BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGÔ VIẾT HẢI
HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ TRONG BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TẠI HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGÔ VIẾT HẢI
HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ TRONG BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TẠI HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị Tuyết Oanh
HÀ NỘI, NĂM 2017
Phú Yên, ngày
tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Ngô Viết Hải
DANH MỤC VIẾT TẮC
STT
Cụm từ viết tắt
Ý nghĩa của cụm từ viết tắt
1
DSVH
Di sản văn hóa
2
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
3
VH&TT
Văn hóa và Thông tin
9
VH,TT&DL
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
10
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
11
TNCS
Thanh niên cộng sản
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn nghiên cứu đề tài ........................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu .............................................................. 4
4. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
2.1. Tổ chức khảo sát thực trạng. .................................................................... 32
2.1.1. Mục đích đối tượng khảo sát. ................................................................ 32
2.1.2. Phương pháp khảo sát........................................................................... 32
2.1.3. Cách xử lý kết quả khảo sát. ................................................................. 33
2.2. Khái quát về huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên .......................................... 33
2.2.1. Về kinh tế xã hội .................................................................................... 33
2.2.2. Về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện....................................... 37
2.3. Thực trạng việc bảo tồn giá trị các di tích lịch sử văn hóa. ..................... 46
2.3.1. Thực trạng nhận thức. ........................................................................... 46
2.3.2. Thực trạng việc thực hiện ..................................................................... 50
2.4. Thực trạng huy động cộng đồng dân cƣ trong việc bảo tồn và phát huy
giá trị các di tích lịch sử văn hóa..................................................................... 51
2.4.1. Thực trạng thực hiện nội dung huy động .............................................. 51
2.4.2. Thực trạng thực hiện hình thức tổ chức các hoạt động ........................ 54
2.4.3. Thực trạng sự tham gia của các lực lượng xã hội ................................ 56
Kết luận chương 2 .......................................................................................... 58
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ TRONG
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN
HÓA TẠI HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN.................................. 59
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp............................................................ 59
3.1.1. Đảm bảo tính kế thừa và phát triển ...................................................... 59
3.1.2. Đảm bảo tính thống nhất mục đích huy động của các lực lượng xã hội....... 60
3.1.3. Đảm bảo tính pháp lý ............................................................................ 60
3.1.4. Đảm bảo tính thực tiễn của địa phương. .............................................. 61
3.2. Các biện pháp huy động cộng đồng dân cƣ bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích lịch sử văn hóa huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên. .................................. 61
3.2.1. Tổ chức đa dạng các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho
cộng đồng về luật di sản văn hóa, về các văn bản về bảo vệ, phát huy giá trị
Bảng 2.3. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và ngƣời dân trong việc
thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa .................... 50
Bảng 2.4. Thực trạng thực hiện nội dung huy động cộng đồng dân cƣ trong
việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa ............................ 52
Bảng 2.5: Thực trạng về hình thức tổ chức các hoạt động giới thiệu
các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn ........................................................... 54
Bảng 2.6. Thực trạng sự tham gia của các lực lƣợng xã hội trong việc
bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa. ................................... 56
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp .................. 79
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp .................... 81
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của
các biện pháp ................................................................................................... 84
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn nghiên cứu đề tài
Di tích lịch sử văn hóa là di sản quý báu và là một bộ phận quan trọng
của di sản văn hóa dân tộc. Di tích là những vết tích những gì còn lại qua thời
gian và đƣợc lƣu lại cho đến ngày hôm nay. Di tích lịch sử phản ánh những
hoạt động, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của con ngƣời trải qua
một thời gian hay thời kỳ. Mặt khác còn là nơi lƣu niệm tƣởng nhớ trƣng bày
các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa. Di tích lịch sử văn
hóa là dấu ấn của một thời đại, có những di tích nổi trên mặt đất, có những di
tích đã chìm sâu dƣới lòng đất hay còn bị ngập nƣớc.
