BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------------------------------------
TRƯƠNG NGỌC PHƯỢNG
CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ TÁC ĐỘNG ĐẾN XU HƯỚNG
MUA CỔ PHIẾU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành
Mã số chuyên ngành
Quản trị Kinh doanh :
60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thế Khải
TP. Hồ Chí Minh, Năm 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Các yếu tố tâm lý tác động đến xu hướng mua
cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh” là bài nghiên cứu của chính tôi.
Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam
đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được
Cám ơn những người bạn, đồng nghiệp, nhà đầu tư trong các công ty chứng
khoán đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu phục vụ cho
luận văn này.
-
Tôi cảm ơn gia đình, các anh (chị) và bạn bè, những người đã cho tôi những
lời khuyên chân thành và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài của mình.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày
tháng
năm 2016
TRƯƠNG NGỌC PHƯỢNG
iii
TÓM TẮT
Luận văn “Các yếu tố tâm lý tác động đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà
đầu tư cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ” nhằm
phân tích các nhân tố tâm lý tác động đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá
nhân tại sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu
chính thức. Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính : kỹ
thuật thảo luận nhóm được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm giúp phát hiện các
vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, là căn cứ quan trọng để đưa ra mô hình nghiên
cứu. Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng: phỏng
Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................3
1.4
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................3
1.5
Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................3
1.6
Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu ..................................................................4
1.7
Kết cấu nghiên cứu ........................................................................................5
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ............................................................................. 7
2.1 Xu hướng mua ...............................................................................................7
2.2
Một số lý thuyết nền ......................................................................................8
2.2.1
Thuyết tự nghiệm .................................................................................... 8
2.2.2
Ảo tưởng con bạc và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân . 19
2.4.6
nhân
Sự quen thuộc và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá
............................................................................................................... 20
v
2.4.7
nhân
Hành vi theo đám đông và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá
............................................................................................................... 22
Chương 3: THIẾT KẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……………… 26
3.1 Quy trình nghiên cứu ...................................................................................26
3.2
Thiết kế nghiên cứu .....................................................................................27
3.2.1
Nghiên cứu sơ bộ .................................................................................. 27
3.2.2
3.3.7
Thang đo hành vi theo đám đông (ký hiệu HVDD) .............................. 34
3.3.8
Thang đo xu hướng mua cổ phiếu (ký hiệu XHM) ............................... 34
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 35
4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu............................................................................35
4.1.1
Làm sạch và mã hóa mẫu ...................................................................... 35
4.1.2
Thống kê mô tả thông tin định danh ..................................................... 36
4.1.3
Thống kê mô tả biến quan sát ............................................................... 37
4.2
Kiểm định độ tin cậy và độ phù hợp của thang đo .......................................38
4.2.1
Kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha ...................................... 38
4.4.1 Kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể - trường hợp
mẫu độc lập (Independent samples T-Test) ....................................................... 51
vi
4.4.2
4.5
Kiểm định One-way Anova .................................................................. 52
Thảo luận kết quả .........................................................................................55
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................. 59
5.1 Kết luận........................................................................................................59
5.2
Một số kiến nghị ..........................................................................................61
5.2.1
Đối với nhà đầu tư cá nhân ................................................................... 61
5.2.2
