BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG
ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG MIỀN NÚI VIỆT NAM
DƯỚI GÓC ĐỘ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Võ Thanh Sơn
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Abstract
According to different scenarios, Vietnam is considered one of five countries suffering the
most from impacts of rising sea-levels and climate change. In addition to the coastal zones
and the two large deltas – the Red River and the Mekong River – the uplands of Vietnam that
make up three quarters of the land territory of the country will also be seriously affected. This
paper, therefore, gives an overview of the natural and socio-economic characteristics of
Vietnam’s uplands, including the main environmental and poverty reduction policies applied
in these areas; the significant impacts of climate change on sectors and regions of Vietnam’s
uplands, based on the medium emission scenario (B2) recommended by Ministry of Natural
Resource and Environment, especially the impacts of natural disasters related to extreme
climatic events and climate change, such as typhoons, floods, flash floods, drought, extreme
temperatures and the like; and the difficulties and challenges of sustainable development in
the uplands in the context of climate change. Information about experiences of integrating
climate adaption into the policy making process, drawn from diverse studies in different
regions, and initial recommendations for policy making in Vietnam flowing from this, are
provided here.
1. BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Biến đổi khí hậu đã trở thành một vấn đề thời sự có tính toàn cầu và mọi người ngày càng
nhận thức một cách đầy đủ hơn. Biến đổi khí hậu không còn là dự báo nữa mà đã trở thành
hiện thực và nếu không hành động khẩn trương và kiên quyết thì sẽ quá muộn. Như ông Al
Gore – người nhận giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2007 – đã tuyên bố: “Cuộc khủng hoảng
khí hậu là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà nền văn minh nhân loại từng đối mặt từ
trước đến nay”. Chính vì vậy, Báo cáo Phát triển con người năm 2007/2008 của Liên Hợp
Quốc có chủ đề “Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới
mới có thể giải quyết được vấn đề.
Miền núi Việt Nam giữ một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển bền vững của đất nước,
không những vì chúng chiếm đến ¾ diện tích đất của cả nước, mà vùng miền núi còn quyết
định đến sự phát triển ổn định ở vùng đồng bằng. Xem xét thực trạng phát triển bền vững
vùng miền núi Việt Nam sẽ giúp ta thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA VÙNG MIỀN NÚI
2.1. Đặc điểm tự nhiên và môi trường
2.1.1. Địa hình và cảnh quan
Miền núi Việt Nam chiếm ¾ diện tích tự nhiên với khoảng hơn 24 triệu người trong cộng
đồng 54 dân tộc khác nhau. Đây là nơi lưu giữ các thảm rừng, hệ sinh thái động thực vật
phong phú, nơi đầu nguồn của các dòng sông, có chức năng duy trì cân bằng sinh thái và miền
núi cũng là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho sự nghiệp phát triển kinh tế
của đất nước.
Miền núi Việt Nam phần lớn là địa hình trung du (dưới 500 mét so với mặt biển) và vùng núi
thấp (500-1.500 mét). Khoảng 70% diện tích đất nước có độ cao từ 500 mét trở xuống và 85%
là dưới 1.000 mét. Phần lớn diện tích là đồi núi dốc, với 29% diện tích dốc dưới 15o, 14% từ
15-20o, trên 57% là độ dốc trên 25o. Độ dốc lớn làm khả năng sản xuất nông nghiệp ở miền
núi bị hạn chế.
Miền núi nước ta có thể chia ra thành 5 vùng lớn, đó là vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn
Bắc, Tây Nguyên/Trường Sơn Nam và Đông Nam Bộ.
