sáng kiến kinh nghiệm
năm học 2006 2007
Đề tài
một số Hoạt động tạo không khí
hứng thú học tập trong giờ hoá học
bậc trung học phổ thông
I. Lý do chọn đề tài .
Hứng thú học tập là điều mà học sinh đạt đến đầu tiên hay cuối cùng ở một
môn học? Có ngời cho rằng học sinh cha biết gì về môn học thì lấy gì mà hứng
thú. Có một điều chắc chắn, hứng thú là điều mà bất kỳ một học sinh nào khi
muốn học tốt cũng cần phải đạt đợc ở các môn học. Nhng theo tôi, học sinh cần
yêu thích môn học trớc khi đi vào tìm hiểu môn học đó. Do vậy, tạo hứng thú
trong học tập phải là điều đầu tiên mà giáo viên cần đem đến cho học sinh, trớc
khi dẫn dắt học sinh tìm hiểu những kiến thức bổ ích. Có nh thế học sinh mới tích
cực chủ động tìm hiểu những chân trời kiến thức, đúng nh tinh thần của đổi mới
phơng pháp dạy học hiện nay.
II. Cơ sở lý thuyết.
1.Lý thuyết về quá trình học tập của học sinh.
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác-Lênin thì quá trình nhận
thức thế giới khách quan của con ngời là từ trực quan sinh động đến t duy
trừu tợng, từ t duy trừu tợng đến thực tiễn. Vận dụng vào môn Hoá học có
thể thấy là học sinh sẽ xây dựng các khái niệm, các tính chất của một
chất . . . tốt nhất khi họ rút ra chúng từ các hiện tợng thực tế, các thí nghiệm
v.v. từ đó vận dụng điều mới để áp dụng cho các trờng hợp khác tơng tự.
a) Các mức độ hiểu biết của học sinh:
- Biết: nhận thức đợc sự thật tồn tại trong tự nhiên, xã hội.
VD: Học sinh biết lu huỳnh đơn chất là chất rắn, màu vàng, số ôxy hoá
trong đơn chất là 0, số ôxy hoá này là trung gian giữa -2; +4 và +6.
- Hiểu: hiểu các nguyên tắc cơ bản.
VD : Học sinh hiểu do số ôxy hoá 0 trong đơn chất lu huỳnh là trung gian
nên tính chất của lu huỳnh là có cả tính khử và tính ôxy hoá, có thể tác
HKMnO
B
(chất rắn màu vàng)
Học sinh dựa trên những kiến thức đã có sẽ phân tích: B là chất rắn màu
vàng là lu huỳnh đơn chất, có số ôxy hoá 0; KMnO
4
là chất ôxy hoá, khi
tác dụng với A nó sẽ giảm số ôxy hoá, vậy A phải là chất khử, tăng số ôxy
hoá. A tăng số ôxy hoá lên 0, vậy nó có chứa lu huỳnh với ôxy hoá -2, lại
là chất khí nên chỉ có thể là H
2
S. Dãy biến hoá đợc thực hiện nh sau:
S + H
2
H
2
S
5H
2
S + 2KMnO
4
+ 3H
2
SO
4
5S + K
2
SO
4
+ 2MnSO
3
+ S H
2
SO
4
+ 6NO
2
+ 2H
2
O
Học sinh cần tổng hợp tính chất của S là có cả tính khử và tính ôxy hoá,
còn HNO
3
có tính ôxy hoá mạnh. Vậy khi tác dụng với nhau thì S thể hiện
tính khử, tăng số ôxy hoá từ 0 lên +6, còn N trong HNO
3
giảm số ôxy hoá
nhng chỉ giảm xuống +4 do tính khử của S là yếu, HNO
3
lại đặc nóng. Vậy
phơng án đúng cần chọn là D.
b) Thái độ của học sinh (Hứng thú đối với bộ môn ): Thực tế cho thấy
hứng thú đối với bộ môn của học sinh tỷ lệ thuận với kết quả học tập của
học sinh về bộ môn. Khi học sinh cảm thấy yêu thích môn học hoặc nhận
ra đợc những giá trị của bộ môn thì động lực học tập của học sinh sẽ rất
lớn, giúp các em vợt qua nhiều rào cản để tìm đến với kiến thức. Các em sẽ
luôn tìm tòi khám phá thế giới xunh quanh trên cơ sở những kiến thức đã
học, vận dụng có sáng tạo những kiến thức đó để giải thích thế giới. Chính
điều này nâng cao lợng kiến thức của các em, từ đó nâng cao kết quả học
tập.
Lòng yêu thích, tin tởng vào khoa học, ham tìm tòi, khám phá
v.v..
Kỹ năng:
Các phơng pháp thí nghiệm, quan sát, lập mẫu báo cáo v.v..