Đối với công ty chứng khoán ................................................................ 62
5.2.3
Đối với cơ quan quản lý ........................................................................ 63
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước………………………………………….. 12
Bảng 2.2: Giả thuyết kỳ vọng của các biến độc lập ..................................................24
Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả mẫu khảo sát ...........................................................36
Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả các nhân tố ..............................................................37
Bảng 4.3: Thống kê kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha ...................................39
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định KMO & Bartlett’s Test……………………………...40
Bảng 4.5: Kết quả phân tích nhân tố sau khi xoay ....................................................41
Bảng 4.6: Kết quả phân tích nhân tố xu hướng mua sau khi xoay ...........................42
Bảng 4.7: Tóm tắt kiểm định thang đo……………………………………………. 43
Bảng 4.8: Tương quan Pearson giữa các nhân tố tâm lý...........................................45
Bảng 4.9: Kết quả của mô hình hồi qui…………………………………………… 46
Bảng 4.10: Tương quan hạng Spearman giữa các biến độc lập với phần dư............48
Bảng 4.11: Kết luận về giả thuyết nghiên cứu ..........................................................51
Bảng 4.12: Kiểm định sự bằng nhau của tổng thể giới tính ......................................52
Bảng 4.13: Kết quả kiểm định sự khác biệt của tổng thể theo độ tuổi .....................52
Bảng 4.14: Kết quả kiểm định sự khác biệt của tổng thể theo thu nhập ...................53
Bảng 4.15: Kết quả kiểm định sự khác biệt của tổng thể theo thời gian tham gia thị
trường ........................................................................................................................54
Bảng 4.16: Kết quả kiểm định sự khác biệt của tổng thể theo trình độ học vấn ......55
ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Cụm từ
Tiếng Anh
Thành phố Hồ Chí Minh
TP. HCM
OLS
Ordinal Least Squares
Phương pháp bình phương
nhỏ nhất thông thường
Thị trường chứng khoán
TTCK
SPSS
Statistical Package for the
Social Sciences
Phần mềm phân tích dữ liệu
VIF
Variance Inflation Factor
Nhân tử phóng đại phương sai
VN-Index
Vietnam Index of Stock Price
chỉ bắt đầu sôi động từ năm 2006, trong một khoảng thời gian ngắn từ 08/2006 đến
03/2007, VN Index đã đạt mốc cao nhất trong lịch sử giao dịch (từ 388 điểm lên đến
1.170 điểm). Tuy nhiên, VN Index đã giảm một mạch xuống 241 điểm vào tháng
03/2009, đây là thời kì kinh hoàng của thị trường chứng khoán Việt Nam. Nguyên
nhân là do các nhà đầu tư cá nhân rút vốn hàng loạt và đổ xô bán tháo khi thị trường
có dấu hiệu giảm, thị trường xuất hiện hiện tượng hành vi theo đám đông (Lê Minh
Uyên và Trương Ngọc Hồng, 2014). Sau đó một thời gian dài, VN Index vẫn chật vật
đi tìm lại thời kỳ hoàng kim của mình nhưng phần đông nhà đầu tư trên thị trường là
nhà đầu tư cá nhân, họ bị cảm xúc tác động lên xu hướng đầu tư nên thị trường chứng
khoán có những đợt tăng giảm một cách nhanh chóng.
Khi yếu tố tâm lý chi phối phần lớn thì thị trường không còn phụ thuộc vào
tình hình kinh kinh tế cũng như sức khỏe của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán. Tiêu biểu như vào tháng 08/2012, sau khi Ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu
- 2-
Kiên), thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB)
bị bắt, trong 3 ngày (từ 21/08/2012 đến ngày 23/08/2012) chỉ số VN Index đã giảm
hơn 10%, tất cả là do những tin đồn trên thị trường cùng với tâm lý hoang mang của
nhà đầu tư cá nhân. Hay chỉ trong 1 phiên giao dịch ngày 08/05/2014, cùng với tin
Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào Biển Đông, VN Index đã mất 5,89%, tỷ lệ
giảm mạnh nhất kể từ 2001. Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam như
nghiên cứu tác giả Phan & Zhou (2014) cho thấy yếu tố tâm lý ( quá tự tin, rủi ro tâm
lý, hành vi đám đông ) tác động đến hành vi của nhà đầu tư. Nghiên cứu của Lưu Thị
Bích Ngọc (2013) cũng cho thấy tầm quan trọng của yếu tố hành vi trên thị trường
chứng khoán. Các nhà đầu tư tổ chức có quy mô tận dụng lợi thế sẵn có để điều khiển,
xem thị trường như công cụ tài chính hái ra tiền và người thiệt thòi hơn hết là các nhà
đầu tư cá nhân nhỏ lẻ.
Từ đó tác giả thấy rằng thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi các nhà đầu tư
1.3
Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung trả lời 2 câu hỏi nghiên cứu:
Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư
cá nhân tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh?
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý đến xu hướng mua cổ phiếu của
nhà đầu tư cá nhân như thế nào?
1.4
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là xu hướng hành vi và các yếu tố tác động đến xu
hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân.
Đối tượng khảo sát là nhà đầu tư cá nhân đã, đang và sẽ tiếp mục tham gia
đầu tư trên thị trường giao dịch chứng khoán TP. HCM, không bao gồm
nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài lĩnh vực tài chính.
Phạm vi nghiên cứu: thị trường giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh.