210
Bảng 1. Một số đặc điểm các vùng miền núi Việt Nam
STT
Vùng miền
núi
Vùng núi từ phía Nam sông Cả đến vùng
thung lũng sông Bung, là vùng có nhiều dãy
núi chạy song song, có độ cao trung bình từ
600-800 mét
4
Vùng Tây
Nguyên –
Trường Sơn
Nam
Vùng núi từ phía Nam đèo Hải Vân đến vùng
Đông Nam Bộ, bao gồm vùng duyên hải
miền Trung, có địa hình cao hơn Trường Sơn
Bắc, bao gồm cao nguyên Tây Nguyên
5
Vùng Đông
Nam Bộ
Vùng đồi núi chạy dài từ tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu đến tỉnh Tây Ninh, có độ cao trung bình
từ vài chục mét đến khoảng 200 mét
Bao gồm 6 tỉnh,
diện tích 40.000
km2, chiếm 12,5%
2.1.4. Tính đa dạng sinh học
Là nơi tiếp xúc với các luồng thực vật từ Hoa Nam, Ấn Độ – Miến Điện và Malaixia –
Inđônêxia, nên thực vật giới của Việt Nam nói chung và của miền núi nói riêng rất đa dạng,
với các kiểu rừng chính sau: (i) Rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh, thường phân bố trên các
vùng đồi núi cao dưới 800 m (ở phía Bắc) và dưới 1.000 m (ở phía Nam), với họ đặc trưng
như họ Đậu (Fabaceae); (ii) Rừng nhiệt đới lá rộng rụng lá mùa khô thường hay gặp ở miền
Bắc và ở các vùng có mùa khô rõ rệt tại miền Nam như Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, với
các họ phổ biến như họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Tử vi (Lythraceae), họ Sau sau
(Hamamelidaceae), họ Bồ đề (Styracaceae)...; (iii) Rừng nhiệt đới lá rộng trên núi đá vôi, có
thành phần thực vật tương đối phong phú, chủ yếu là rừng thường xanh, với các cây như
Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Trai (Garcinia fragraeoides), Hoàng đàn (Cupressus
torulosa)...; (iv) Rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh, thường gặp tại các vùng núi cao trên
800 m ở phía Bắc, gồm các loài cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae), Long não (Lauraceae), Đỗ
quyên (Ericaceae); (v) Rừng ôn đới lá kim phổ biến tại các vùng núi cao trên 1.000 m ở phía
Nam với các loài cây như Tùng, Bách, Thông...; (vi) Rừng tre nứa phân bố rộng khắp từ Bắc
xuống Nam.
Vùng trung du miền núi Việt Nam luôn là nơi lưu trữ tính đa dạng sinh học cao của cả nước.
Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời gian dài, hệ thực vật
rừng Việt Nam, chủ yếu là thuộc các vùng miền núi, vẫn còn phong phú về chủng loại. Cho
đến nay, đã thống kê được 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch và 2.393 loài thực vật bậc
thấp, trong đó có gần 2.000 loài cây lấy gỗ, 3.000 cây làm thuốc, hơn 100 loài tre nứa và
khoảng 50 loài song mây. Theo dự đoán của các nhà thực vật học, số loài thực vật bậc cao có
mạch ít nhất sẽ lên đến 20.000 loài, trong đó có nhiều loài đã được nhân dân ta dùng làm
nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và cho
nhiều mục đích khác.
Hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao, với số loài đặc hữu chíếm khoảng 33% số loài
thực vật ở miền Bắc Việt Nam (Pocs Tamas, 1965) và hơn 40% số loài thực vật toàn quốc
(Thái Văn Trừng, 1970). Phần lớn số loài đặc hữu này tập trung ở bốn khu vực chính: khu
vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao
nguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa nhiệt đới thuộc dãy núi Bắc Trường Sơn.
tăng 2,07%, thì ở miền núi phía Bắc là 2,46%, Tây Nguyên là 5,33%. Thời kỳ 1989-1999,
mức tăng này ở cả nước là 1,7%, Đông Bắc là 1,53%, Tây Bắc là 2,15%, Tây Nguyên là 4,91
%. Theo dân tộc thì dân số người Kinh tăng 1,77%, Tày 2,41%, Mông 4,11%, Cơ Ho 3,96%,
Khơ Mú 3,19%...
Sự gia tăng nhanh dân số ở miền núi và dân tộc thiểu số trước hết liên quan đến sức sinh đẻ
cao và tương đối ổn định của cư dân các tộc người. Trong những năm gần đây, công tác dân
số – kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh cho cả vùng miền núi và các dân tộc thiểu số, nên
tỷ lệ sinh thô đã giảm đi. Tuy nhiên, nhờ công tác y tế đã được cải thiện, nên tỷ lệ chết của trẻ
sơ sinh giảm đi cũng góp phần cho tỷ lệ tăng dân số cao ở vùng miền núi và dân tộc ít người.
Đóng góp một phần quan trọng làm tăng dân số, nhất là dân số người Kinh trong những năm
qua ở miền núi nước ta là quá trình biến động cơ học mà thực chất là sự di cư ồ ạt cư dân từ
nơi khác tới, thực hiện chủ trương phân bố lại dân cư và phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội ở
miền núi của Đảng và Nhà nước.
