




12

khoa học trong cả nước tiếp tục lỗ lực, nghiên cứu ra những giống ngô va biện pháp
kỹ thuất canh tác hiệu quả để nâng cao năng suất và chất lượng của sản xuất ngô
Việt Nam, góp phần vào sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam
(FAOSTAT, 2015) [32].
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2003 - 2013
Chỉ tiêu

Diện tích
(nghìn ha)

Năng suất
(tạ/ha)

Sản lƣợng
(nghìn tấn)

2003

912,7

34,4

3.136,3


4.303,2

2008

1.140,2

40,2

4.573,1

2009

1.086,8

40,8

4.431,8

2010

1.126,9

40,9

4.606,3

2011

1.081,0

giống ngô lai ở nước ta. Tình hình sản xuất ngô ở các vùng trong năm 2013 được trình
bày ở bảng 1.6.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




13

Bảng 1.6. Tình hình sản xuất ngô ở các vùng năm 2013
Diện tích
(nghìn ha)
88,3

Năng suất
(tạ/ha)
46,1

Sản lƣợng
(nghìn tấn)
406,7

Trung du và miền núi phía Bắc

505,8

37,6

1.904,2


226,1

Vùng
Đồng bằng sông Hồng

Nguồn: Tổng cục thống kê, 2015 [26]
Diện tích, năng suất, sản lượng ngô phân bố không đều giữa các vùng
trong cả nước, qua bảng 1.6 cho thấy: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy
diện tích sản xuất ngô lớn nhất (505,8 nghìn ha) nhưng năng suất lại thấp nhất trong cả
nước (37,6 tạ/ha). Ngược lại vùng Đông Nam Bộ diện tích sản xuất nhỏ (80,1 nghìn
ha), nhưng lại cho năng suất cao nhất (57,6 tạ/ha).
Sự trái ngược này có thể được giải thích do nhiều nguyên nhân: Vùng Trung du
và miền núi phía Bắc tuy có diện tích lớn song chủ yếu tập trung ở các vùng miền núi,
diện tích trồng chủ yếu trên đất dốc, ít đầu tư, chăm sóc thuộc các vùng dân tộc ít
người. Họ không có đủ điều kiện đầu tư về vốn cũng như các biện pháp kỹ thuật canh
tác phù hợp mà chủ yếu canh tác theo lối truyền thống lạc hậu và các giống ngô trồng
phần lớn là giống địa phương. Cộng thêm vào đó là các điều kiện đất đai nghèo dinh
dưỡng, khí hậu khắc nghiệt với hạn hán và rét kéo dài vào mùa đông, lượng mưa phân
bố không đều trong năm dẫn tới năng suất thấp. Tuy nhiên, với ưu thế về diện tích
chiếm 43,1% diện tích của cả nước nên sản lượng chung của vùng vẫn cao hơn các
vùng khác, đạt 1.904,2 nghìn tấn chiếm 36,7% sản lượng của cả nước và trở thành một
trong những vùng sản xuất ngô trọng điểm cung cấp lượng ngô lớn nhất cả nước.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích thấp nhất cả nước đạt 40,3 tạ/ha
nhưng năng suất bình quân đạt 56,1 tạ/ha, chỉ sau Đông Nam Bộ (57,6 tạ/ha) do
vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi, phù hợp với yêu cầu sinh trưởng, phát triển
của cây ngô như: nhiệt độ bình quân cao 25 - 30oC, nguồn ánh sáng dồi dào, hệ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN



ngô của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, từ năm 1985 - 2009 đã có sự phát triển
vượt bậc. Sở dĩ chúng ta đạt được những thành quả to lớn trong phát triển sản xuất
ngô là do Đảng, Nhà nước và Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn thấy được vai
trò của cây ngô trong nền kinh tế và kịp thời đưa ra những chính sách, biện pháp phù
hợp nhằm khuyến khích sản xuất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




15

1.2.3. Tình hình sản xuất ngô vùng Đông Bắc
Vùng Đông Bắc bao gồm 9 tỉnh (Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang,
Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang và Phú Thọ), là một trong các
vùng trồng ngô có diện tích lớn ở Việt Nam. Diện tích trồng ngô năm 2013 của
vùng Đông Bắc là 194.000 ha, tuy diện tích lớn nhưng phân bố rải rác, đất trồng
ngô có địa hình phức tạp, chủ yếu là đất phiêng bãi, thung lũng, thềm sông suối, độ
cao so với mặt nước biển thay đổi từ vài trăm mét (Lạng Sơn) đến hơn nghìn mét
(Cao nguyên Đồng Văn - Hà Giang). Năm 2013, diện tích trồng ngô vùng Đông
Bắc giảm xuống còn 190.800 ha; năng suất và sản lượng ngô của vùng năm 2013 có
tăng so với năm 2012. Khí hậu của vùng Đông Bắc thường khắc nghiệt, hạn và rét
kéo dài, lượng mưa không phân bố đều trong năm, đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản
xuất ngô của vùng. Tình hình sản xuất ngô của các tỉnh vùng Đông Bắc được trình
bày ở bảng 1.7.
Bảng 1.7. Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô vùng Đông Bắc (2011 - 2013)

1

Hà Giang

16,5

16,4

38,3

37,2

40,9

64,7

61,4

67,0

16,5

14,0

16,2

43,9

43,1

43,8

72,4


Tuyên
Quang
Thái
Nguyên

Năng suất
(tạ/ha)
2011 2012 2013
31,1 31,8 33,7

Sản lƣợng
(nghìn tấn)
2011 2012 2013
155,3 167,2 178,5
127,7 131,7

6

Lạng Sơn

20,9

21,8

22,0

48,2

47,8


21,4

17,4

18,6

44,1

45,5

45,4

94,3

79,1

84,4

194

188

190,8

318,5 319,2 326,6

Vùng Đông Bắc

104,3 104,8


ngô Hè Thu gieo trồng trên đất đồi dốc.
- Năng suất: Năng suất ngô bình quân năm 2000 đạt 19,7 tạ/ha, năm 2013 đạt
31,6 tạ/ha, tăng 11,9 tạ/ha so với năm 2000, tăng 7,98 tạ/ha so với năm 2005. Trong
giai đoạn 2005 – 2013, bình quân mỗi năm năng suất tăng thêm 0,99 tạ/ha. Đây là
mức tăng rất thấp so với các tỉnh trong khu vực và với tiềm năng năng suất của các
giống ngô.
- Sản lượng: Sản lượng ngô năm 2000 đạt 19.482 nghìn tấn, năm 2013 đạt
84.400 nghìn tấn, tăng trên 64,9 nghìn tấn so với năm 2005, bình quân mỗi năm sản
lượng ngô tăng thêm 8,1 nghìn tấn. Sản lượng ngô hàng năm chiếm 21 - 22% tổng
sản lượng lương thực.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status