Ngày nay, với xu thế hội nhập, văn hóa là nền tảng cho sự phát triển
của một dân tộc, một quốc gia. Thực tế, việc sử dụng, khai thác di tích diễn ra
chồng chéo nhau, vì các cơ quan bảo tồn, du lịch, điện ảnh, thƣơng mại, dịch
vụ… địa phƣơng đều hƣớng vào khai thác di tích. Mỗi nơi một cách, các hoạt
động chƣa đƣợc quản lý, phối hợp chặt chẽ. Di tích lịch sử văn hoá là tài sản
vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của dân tộc, là những chứng tích
và của nhân dân, trong đó cộng đồng dân cƣ đóng một vai trò quan trọng.
Cộng đồng là một tập hợp công dân cƣ trú trong cùng một khu vực địa
lý, hợp tác với nhau về những lợi ích chung và chia sẻ những giá trị văn hoá
chung. Một số tổ chức chính trị - xã hội cũng có thể đại diện cho cộng đồng
nhƣ: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân...Sự
tham gia của cộng đồng dân cƣ vào việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
địa phƣơng là một trong những giải pháp quan trọng trong công tác quản lý di
tích lịch sử văn hóa, vì qua các cấp quản lý hành chính (từ Trung ƣơng đến
địa phƣơng) thì càng xuống cấp thấp hơn, vai trò của ngƣời dân càng trở nên
quan trọng. Sự tham gia của cộng đồng vào bảo tồn và phát huy giá trị các di
tích lịch sử không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp bảo tồn và
phát huy giá trị di tích, mà còn là lực lƣợng giám sát nhanh và hiệu quả, giúp
cho các cơ quan quản lý di tích giải quyết kịp thời nhiều hành vi vi phạm liên
quan đến di tích lịch sử - văn hóa.
2
Phú Yên là tỉnh có hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh phong phú, đa dạng và độc đáo. Đây là nguồn tài nguyên vô giá và cũng
là tiềm năng to lớn của tỉnh, theo kết quả khảo sát Phú Yên hiện nay có 57 di
tích và danh lam thắng cảnh đã đƣợc xếp hạng trong đó có 20 di tích, danh
thắng cấp quốc gia và 37 di tích danh thắng cấp tỉnh; riêng trên địa bàn huyện
Đông Hòa, tỉnh Phú Yên có 10 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 3 di tích,
danh thắng cấp quốc gia và 7 di tích danh thắng cấp tỉnh. Trong những năm
qua, công tác bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn
có bƣớc phát triển tốt. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế nhƣ một bộ phận
ngƣời dân còn chƣa ý thức đƣợc trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị các
di tích lịch sử văn hóa của dân tộc tại địa phƣơng.
Là một cán bộ đƣợc giao nhiệm vụ quản lý về văn hóa, trong đó có việc
quản lý các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện,
sử văn hóa của ngƣời dân địa phƣơng sẽ tốt hơn, góp phần bảo tồn di sản
văn hóa Việt Nam.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về huy động cộng đồng dân cƣ trên địa bàn
huyện trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng huy động cộng đồng dân cƣ trong bảo
tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đông Hòa, tỉnh
Phú Yên.
- Xác định biện pháp huy động cộng đồng dân cƣ trong bảo tồn và phát
huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Xác định biện pháp cho Phòng Văn hóa và Thông tin huyện và một số
cơ quan, tổ chức chính trị xã hội.
- Các số liệu đƣợc lấy từ năm 2013 đến năm 2016.
- Đối tƣợng khảo sát: Cán bộ phòng Văn hóa và Thông tin, cán bộ quản
lý di tích, cán bộ các tổ chức chính trị xã hội, nhân dân sống xung quanh các
di tích lịch sử văn hóa huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. C c phương ph p nghiên cứu
uận:
Sử dụng các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu,
phân loại tài liệu,… nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận của “ Huy động cộng
đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại
huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên”.
7.2. C c phương ph p nghiên cứu th c ti n:
UNESSCO đã phát đi lời kêu gọi và sau đó thu đƣợc 30 triệu đô la, đóng góp
vào quỹ cứu trợ các ngôi đền của Nubia.