Ở miền núi phía Bắc, từ năm 1960 đến năm 1974, đã có trên 38 vạn người và từ năm 1975
đến cuối năm 1979 đã có gần 28 vạn người từ các tỉnh đồng bằng, trung du di chuyển đến,
213
làm cho tốc độ tăng trưởng cơ học dân cư hàng năm của vùng lên với 3,4%, trong khi tốc độ
tăng dân số tự nhiên chỉ là 2,8%. Ở Tây Nguyên, tính ra trong số 80,7 vạn người tăng lên
trong 10 năm (1976-1986), có tới 46,5 vạn người, chiếm tới 60% số người tăng lên do di dân,
trung bình hàng năm, dân số cơ học tăng lên là 3,31%. Tính chung cả nước, trong hơn 30 năm
(1960-1992) đã chuyển được 5,3 triệu người lên vùng núi và cao nguyên để phát triển kinh tếxã hội và xây dựng các vùng kinh tế mới.
Đối với dân tộc thiểu số, mức độ di chuyển của họ rất lớn, nhưng đáng chú ý là trong những
năm gầm đây, xuất hiện nhiều luồng di cư tự do (di dân tự phát) của các dân tộc thiểu số miền
núi phía Bắc vào Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Tính chung trong cả thời kỳ 1976-1990, số
dân cư tự do thuộc các dân tộc Tày, Nùng, Dao, H’mông..., lên trên 21 vạn người.
Thành phần dân tộc và phân bố:
Trong số 54 dân tộc của nước ta hiện nay, chủ yếu có 4 dân tộc Kinh, Hoa, Khơ Me và Chăm
chủ yếu cư trú ở vùng đồng bằng, ven biển, còn 50 dân tộc thiểu số khác sinh sống hầu hết ở
phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ rừng hiện có và trồng mới, đưa tỷ lệ che phủ của
rừng lên 43% (cụ thể trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (1 triệu trồng mới),
khoanh nuôi tái sinh 1 triệu ha, trồng 3 triệu ha rừng sản xuất). 5.900 tỷ đồng (1998-2005)
đã chi để trồng mới 1,55 triệu ha rừng (63% kế hoạch), có 0,77 triệu ha rừng sản xuất
(26% kế hoạch) (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006).
+ Nghị định 02 (1994), Nghị định 196 (1999) về giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp nhằm
mục đích sử dụng hiệu quả đất rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng, đảm
bảo mỗi mảnh đất, khoảng rừng có chủ quản lý cụ thể. Năm 2002, 12,8 triệu ha đã giao
(70,4% diện tích lâm nghiệp), trong đó doanh nghiệp Nhà nước là 4,5 triệu ha, hộ gia
đình, tập thể: 4,8 triệu, còn lại là các ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
+ Chính sách xây dựng hệ thống các khu bảo tồn: Nước ta đã xây dựng được một hệ thống
khu bảo tồn thiên nhiên được gọi chung làảừng đặc dụng và chia ra làm ba hạng chính:
vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và khu bảo vệ cảnh quan. Tính đến năm 2005, đã
có 128 khu rừng đặc dụng được thành lập với diện tích trên 2,5 triệu hecta, chiếm khoảng
7,6% diện tích tự nhiên cả nước, bao gồm 30 vườn quốc gia, 59 khu bảo tồn thiên nhiên và
39 khu bảo vệ cảnh quan.
Bảng 2. Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam
Hạng khu bảo tồn
TT
Số lượng
Diện tích (ha)
1
Vườn quốc gia
30
128
2.541.675
3
Nguồn: Phòng Bảo tồn, Cục Kiểm lâm, 2005.
Chính sách kinh tế:
Một trong những chính sách kinh tế lớn, góp phần ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc là
chương trình định canh định cư được triển khai từ năm 1968 để giảm áp lực canh tác nương
rẫy lên rừng.
+ Nghị quyết 38/CP (1968) về Cuộc vận động định canh định cư cho đồng bào dân tộc, với
mục đích chuyển đồng bào dân tộc còn du canh du cư chuyển qua định canh định cư. Cuộc
vận động này thực hiện trong 40 năm ở miền Bắc và hơn 30 năm ở miền Nam. Nghị quyết
22/TW (1989) tiếp tục công tác định canh định cư gắn với việc phát triển kinh tế-xã hội
địa phương.
215
+ Trong khoảng 10 năm gần đây, công tác định canh định cư thường gắn với các chương
trình phát triển kinh tế cho các xã khó khăn (135), xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ miền núi
(134), Chương trình trồng rừng (327/661) và các chương trình kinh tế-xã hội khác.
Chính sách kinh tế-xã hội nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo:
Các chính sách phát triển kinh tế-xã hội này bao gồm các chương trình xóa đói giảm nghèo
135, 134 và Chương trình giảm nghèo bền vững cho 62 huyện trong toàn quốc.