Tri thức:
Ghi nhớ
Hiểu
Vận
dụng
Phân
tích
Tổng
hợp
Khi đó học sinh sẽ tích cực chủ động tham gia các hoạt động học tập
mà giáo viên tổ chức, hiệu quả giáo dục sẽ đợc nâng cao. Hứng thú học tập
của một môn học đợc hình thành thông qua không khí học tập của học sinh
trong giờ học môn đó. Bởi một không khí học tập đầy hứng khởi sẽ kích
thích sự say mê, giúp cho học sinh tập trung tốt hơn và có niềm tin vào
những gì mình tiếp thu đợc. Vậy khi giáo viên tạo đợc không khí học tập
tích cực trong một giờ dạy thì có thể nói đã thành công đợc 50% đổi mới
phơng pháp dạy học.
c) Các lý thuyết về sự hiểu biết của học sinh
- Lý thuyết hành vi: tập trung vào hành vi của ngời học và ngời dạy. Ngời
dạy thông qua các hình thức kiểm tra, khen và phạt của mình làm cho
Con ngời xunh quanh (ngời dạy) giúp ngời học phát triển nhận
thức.
Mức độ trởng thành: tuổi, nhận thức . . .
Quá trình phát triển nhận thức của ngời học đợc biểu diễn qua vòng học
tập:
+ Lý thuyết tạo dựng:
Tập trung vào sữa chữa các nhận thức sai lệch.
Đặt câu hỏi để phát hiện những sai lệch.
Sửa chữa sai lệch (nếu có):
Theo hai phơng pháp: So sánh (đúng sai) và dùng bản đồ khái
niệm để giúp học sinh hệ thống lại kiến thức.
- Lý thuyết xã hội: ngời học là một sản phẩm của xã hội, chịu tác động
qua lại với hoàn cảnh xã hội đó (hoàn cảnh và con ngời). Đối với học
sinh, con ngời ở đây không chỉ là giáo viên mà còn là bạn bè, gia
đình v.v.. Muốn học sinh phát triển nhận thức cần cho các em phát biểu
với thầy, với bạn, học nhóm . . .
So sánh các lý thuyết ta thấy:
Lý thuyết về sự
hiểu biết
Định nghĩa về sự
hiểu biết
Bản chất ngời học
Điều kiện để ngời học
hiểu biết
Lý thuyết hành vi
Nếu có sự thay đổi
hành vi
Hộp đen, cần có sự
tác động
Có ngời dạy
nhiên để trò chơi đợc thành công thì mục tiêu và nội dung của nó phải đợc
thể hiện một cách rõ ràng và khoa học. Bên cạnh đó thì vai trò của ngời
quản trò (thờng là giáo viên) cũng rất quan trọng, giáo viên cần thiết phải
nắm vững luật chơi, nhanh nhạy trong việc xử lý tình huống.
b) Đóng vai: đây là phơng pháp sân khấu hoá giờ học, trong đó học
sinh hoá vai vào các nhân vật trong một tình huống cụ thể. Tình huống ở
đây là một kịch bản nhỏ do giáo viên hoặc chính học sinh soạn sẵn có nội
dung liên quan đến kiến thức bài học. Để có thể tham gia vào kịch bản, học
sinh cần nắm vững kiến thức đặt ra, có óc sáng tạo, thông minh và nhanh
nhẹn trong xử lý tình huống. Khi kiến thức đợc chuyển tải dới dạng một
kịch bản học sinh cảm thấy đợc gần gũi hơn với mình, từ đó có ấn tợng sâu
sắc về kiến thức và sẽ nhớ rất lâu.
c) Thí nghiệm vui: Bộ môn Hoá học sử dụng rất nhiều các thí nghiệm nói
chung. Thí nghiệm có thể để nghiên cứu vấn đề mới, để kiểm chứng, minh
họa v.v.. Trong hoạt động dạy học môn Hoá học, các thí nghiệm là nguồn
kiến thức rất sống động cho các bài giảng. Các thí nghiệm Hoá học nói
chung gây hứng thú rất mạnh cho học sinh nhng không phải thí nghiệm
nào cũng có những hiện tợng hoặc cách tiến hành đủ ấn tợng để lại cho học
sinh. Khi gắn những thí nghiệm, những hiện tợng đó với một vài thủ thuật,
sáng tạo nhằm tăng ấn tợng để khắc sâu cho học sinh thì ta đã chuyển từ thí
nghiệm Hoá học thông thờng thành thí nghiệm vui.
d) Hoạt động nhóm: Hoạt động nhóm là vấn đề đợc nói đến khá nhiều
trong đổi mới phơng pháp nhng vận dụng nh thế nào lại không phải là câu
hỏi dễ trả lời. Hoạt động nhóm là tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội đợc
thảo luận với bạn bè hoặc với giáo viên để cùng nhau giải quyết vấn đề.
Các đặc điểm của hoạt động nhóm là:
7
- Có thể phát triển nhiều kỹ năng cho học sinh: phân công công việc, hợp
tác, cùng nhau xây dựng kiến thức và quan trọng là trình bày và bảo vệ
ý kiến của mình.
Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và thời gian cho phép.
Phù hợp với khả năng của giáo viên.
Cơ cấu một tiết dạy gồm nhiều phần, mỗi phần có thể vận dụng một số
hoạt động nhất định. Ví dụ :
Phần tổ chức tình huống : vận dụng hoạt động kể chuyện, hoạt động
trò chơi ô chữ.
Phần đặt vấn đề : vận dụng hoạt động thí nghiệm vui.
Phần nội dung : vận dụng hoạt động đóng vai, hoạt động nhóm, hoạt
động trò chơi thi đua.
Phần củng cố, ôn tập : vận dụng hoạt động trò chơi ong tìm chữ, trò
chơi nếu thì v.v..
8