1.5
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên
chính:
Đối với nhà đầu tư cá nhân: Kết quả nghiên cứu là bằng chứng thực
tế về tầm quan trọng của yếu tố tâm lý trong xu hướng mua cổ phiếu, là hành vi hiện
hữu của nhà đầu tư. Do đó, nghiên cứu này là căn cứ để nhà đầu tư tham khảo, xem
xét và điều chỉnh hành vi để có những quyết định mua thích hợp, đem lại lợi nhuận.
Đối với công ty chứng khoán: Nghiên cứu cung cấp cho công ty chứng
khoán và nhà tư vấn gốc nhìn tổng thể về hành vi của nhà đầu tư. Là nền tảng để dự
đoán xu hướng cổ phiếu trong tương lai, tư vấn khách hàng chính xác hơn.
- 5-
1.7
Kết cấu nghiên cứu
Luận văn có kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu.
Chương này giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu, nêu rõ lý do hình thành
nên đề tài, đưa ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và đối tượng nghiên
cứu, ý nghĩa nghiên cứu và giới thiệu sơ lược kết cấu đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trình bày các lý thuyết, nghiên cứu trước có liên quan làm cơ sở cho các lập
luận trong luận văn này. Từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu.
Chương này trình bày các lý thuyết, các nghiên trước trước có liên quan, mối
quan hệ giữa các yếu tố tâm lý và xu hướng mua của nhà đầu tư cá nhân. Từ đó xây
dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Bố cục chương này sẽ được trình bày như
sau:
- Lý thuyết tự nghiệm và hành vi đám đông
- Các nghiên cứu trước
- Phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất.
2.1
Xu hướng mua
Mô hình TRA của Ajzen và Fishbein giải thích những hoạt động trước khi
hình thành nên hành vi tiêu dùng, mô hình cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự
đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng, tức là hành vi được hình thành từ xu hướng và
quyết định. Cũng như Brown và cộng sự (2001), xu hướng mua liên quan đến khuynh
hướng đối với hành vi mua, khuynh hướng này có thể được giải thích bằng các hình
thức như là việc tìm kiếm thông tin đánh giá thay thế và tìm kiếm sản phẩm.
Đầu tiên, xu hướng người tiêu dùng hình thành từ nhu cầu, bị chú ý bởi các
thuộc tính có lợi, đo lường niềm tin và đánh giá thông qua nhận thức bản thân. Người
tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các lợi ích cần thiết và có mức độ
khác nhau.
Đồng thời tham khảo thông tin và ý kiến của người liên quan ( gia đình, bạn,
đồng nghiệp,…). Người liên quan có thông tin gì liên quan, đánh giá như thế nào đến
xu hướng mua và họ cảm thấy thế nào.
Trong đề tài này, xu hướng tiêu dùng được xem như là xu hướng đầu tư và
hành vi đầu tư được đề cập đến như hành vi tiêu dùng. Trong lĩnh vực đầu tư chứng
khoán thì đầu tư là hành động lựa chọn, mua cổ phiếu của một công ty nào đó với
- 8-
hình, (ii) sự sẵn có, (iii) neo và điều chỉnh (Kahneman và Tversky, 1974). Sau đó
- 9-
Waweru và cộng sự (2008) liệt kê thêm hai yếu tố (ảo tưởng con bạc, quá tự tin) vào
lý thuyết tự nghiệm, Ackert và Deaves bổ sung yếu tố sự quen thuộc.
Lý thuyết tự nghiệm được xem như một chiến lược có thể áp dụng cho nhiều
vấn đề, đặc biệt là các vấn đề phức tạp, giúp nhà đầu tư giải quyết vấn đề dễ dàng hơn
trong môi trường phức tạp và không chắc chắn (Ritter, 2003). Đồng thời Ackert và
Deaves (2010) cho rằng tự nghiệm là giải pháp giải quyết vấn đề mà chỉ cần sử dụng
một trong rất nhiều dữ liệu thông tin. Gigerenzer và Gaissmaier (2011) cho rằng lý
thuyết tự nghiệm là quá trình nhận thức ( cố ý hay vô ý ) bỏ qua một phần thông tin,
đơn giản hóa vấn đề trong một số tình huống. Lý thuyết tự nghiệm phỏng đoán tình
trạng của vấn đề bằng các đặc tính thay thế dễ ghi nhớ của vấn đề khác. Thêm nữa,
Otuteye và Siddiquee (2013) xem lý thuyết tự nghiệm là công cụ thiết thực và hữu ích
để đơn giản hóa việc ra quyết định trong một môi trường phức tạp do không chắc chắn
có thông tin hạn chế.