+ Chương trình 135, hay còn gọi là Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó
khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, thực hiện theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ theo 2 giai đoạn.
(Nguồn: Ủy ban Dân tộc, http://www.ubnd.gov.vn).
216
+ Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối
với 62 huyện nghèo, là một chương trình phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ Việt Nam
nhằm tạo ra sự chuyển biến nhanh về đời sống vật chất và tinh thần cho các hộ nghèo, người
các dân tộc thiểu số ở 62 huyện nghèo trong cả nước (những huyện có tỷ lệ hộ nghèo trong
tổng số hộ của huyện lớn hơn 50%), sao cho đến năm 2020 có thể ngang bằng với các huyện
khác trong khu vực, với 4 nhóm biện pháp chính: (i) Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu
nhập (bao gồm cả đưa người lao động ở huyện nghèo đi lao động ở nước ngoài); (ii) Đào tạo,
dạy nghề, nâng cao dân trí; (iii) Bổ sung nguồn lực con người ở các cấp quản lý và các tổ
công tác; và (iv) Đầu tư cơ sở hạ tầng ở cả cấp thôn/bản, xã, huyện.
Hộp 1. Tình hình nghèo đói ở nông thôn miền núi (Võ Thanh Sơn, 2004)
Theo Ủy ban Dân tộc Miền núi (2002), những đặc điểm nghèo đói của Việt Nam là: (i) tập trung ở
vùng nông thôn và miền núi, nơi thu nhập của hộ gia đình thấp, không ổn định, với mức độ phát
triển kinh tế thấp và nơi tài nguyên thiên nhiên hạn chế; và (ii) các nhóm dân tộc ít người thường là
nạn nhân của sự nghèo đói. Vùng trung du và miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên vẫn là
những vùng có tỷ lệ nghèo đói cao nhất vì ở vùng miền núi, người dân lại phải đối mặt với những
hạn chế của cơ sở hạ tầng và dịch vụ như điện, đường sá, trường học và trạm xá.
Hiện nay, dù một số lớn người Kinh đã di cư lên vùng miền núi, nhưng đại bộ phận dân cư ở đó là
người dân tộc, mà số đông vẫn còn có phương thức canh tác nương rẫy. Không giống như người
Kinh, các dân tộc thiểu số thường sống khá phân tán và cách xa đường quốc lộ cũng như các khu
dân cư đông đúc, nên họ có ít cơ hội tiếp cận với điều kiện phát triển kinh tế và luôn phải đối mặt
với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt để có thể tồn tại. Theo Điều tra nghèo đói quy mô lớn (PMS
– Large-scale Poverty Monitoring Survey), tỷ lệ đói nghèo của người Kinh là 39%, người Tày là
59%, người Dao là 89% và người H’mông là 100% (Lê Duy Phong và Hoàng Văn Hòa, 1999: 66).
Theo những nghiên cứu của Liên Hợp Quốc, Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới,
(Anonym, 1999), nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam là: (i) tách biệt (về địa lý, ngôn ngữ, xã hội,
phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, phát triển bền vững miền núi được thực hiện bằng cách
tổng hòa những mục tiêu về kinh tế – xã hội – môi trường trong bối cảnh văn hóa rất đa dạng
của nhiều dân tộc thiểu số của Việt Nam (Hình 1).