Cũng vào thời gian này, trên thế giới xuất hiện nhiều tiếng nói đòi bảo
vệ môi trƣờng thiên nhiên và giữ gìn di sản văn hóa. Phong trào ngày càng
lớn mạnh dẫn tới sự ra đời của công ƣớc về di sản thế giới (bao gồm di sản
thiên nhiên và di sản văn hóa). Công ƣớc đã đƣợc Hội đồng UNESCO có đại
biểu của 112 quốc gia tham gia thông qua vào năm 1970. Công ƣớc khẳng
định: Các tác phẩm của con ngƣời và các tác phẩm của thiên nhiên hợp thành
vốn di sản duy nhất cần đƣợc bảo vệ chu đáo. Các quốc gia tham gia công
6
ƣớc có quyền lập ra cho quốc gia mình một danh mục tài sản, đủ tiêu chuẩn
thì đƣợc xếp vào “Danh mục di sản thế giới”, một ủy ban di sản thế giới đƣợc
thành lập. Đó là cơ quan liên chính phủ gồm đại diện của 21 nƣớc tham gia
công ƣớc, đƣợc luân phiên bầu vào. Dựa vào báo cáo của hai tổ chức phi
Chính phủ là Hội đồng quốc tế về các đền đài và di chỉ (gọi tắt là ICOMOS)
và Liên hiệp quốc tế bảo tồn thiên nhiên (gọi tắt là IUCN), Ủy ban sẽ nghiên
cứu hồ sơ hàng năm quyết định việc công nhận di sản thế giới. Trong số này
có 326 di sản văn hóa, 97 di sản thiên nhiên và 17 di sản tổng hợp. Riêng đối
với nƣớc ta, tháng 12/1993 cố đô Huế đƣợc xếp vào danh mục tài sản văn hóa
thế giới và đến tháng 12/1994 Vịnh Hạ Long đƣợc xếp vào danh mục di sản
thiên nhiên thế giới.
Trong vòng gần 72 năm kể từ khi thành lập tới nay, tổ chức UNESCO
của Liên hiệp quốc đã tập trung hoạt động, hƣớng vào lĩnh vực bảo vệ di sản
văn hóa dân tộc. Từ thập kỷ 80 trở lại đây, UNESCO đã triển khai một
chƣơng trình hành động với chủ đề "Bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa
phi vật thể".
Vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị các di tích lịch
đô, truy xét những bầy tôi tiết nghĩa, đều cho lập đền cúng tế, đến 27 đền; lại
còn những bậc thiên thần hiển linh có công trạng đều đƣợc bao phong và lập
đền thờ...” [14, 159]
Nhƣ vậy, dƣới các triều đại phong kiến, ý thức giữ gìn, bảo quản, kiểm
kê và tu bổ các di tích lịch sử văn hóa đã đƣợc chính quyền trung ƣơng và
toàn xã hội quan tâm.
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ngƣời Pháp đã tiến hành điều tra,
nghiên cứu di tích của nƣớc ta. Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam là một lĩnh
vực nghiên cứu đƣợc các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm nhƣ: Gustave
Dumoutier (1850 -1904), Madeein Colani (1866 -1943), Henri Paramentier
8
(1883 -1945)....Những công trình nghiên cứu về di tích Việt Nam đã đóng góp
lớn trong việc đặt nền móng cho nền khảo cổ Việt Nam, cho công tác bảo tồn
và phát huy các di tích lịch sử văn hóa nhƣ đánh giá của nhà nghiên cứu Hà
Văn Tấn: “Những đóng góp của các nhà học giả Pháp là vô cùng to lớn” và
“chúng ta không những biết ơn các học giả Pháp trong việc nghiên cứu các
nền văn hóa cổ trên đất nƣớc Việt Nam mà còn biết ơn họ trong việc bảo tồn
và lƣu giữ nhiều di tích của các nền văn hóa đó [6].
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong lúc phải đối phó
với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, Chính phủ lâm thời nƣớc Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa đã quan tâm ngay đến việc bảo vệ các di sản văn hóa dân
tộc. Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 65 thành lập Đông
Phƣơng Bác Cổ học viện và bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trên toàn đất nƣớc.