Bên cạnh đó, Kahneman và Tversky cho rằng lý thuyết tự nghiệm có thể dẫn
đến lỗi hệ thống, thành kiến (Ritter, 2003). Đặc biệt khi sử dụng trực giác để đưa ra
suy luận sẽ cho kết quả không phù hợp với các nguyên tắc xác suất và thống kê
(Tversky và Kahneman, 1974). Như kết luận của Otuteye và Siddiquee (2013) khi tìm
hiểu về nguồn gốc của đầu tư giá trị nhận thức khi trong đầu tư, tác giả kết luận rằng
chuẩn đoán dễ dẫn đến lệch lạc nhận thức.
Lý thuyết tự nghiệm và các lệch lạc đôi khi khiến nhà đầu tư có xu hướng và
hành vi không hợp lý, việc này có thể do hiểu biết hạn chế, khó khăn về nhận thức,
tính phức tạp của vấn đề. Nghiên cứu của Gigerenzer và Gaissmaier (2011) cho thấy
không có mối quan hệ giữa tính hợp lý và tự nghiệm khi những suy luận dựa trên kinh
nghiệm.
2.2.2 Thuyết hành vi theo đám đông
hơn các nhà đầu tư tổ chức (Graham, 1999).
Nội dung được trình bày ở phần trên cho thấy rằng lý thuyết tự nghiệm và các
lệch lạc, lý thuyết hành vi theo đám đông có ảnh hưởng đến xu hướng mua cổ phiếu
của nhà đầu tư cá nhân. Lý thuyết tự nghiệm và các lệch lạc là lựa chọn tối ưu khi ra
xu hướng dưới điều kiện không chắc chắn và phức tạp. Sự ra đời của lý thuyết tự
- 11-
nghiệm phần nào giúp nhà đầu tư ra quyết định dễ dàng hơn trong thị trường chứng
khoán.
Bên cạnh đó thì các lệch lạc và lỗi hệ thống có thể dẫn đến những thành kiến
trong nhận thức của nhà đầu tư, làm cho sự việc bị bóp méo và cuối cùng là đưa ra
những quyết định sai lầm. Lý thuyết thành vi theo đám đông là hành động không hợp
lý, là tình trạng phổ biến xuất hiện ở các nhà đầu tư, việc này tạo thành hiệu ứng “bầy
đàn”, gây ra thành kiến cảm xúc, xung đột về nhận thức, cổ phiếu không được phản
ứng đúng với giá trị thực tế.
Trên nền tảng của 2 lý thuyết này, rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được
thực hiện. Một số nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu được xây dựng trên nền tảng của
2 lý thuyết trên sẽ được trình bày tóm tắt trong phần tiếp theo.
2.3
Tóm tắt các nghiên cứu trước
Nghiên cứu của Chandra (2008), tác giả tìm hiểu tác động của các yếu tố hành
vi và tâm lý của nhà đầu tư khi ra quyết định, kiểm tra mối quan hệ giữa thái độ của
nhà đầu tư đối với rủi ro và hành vi ra quyết định. Thông qua nghiên cứu này, tác giả
thấy rằng không giống như lý thuyết tài chính cổ điển, nhà đầu tư cá nhân không phải
luôn luôn đưa ra quyết định đầu tư hợp lý. Các quyết định đầu tư bị ảnh hưởng bởi
yếu tố hành vi như tự nghiệm và bám vào những giá trị đã được thiết lập. Một lần nữa
chứng khoán cá nhân trong năm 2011 tại Thổ Nhĩ Kỳ để tiến hành phân tích yếu tố
lệch lạc vì quá tự tin, lệch lạc do quen thuộc, lệch lạc do tình huống điển hình và xác
định các yếu tố ảnh hưởng đến lệch lạc. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy lệch lạc vì
quá tự tin và lệch lạc do quen thuộc là tình trạng phổ biến nhất ở nhà đầu tư Thổ Nhĩ
Kỳ.
Bảng 2.1. Tóm tắt các nghiên cứu trước
Tác giả
Chandra
(2008)
Kết quả nghiên cứu
Tìm hiểu tác động của các yếu tố hành vi và tâm lý của nhà đầu tư
khi ra quyết định, đồng thời kiểm tra mối quan hệ giữa thái độ của
nhà đầu tư đối với rủi ro và hành vi ra quyết định. Các quyết định
đầu tư bị ảnh hưởng, bởi các yếu tố hành vi như tự nghiệm, neo và
điều chỉnh.