Hình 1. Phát triển bền vững trong sự đa dạng về văn hóa
2.3.2. Một số thách thức cho sự phát triển bền vững ở miền núi
Những thách thức liên quan đến kinh tế và xã hội:
Khi nghiên cứu về những khó khăn trong công cuộc phát triển bền vững miền núi Việt Nam,
Jamison, Lê Trọng Cúc và Rambo (1999) cho rằng vùng miền núi Việt Nam vẫn đối mặt với
tình trạng phát triển chậm chạp và khó khăn, phần lớn là bị tác động của vòng xoáy sự gia
tăng dân số, suy thoái môi trường, nghèo đói, sự phụ thuộc vào nguồn lực hỗ trợ bên ngoài và
sự phân hóa về kinh tế, văn hóa, xã hội: (i) Gia tăng dân số nhanh, tạo ra sự khan hiếm đất
canh tác ở miền núi; mật độ dân số tăng đã tiến nhanh hoặc đã vượt quá sức tải của đất canh
tác ở miền núi; (ii) Suy thoái môi trường, đặc biệt là diện tích rừng giảm sút, đa dạng sinh học
bị thất thoát, đất đai bị suy thoái, năng suất cây trồng thấp, hạn hán và lũ lụt ngày càng
nghiêm trọng; (iii) Đói nghèo, đặc biệt ở các vùng dân tộc ít người vùng sâu vùng xa ở miền
218
núi, vẫn còn cao so với các vùng khác, mặc dù đã được cải thiệt rất nhiều so với trước kia;
(iv) Sự phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài, khi mà nhiều tỉnh miền núi vẫn phải nhận sự trợ
cấp của trung ương để duy trì hệ thống hành chính của mình, khi mà kiến thức bản địa của
người dân tộc ít người chưa được thể hiện nhiều trong các chính sách phát triển kinh tế-xã hội
của địa phương; và (v) Sự phân hóa về kinh tế, văn hóa, xã hội, mặc dù chưa có nhiều nghiên
cứu, nhưng tình trạng khoảng cách giàu nghèo gia tăng, hạn chế tiếp cận tới giáo dục, y tế
cũng như nguồn lực tài chính trong đời sống xã hội ở miền núi.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), những thách thức đối với sản xuất nông nghiệp và nông
thôn Việt Nam, đặc biệt ở miền núi là: (i) tài nguyên phục vụ cho sản xuất đang tiếp tục suy
giảm nhanh, tình trạng ô nhiễm môi trường có xu hướng diễn ra trên diện rộng; (ii) phân hóa
chết, 11 người mất tích và 629 người bị thương; 21.610 nhà bị sập, trôi; 258.260 nhà hư hại
219
và 294.710 nhà bị ngập, với tổng thiệt hại ước tính 14.014 tỷ đồng. Với số dân 5 tỉnh và TP.
Đà Nẵng là 6 triệu người, thì một cơn bão này đã gây thiệt hại cho trung bình là 2,3 triệu
đồng/người cho 6 triệu người dân của vùng, tương đương với 20% GDP trung bình/người của
Việt Nam. Nói một cách khác, thiệt hại của một cơn bão đã lớn hơn 2 lần mức đầu tư cho
Chương trình 5 triệu ha rừng trong giai đoạn 1998-2005 (5.900 tỷ đồng), bằng 140% hỗ trợ
cho Chương trình 135 giai đoạn 1 năm 1997-2006 (10.000 tỷ đồng).
Hình 2. Tổng thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam theo các năm và theo một số tỉnh miền núi
(Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, 2009).
3. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI
3.1. Kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Trong 4 kịch bản biến đổi khí hậu do tổ chức SRES, IPCC (Cơ quan Liên chính phủ về Biến
đổi Khí hậu)thực hiện, thì kịch bản B2, kịch bản phát thải khí nhà kính trung bình (mà chủ
yếu là chất CO2) sẽ là kịch bản có khả năng xảy ra nhất và đây cũng là kịch bản được Bộ Tài
nguyên và Môi trường khuyến cáo sử dụng (Trần Thục, 2009). Theo kịch bản này, nhiệt độ
của nước ta sẽ tăng lên 0,7oC và mực nước biển sẽ tăng thêm 0,5 mét vào năm 2020 (Bộ Tài
nguyên và Môi trường, 2009). Hơn nữa, mốc năm 2020 cũng là mốc các kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội đang triển khai xây dựng.
Hiện nay, đã có một số kịch bản tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã được
nghiên cứu cho vùng ven biển, đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ. Trong 50 năm qua (19582007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng từ 0,5oC đến 0,7oC, còn lượng
mưa năm thì giảm khoảng 2% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009). Theo kịch bản trung
bình B2, thì nước biển dâng lên 12 cm vào năm 2020, 30 cm – năm 2050 và 75 cm – năm
2100. Nếu nước dâng lên 65 cm, đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập 12,8% diện tích. Nếu
nước dâng lên 75 cm – nước sẽ ngập 19% diện tích. Tuy nhiên, chưa có nhiều các nghiên cứu
2050
2100
Tây Bắc
0,5
0,7
1,0
1,3
2,6
Đông Bắc
0,5
0,7
1,0
1,2
2,5
Đồng bằng Bắc Bộ
0,9
1,9
Tây Nguyên
0,3
0,5
0,6
0,8
1,6
Nam Bộ
0,4
0,6
0,8
1,0
2,0
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009.
3,0
3,8
7,4
Đông Bắc
1,4
2,1
3,0
3,8
7,3
ĐB Bắc Bộ
1,6
2,3
3,2
4,1
7,9
0,5
0,7
1,4
Nam Bộ
0,3
0,4
0,6
0,8
1,5
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009.