Việc ban hành sắc lệnh đã khẳng định quan điểm đúng đắn của Chính
phủ đối với vai trò và ý nghĩa quan trọng của các di tích trong công cuộc kiến
thiết đất nƣớc. Trong sắc lệnh, Chính phủ quy định giành ra những khoản trợ
cấp hàng năm từ ngân sách quốc gia và ngân sách của mỗi kỳ mỗi tỉnh cho
hoạt động của Đông Phƣơng Bác Cổ học viện.
"Chống xuống cấp và tôn tạo di tích" bằng nguồn vốn của Nhà nƣớc, của
nhân dân, tập thể, cá nhân trong và ngoài nƣớc.
Năm 2001, Nhà nƣớc ban hành Luật Di sản văn hóa, trong văn bản luật
đã ban hành đã dành 1 chƣơng để quy định những việc có liên quan đến di
tích, đó là một bƣớc tiến quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa
dân tộc nói chung và bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa nói riêng.
Từ năm 2002, khi Luật Di sản văn hóa có hiệu lực, Thủ tƣớng Chính
phủ đã ban hành quyết định thành lập Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia; Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập Hội đồng khoa học về Bảo tồn di
tích để tƣ vấn cho Nhà nƣớc các vấn đề bảo tồn, tôn tạo di tích.
Nhƣ vậy, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa
đã đƣợc đặt ra từ lâu, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, chủ yếu
là trên phƣơng diện thực hành, tức là công việc sƣu tầm, chỉnh lý, nghiên cứu
10
và công bố về tƣ liệu di tích lịch sử văn hóa, còn việc nghiên cứu lý thuyết về
phƣơng diện này chỉ gần đây mới đƣợc khoa học chú ý. Nhìn chung, chƣa có
công trình nghiên cứu đi sâu một cách có hệ thống về công tác bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa cũng nhƣ huy động cộng đồng dân
cƣ trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa . Vì vậy "Huy
động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
văn hóa" là một vấn đề cần đi sâu và làm rõ.
Riêng tại tỉnh Phú Yên, đề tài nghiên cứu về việc bảo tồn và phát huy
các giá trị di tích đã đƣợc triển khai và nghiệm thu một cách hoàn chỉnh vào
năm 2015. Đây là đề tài nghiên cứu cấp Tỉnh do Nguyễn Định làm chủ nhiệm
đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
và danh lam thắng cảnh phục vụ phát triển du lịch tỉnh Phú Yên”. Nội dung
đề tài nêu rõ những giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị các di tích và danh
lam thắng cảnh phục vụ cho công tác phát triển du lịch cho từng huyện, thị,
Qua đó, cho chúng ta thấy đƣợc rằng việc gắn kết xã hội của cộng đồng
tạo nên ý thức cộng đồng, mỗi thành viên của cộng đồng đều nhận rõ trách
nhiệm và quyền lợi của mình khi đƣợc sống trong một cộng đồng. Chính vì
thế, những việc làm liên quan đến lợi ích của cộng đồng là trách nhiệm của tất
cả các thành viên sống trên địa bàn cƣ trú của cộng đồng.
Chƣa có một khái niệm nào chuẩn xác về khái niệm huy động. Ở đây,
chúng tôi tiếp cận một số tƣ liệu đã đƣa ra những nhận định cụ thể có thể hiểu
khái niệm về huy động tức là vận động một số lƣợng ngƣời, của cải vật chất
tham gia vào cùng một công việc cụ thể nào đó.
Cộng đồng dân cƣ là tập hợp gồm nhiều nhóm xã hội cùng sinh sống
trên cùng một lãnh thổ, một vùng đất. Có thể hiểu một cách riêng biệt: dân cƣ
là toàn bộ những ngƣời cƣ trú trên một địa bàn lãnh thổ nhất định một cách tự
nhiên qua lịch sử và phát triển không ngừng. Có thể có mối quan hệ nhất định
với nhau nhƣ quan hệ họ hàng, quan hệ bạn bè, quan hệ làm ăn… Còn khái
niệm về cộng đồng đƣợc hiểu là nhóm xã hội của các cá thể sống chung trong
cùng một môi trƣờng thƣờng có cùng các mối quan tâm chung.