- 13-
Waweru và Nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: tình huống điển hình, quá tự
cộng
sự tin, neo và điều chỉnh, sự sẵn có ảnh hưởng đến quyết định của nhà
(2008)
đầu tư.
Sử dụng câu hỏi khảo sát, các câu hỏi dựa trên những định kiến
Rekik và
(lệch lạc) tâm lý, qua đó phát hiện rằng hành vi theo đám đông, tình
Boujelbene
Nghiên cứu cho thấy lệch lạc vì quá tự tin và lệch lạc do quen thuộc
sự
là tình trạng phổ biến nhất ở nhà đầu tư Thổ Nhĩ Kỳ.
Từ việc khảo sát thực trạng, lý thuyết tâm lý và các công trình khoa học có liên
quan, đề tài nghiên cứu sẽ khái quát các yếu tố tâm lý thường được các nhà nghiên
cứu hay đề cập và nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu. Các yếu tố này bao
gồm: (1) tình huống điển hình ; (2) Tự tin quá mức; (3) neo và điều chỉnh; (4) Sự sẵn
có; (5) ảo tưởng con bạc; (6) Sự quen thuộc; (7) hành vi theo đám đông. Mối quan hệ
giữa các yếu tố này với xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân sẽ lần lượt
được trình bày bên dưới.
2.4 Phát triển giả thuyết – Mô hình nghiên cứu đề xuất
2.4.1 Tình huống điển hình và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
- 14-
Tình huống điển hình đề cập đến cách con người đưa ra những đánh giá xác
suất dựa trên sự tương tự của trường hợp mẫu (Taffler), là cách các xác suất được đánh
giá “mức độ A đại diện cho B và mức độ A giống B” (Tversky và Kahneman, 1974),
tình huống điển hình đề cập đến mức độ giống nhau của sự kiện hiện tại với các sự
kiện trước đó.
Bản chất của phương pháp tình huống điển hình là xu hướng con người xem
xét sự tương tự của các kết quả, các phạm trù dựa trên các đặc trưng tương đối nổi bật
hoặc thậm chí chỉ là những biểu hiện bề ngoài. Taffler cũng cho rằng con người đưa
ra quyết định dựa trên mức độ tương tự giữa các biến cố hoặc các nhóm, được gọi là
phương pháp tình huống điển hình.
Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng, phương pháp điển hình có
thể khiến con người đi chệch hướng, dẫn đến những lệch lạc khi nó chỉ là phương
pháp dựa vào kinh nghiệm (Ritter, 2003). Và cá nhân đặt nặng các sự việc xảy ra gần
2.4.2 Tự tin quá mức và xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân
Lý thuyết về sự quá tự tin đề cập đến khuynh hướng con người đề cao kiến
thức, khả năng, tính chính xác trong thông tin của mình, lạc quan quá mức về tương
lai và khả năng kiểm soát tình thế. Tự tin quá mức liên quan đến việc mọi người hiểu
như thế nào khả năng và giới hạn trong kiến thức của họ, một cá nhân quá tự tin về
khả năng của mình có xu hướng nghĩ rằng mình là tốt hơn so với thực tế (Shefrin,
2002; trích bởi Sewell, 2007). Glaser và cộng sự (2007) định nghĩa tự tin quá mức
thường được mô hình hóa như một sự đánh giá quá cao độ chính xác các thông tin
riêng.
Hai khía cạnh nổi bật của lý thuyết tự tin quá mức là ước lượng sai và hiệu
ứng tốt hơn mức trung bình: (1) ước lượng sai là xu hướng cá nhân tin rằng sự hiểu
biết của bản thân mình chính xác hơn thực tế vốn có; (2) hiệu ứng tốt hơn mức trung
bình là hiện tượng mọi người nghĩ rằng kỹ năng của họ tốt hơn mức trung bình (Taylor
và Brown, 1988). Bên cạnh đó, ảo tưởng kiểm soát và lạc quan quá mức cũng là khía
cạnh của lý thuyết tự tin quá mức: (3) ảo tưởng kiểm soát làm cho con người nghĩ họ
có khả năng kiểm soát tình huống tốt hơn thực tế có thể; (4) lạc quan quá mức phản
ánh cảm giác tin rằng mọi thứ tốt đẹp hơn so với phân tích khách quan.