3.2. Tác động của biến đổi khí hậu lên các ngành và vùng
Cơ chế tác động của biến đổi khí hậu lên vùng miền núi cũng rất phúc tạp và đa dạng, nhưng
cơ chế này thể hiện rõ ràng nhất là thông qua chu trình nước và biểu hiện thông qua những
nhiễu loạn và bất thường của thời tiết (Hình 3).
Hình 3. Cơ chế tác động của biến đổi khí hậu lên vùng miền núi
Đối tượng chính chịu sự tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu là hệ tự nhiên và hệ xã hội.
Các thành phần của hệ tự nhiên bị tác động bao gồm cảnh quan, địa hình, tài nguyên nước,
cũng như thảm thực vật, hệ sinh thái rừng và hệ động vật. Những tác động lên hệ tự nhiên này
có thể làm thay đổi 4 chức năng hay 4 “dịch vụ hệ sinh thái”, đó là: (i) dịch vụ cung cấp, bao
+ Dải ven biển:
ĐB Bắc Bộ, ĐB
sông Cửu Long,
duyên hải Trung
Bộ
+ Nông nghiệp (trồng trọt, chăn
nuôi, thủy sản)
+ Hải đảo
+ Cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp,
năng lượng
+ Các hệ sinh thái biển và ven biển
+ Tài nguyên nước (nước mặt, nước
ngầm)
Cộng đồng dễ bị
tổn thương
+ Nông dân
nghèo
+ Các dân tộc
thiểu số, người
già, trẻ em, phụ
nữ
+ Dân cư ven
biển, nhất là nông
dân nghèo, ngư
núi, nhất là dân
tộc thiểu số
+ Vùng núi: Tây
Bắc, Đông Bắc,
Bắc Trung Bộ và
Tây Nguyên
+ Nơi cư trú, sức khỏe và đời sống
+ Người già, phụ
nữ, trẻ em
+ Dải ven biển:
ĐB Bắc Bộ, ĐB
sông Cửu Long,
duyên hải Trung
Bộ
+ Nông nghiệp (trồng trọt, chăn
nuôi, thủy sản)
+ Dân cư ven
biển, nhất là ngư
dân
+ Hải đảo
+ Cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
+ Đồng bằng và
trung du Bắc Bộ
Ngành, lĩnh vực dễ bị tổn thương
+ Giao thông thủy
+ Tài nguyên nước
+ ĐB sông Cửu
Long
Cộng đồng dễ bị
tổn thương
Trung Bộ và Tây
Nguyên
+ Người già, phụ
nữ, trẻ em
+ Tây Nguyên
Các hiện
tượng khí
hậu cực
đoan
khác(*)
+ Dải ven biển
Trung Bộ
+ Nông nghiệp và an ninh lương
thực
thuật và năng suất lao động có thể làm giảm các cơ hội thu nhập và ảnh
hưởng tới phát triển kinh tế;
+ Các sức ép xã hội có nguồn gốc từ sử dụng tài nguyên thiên nhiên có thể
dẫn tới xung đột, mất ổn định cuộc sống và sinh kế, buộc các cộng đồng
phải di cư.
Mục tiêu 7:
Đảm bảo bền
vững về môi
trường
+ Các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của BĐKH có thể gây thay đổi và
suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái, giảm đa dạng
sinh học, tăng ô nhiễm môi trường, là một thách thức lớn cho phát triển
bền vững;
+ BĐKH có thể thay đổi quá trình tương tác giữa hệ sinh thái và con
người, dẫn tới mất đa dạng sinh học và các nguồn bổ trợ cuộc sống cơ bản
từ tài nguyên thiên nhiên cho sinh kế con người đối với nhiều cộng đồng.
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008.
224
Những thành phần của hệ xã hội bị tác động do biến đổi khí hậu là: (i) cơ sở hạ tầng, như
đường sá, cầu cống; công trình thủy lợi, đập, hồ chứa nước; đê sông và biển; nhà cửa, trường
học, bệnh viện; nhà máy thủy điện, hệ thống truyền tải điện, truyền thông; và (ii) hệ thống sản
xuất nông lâm nghiệp. Đấy là những hợp phần rất nhạy cảm với những thiên tai liên quan đến
khí hậu.