12
Cộng đồng là một tập hợp ngƣời quan hệ mật thiết với nhau trong các
sinh hoạt vật chất và tinh thần của họ. Cộng đồng tập hợp theo nguyên tắc
dòng máu thì đƣợc gọi là thị tộc bộ lạc; Cộng đồng tập hợp theo nguyên tắc
thân thuộc thì đƣợc gọi là gia đình, theo nguyên tắc láng giềng thì gọi là làng
xã, cộng đồng tập hợp theo tiêu chí cùng chung nguồn gốc thì gọi là tộc
ngƣời, còn tập hợp theo nguyên tắc chính trị - xã hội thì gọi là dân tộc - quốc
gia. Khái niệm cộng đồng dân cƣ xuất hiện đồng thời với sự ra đời của một
quốc gia, dân tộc, hay nói xa xƣa hơn là của cả lịch sử loài ngƣời. Cộng đồng
dân cƣ có thể tồn tại dƣới các hình thức sau đây.
Các cộng đồng theo khu vực địa lý: ví dụ nhƣ cộng đồng dân cƣ Bắc,
Trung, Nam.
hiện các chức năng của xã hội.
Theo Ngô Đức Thịnh khi nghiên cứu về văn hóa truyền thống Việt
Nam đã định nghĩa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã
hội nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tâm linh của mình” [43, tr.19]. Nhƣ
vậy, giá trị văn hóa đóng vai trò là thành tố để phân biệt di sản văn hóa với
các hiện tƣợng văn hóa nói chung hình thành trong quá trình lịch sử của một
cộng đồng, xã hội nhất định. Di sản văn hóa đƣợc xem là những yếu tố đặc
biệt, nổi bật, là tinh hoa của văn hóa.
Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Di sản văn hóa năm 2009, quy định: “ Di tích lịch sử - văn hóa là
công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc
công trình, địa điểm và các di vật, cổ vật bảo vật quốc gia thuộc công trình,địa
điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [26, tr.33].
Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu
biểu của quốc gia hoặc địa phƣơng;
14
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hƣởng tích cực đến sự phát
triển của quốc gia hoặc của địa phƣơng trong các thời kì lịch sử;
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;
Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
và địa điểm cƣ trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển
kiến trúc, nghệ thuật.
Gọi là di tích lịch sử văn hóa vì chúng đƣợc tạo ra bởi con ngƣời (tập
thể hoặc cá nhân), là kết quả của hoạt động sáng tạo lịch sử, văn hóa của con
chứa đựng nội dung thực hành các hoạt động mang tính chất pháp lý hay nói
cách khác là giữ không để cho bị xâm phạm. Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn,
là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá
hoại, nói cách khác là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự
xuống cấp của kết cấu đó. Phát huy đƣợc hiểu là những tác động làm cho cái
hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến
rộng, từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp.
Có thể đƣa ra thêm một khái niệm về việc Bảo tồn di tích. Đó là những
hoạt động diễn ra thƣờng xuyên nhằm chăm sóc, bảo dƣỡng các di tích lịch sử
văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho di tích tồn tại một cách bền vững, lâu dài.
Công việc bảo tồn di tích đƣợc tiến hành theo định kỳ và đƣợc ghi nhận qua
các thời kỳ lịch sử từ thời phong kiến đến đƣơng đại.
Nhƣ vậy, đối với đề tài này, tác giả đề cập đến khái niệm “bảo tồn”và
“phát huy” với ý nghĩa là bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn
hóa. Đồng thời làm cho nó không ngừng phát triển trong xã hội hiện nay.
1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
lịch sử văn hóa.
1.3.1. Vai trò của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
văn hóa.
Ngày nay trong xu thế hội nhập quốc tế, quá trình toàn cầu hóa đang
diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia, các dân tộc cần phải hƣớng tới việc tôn trọng
16