Như vậy, trong 6 tác động do Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
chuỗi và lưới thức ăn cũng
thay đổi
Thủy vực nội địa (sông,
hồ, đầm lầy...) bị tác động
do sự thay đổi nhiệt độ
nước và mực nước
Nguồn
Trương
Quang Học,
2008
+ Nguy cơ diệt vong của
nhiều loài động, thực vật
bản địa
2
Tài
nguyên
nước
+ Tài nguyên nước đang chịu thêm nguy cơ suy giảm do
hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa
Bộ Tài
nguyên và
Môi trường,
+ Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng
vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn cho 2008
trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu
bệnh hại cây trồng; ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng
của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh,
truyền dịch của gia súc, gia cầm
+ Ranh giới của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển về phía
vùng núi cao hơn và các vĩ độ phía Bắc. Phạm vi thích
nghi của cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹp thêm
Nguồn
nguyên và
Môi trường,
2008;
Đào Xuân
Học, 2009;
Cuong,
2008
+ BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cường độ, tính
biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết
nguy hiểm như bão, tố, lốc, các thiên tai liên quan đến
nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng
hay hạn hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm giảm
năng suất và sản lượng của cây trồng và vật nuôi
+ Sự thay đổi các yếu tố khí hậu và thời tiết có thể làm
nảy sinh một số bệnh mới đối với chăn nuôi gia súc, gia
cầm, thủy cầm và phát triển thành dịch hay đại dịch
+ Dòng chảy và xói mòn đất tăng lên gây ra suy thoái độ
màu mỡ của đất và vì vậy, làm suy giảm năng suất
4
hàng năm
+ BĐKH làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới
như sốt rét, sốt xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng
và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật chủ
226
Bộ Tài
nguyên và
Môi trường,
2008
STT
Biến đổi khí hậu
Lĩnh vực
tác động
Nhiệt độ tăng lên
Biến động về lượng mưa
Nguồn
mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm
khuẩn dễ lây lan...
+ Thiên tai như bão, tố, nước dâng, ngập lụt, hạn hán,
mưa lớn và sạt lở đất, v.v... gia tăng về cường độ và tần
số, làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng gián
- 1,0
- 3,7
Đà Nẵng (miền Trung)
- 2,4
- 6,8
- 1,2
- 4,2
TP. Hồ Chí Minh (miền Nam)
- 1,1
- 6,0
- 0,2
- 1,7
Trung bình
- 2,4
- 8,4
Bước thứ 1: Xác định chỉ tiêu của quá trình tích hợp yếu tố BĐKH vào các chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, phát triển ngành và các địa phương.
Bước thứ 2: Đánh giá tác động của BĐKH đến các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế-xã hội, phát triển ngành và các địa phương.
Bước thứ 3: Đánh giá quá trình thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
ngành và địa phương.
Bước thứ 4: Đánh giá nhận thức và năng lực về BĐKH của đội ngũ cán bộ của các chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, nhằm thực hiện quá trình tích hợp.
Bước thứ 5: Đánh giá các tác động của quá trình tích hợp (tích cực và tiêu cực).
Bước thứ 6: Xây dựng cơ chế chính sách và chiến lược tích hợp (bao gồm cả các vấn đề về
tài chính, kinh tế và chính sách).
Bước thứ 7: Thực hiện quá trình tích hợp trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển.
4.2. Những thách thức khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện thì gặp rất nhiều thách thức.
Khó khăn trước tiên trong thực hiện Chương trình là sự yếu kém về nhận thức, cả về phạm vi
và mức độ, cũng như các biện pháp để ứng phó với BĐKH. Sự thiếu nhận thức tồn tại ở các
cấp, từ các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ ở các ngành và địa phương, các tổ chức xã
hội, cũng như bản thân các cộng đồng dễ bị tổn thương. Vì thế, nâng cao nhận thức cho mọi
tầng lớp rõ ràng là hoạt động cần được ưu tiên đầu tiên.
Khó khăn thứ hai trong thực hiện Chương trình là thiếu sự phối hợp để ứng phó với BĐKH
trong xây dựng các chính sách, quy hoạch và chương trình trong các ngành và lĩnh vực, ngay
cả trong những ngành nhạy cảm với khí hậu. Chưa có nhận thức về sự cần thiết của việc tích
hợp. Việc tích hợp BĐKH trong quy hoạch, thiết kế và thực thi các chính sách hầu như chưa
có, đặc biệt là chưa gắn kết BĐKH với các hoạt động giảm đói nghèo và việc làm.
Khó khăn thứ ba trong triển khai Chương trình (khi nhận thức đã được nâng cao) là thiếu các
công cụ và phương pháp luận để hướng dẫn và tư vấn cho các nhà ra chính sách. Điều này
xảy ra ngay cả đối với các cán bộ chuyên môn ở các ngành, các cấp ở địa phương và các cộng
đồng dễ bị tổn thương. Vì thế, đào tạo và nâng cao kiến thức, thu thập và xử lý số liệu, phát
228
người; (ii) Thu nhận các hiểu biết chính xác về những giải pháp sẵn có nhằm giải quyết các
hiểm họa đó, cũng như tất cả các chi phí và lợi ích của những giải pháp đó; và (iii) Đặt mức
ưu tiên cho những giải pháp có hiệu lực nhất và lồng ghép chúng vào chiến lược phát triển
kinh tế.
Khuôn khổ đánh giá hiểm họa khí hậu tổng thể được áp dụng cho các nghiên cứu điển hình
nêu trên là (ECA, 2009:28):
+ Chúng ta đang chịu hiểm họa ở đâu và từ cái gì? Xác định những hiểm họa cao nhất cũng
như những vùng hoặc lãnh thổ bị tác động của hiểm họa trên và đưa ra bản đồ phân bố
toàn bộ dân số, phần dân số bị ảnh hưởng và giá trị kinh tế.
+ Quy mô của những thiệt hại dự kiến là như thế nào? Hãy xác định những thứ gì đang bị
nguy hiểm từ những hiểm họa bằng cách sử dụng những kịch bản và mô hình đánh giá
thiệt hại tiềm tàng để tính được tổng hiểm họa khí hậu cho một vùng cụ thể với trọng tâm
– đó là hiểm họa đến từ khí hậu hiện tại, cộng thêm sự tăng trưởng kinh tế, cộng thêm sự
biến đổi khí hậu.
229
Hình 4. Khuôn khổ đánh giá hiểm họa khí hậu tổng thể (ECA, 2009)
+ Chúng ta sẽ phản ứng lại như thế nào? Xây dựng một bộ danh mục những phản hồi với
các đánh giá chi phí-lợi ích chi tiết khi mà tỷ lệ chi phí-lợi ích được tính toán bằng cách
tính toán vốn đầu tư và chi phí điều hành với tổng lợi ích.
+ Chúng ta sẽ thực hiện như thế nào? Thực hiện một chiến lược ứng phó hiểm họa khí hậu
tổng thể sao cho có thể vượt qua được những rào cản và đưa ra được những sáng kiến
thích ứng then chốt và được tài trợ toàn bộ.
+ Những tác động, hiệu quả và các bước tiếp theo là gì? Đo đạc mức độ thành công, thực
hiện quy trình quản lý rủi ro định kỳ và điều chỉnh những chiến lược khi các kịch bản biến
đổi khí hậu thay đổi.
Các bước thực hiện một chiến lược tổng hợp cho sự phát triển thích ứng với biến đổi khí hậu
(ECA, 2009:64-67):
Bước 1: Bắt đầu với một cách tiếp cận và mục tiêu tổng thể.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. AIDA, 2007. Cơ sở cho phát triển nông thôn theo vùng ở Việt Nam. Đại sứ quán Tây Ban
Nha ở Việt Nam, 500 trang.
2. Asian Development Bank, 2009. The Economics of Climate Change in Southeast Asia: A
Regional Review. Mandaluyong City, Philippines: Asian Development Bank.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006. Ảnh hưởng của chính sách nông lâm nghiệp và nuôi trồng
thủy sản tới phát triển bền vững ở Việt Nam. NXB Lao động Xã hội, Hà Nội.
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008. Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến
đổi khí hậu. Hà Nội, 65 trang.
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009. Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt
Nam. 33 trang.
6. Cuong, N., 2008. Vietnam Country Report: A Regional Review on the Economics of
Climate Change in Southeast Asia. Report submitted for RETA 6427: A Regional Review
of the Economics of Climate Change in Southeast Asia. Asian Development Bank,
Manila. Processed.
7. ECA, 2009. Shaping Climate-Resilient Development: A Framework for DecisionMaking. A Report of the Economics of Climate Adaptation Working Group. 164 pp.
8. Hoàng Trung Hải, 2009. Báo cáo cho Hội nghị với các nhà tài trợ về ứng phó với biến đổi
khí hậu. Hà Nội, 09/10/2009.
231
9. Đào Xuân Học, 2009. Kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông
nghiệp và phát triển nông thôn. Bài trình bày tại Hội thảo Việt Nam thích ứng với biến
đổi khí hậu, 31/7/2009 tại Hội An, Quảng Nam, 12 trang.
10. Truong Quang Hoc, 2007. Biodiversity and Climate Change: General Issues. ISGE
Newsletter, MONRE, Volume 8, May 2007: 1-2.
11. International Food Policy Research Institute, 2009. Addressing Climate Change in the
Asia and Pacific Region. Building Climate Resilience in the Agriculture Sector.
Unpublished. TA 6479-REG, 27 April 2009.