Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học phần “công dân với pháp luật” ở trường THPT Lương Tài 2- Bắc Ninh - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

VŨ THỊ BỐN

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI
TRONG DẠY - HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI PHÁP LUẬT”
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LƯƠNG TÀI 2, BẮC NINH

Chuyên ngành: Lí luận và Phƣơng pháp giảng dạy Giáo dục Chính trị
Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Cƣ

Hà Nội, 5/2017


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm khoa,
các thầy cô giáo khoa Giáo dục chính trị - Giáo dục công dân, trường Đại học
sư phạm Hà Nội đã giảng dạy và hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành tốt nhiệm
vụ của khoá học.
Đặc biệt, e xin chân thành cảm ơn thầy giáo – PGS.TS. Nguyễn Văn Cư
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu khoa
học, hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các phòng, ban Trường Đại học
sư phạm Hà Nội, Ban Giám hiệu Trường THPT Lương Tài 2, Bắc Ninh đã tạo


HS

Học sinh

GDCT

Giáo dục chính trị

GD - ĐT

Giáo dục đào tạo

ĐHSP

Đại học sư phạm

PPDH

Phương pháp dạy học

PPĐV

Phương pháp đóng vai

TN

Thực nghiệm

ĐC

1.1. Cơ sở lí luận của việc vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD. ..... 8
1.1.1. Quan niệm về đóng vai, phương pháp đóng vai, phương pháp đóng vai trong dạy học
môn GDCD. ........................................................................................................................... 8
1.1.2. Sự cần thiết của việc vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học phần “ công dân
với pháp luật”. ...................................................................................................................... 17
1.2. Cơ sở thực tiễn việc vận dụng phƣơng pháp đóng vai trong dạy học phần “ công
dân với pháp luật” ở trƣờng THPT Lƣơng Tài 2, tỉnh Bắc Ninh. ................................ 22
1.2.1. Vài nét về trường THPT Lương Tài 2, tỉnh Bắc Ninh. .............................................. 22
1.2.2. Thực trạng việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy- học phần “công dân với
pháp luật” ở trường THPT Lương Tài 2, tỉnh Bắc Ninh...................................................... 24
Tiểu kết chƣơng 1 .............................................................................................................. 30
Chƣơng 2: NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP ĐÓNG
VAI TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI PHÁP LUẬT” Ở TRƢỜNG
THPT LƢƠNG TÀI 2, TỈNH BẮC NINH. ..................................................................... 31
2.1. Nguyên tắc vận dụng phƣơng pháp đóng vai trong dạy học phần “công dân với
pháp luật” ở trƣờng THPT Lƣơng Tài 2, tỉnh Bắc Ninh. .............................................. 31
2.1.1. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo mục tiêu môn học. .......................................... 31
2.1.2. Phương pháp đóng vai phải phù hợp với đối tượng học sinh, điều kiện hoàn cảnh xã
hội. ....................................................................................................................................... 33
2.1.3. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo định hướng phát triển năng lực của học sinh. 35
2.2. Biện pháp vận dụng phƣơng pháp đóng vai trong dạy học phần “công dân với
pháp luật” ở trƣờng THPT Lƣơng Tài 2, tỉnh Bắc Ninh. .............................................. 39


2.2.1. Biện pháp chuẩn bị phương pháp đóng vai trong dạy học phần “công dân với pháp
luật”. ..................................................................................................................................... 39
2.2.2. Biện pháp tổ chức thực hiện phương pháp đóng vai trong dạy học phần “Công dân
với pháp luật”. ...................................................................................................................... 46
2.2.3. Kiểm tra, đánh giá trong dạy học phần “công dân với pháp luật” theo phương pháp
đóng vai................................................................................................................................ 54

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Nhận thức của giáo viên về vai trò môn GDCD. ........................... 24
Bảng 1.2. Nhận thức của học sinh về vai trò của môn GDCD đối với việc hình
thành và phát triển nhân cách. ............................................................. 25
Bảng 1.3. Sự cần thiết sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy – học phần
“ công dân với pháp luật”. ................................................................... 26
Bảng 1.4. Nhận thức của học sinh về sự cần thiết của việc sử dụng phương
pháp đóng vai trong dạy – học phần “ công dân với pháp luật”......... 26
Bảng 1.5. Kết quả tìm hiểu việc sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên....27
Bảng 1.6. Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên qua ý
kiến học sinh.......................................................................................... 28
Bảng 3.1. Kết quả kiểm tra ban đầu của hai lớp thực nghiệm và hai lớp đối
với bài kiểm tra lý thuyết....................................................................... 86
Bảng 3.2. Kết quả kiểm tra ban đầu của hai khối lớp thực nghiệm và đối
chứng bài kiểm tra thực hành vận dụng. .............................................. 87
Bảng 3.3. Kết quả kiểm tra sau khi dạy thực nghiệm lần 1 bài kiểm tra kiến
thức lí thuyết.......................................................................................... 87
Bảng 3.4. Kết quả kiểm tra sau khi dạy thực nghiệm lần 1 bài kiểm tra thực
hành vận dụng:...................................................................................... 88
Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra sau khi dạy thực nghiệm lần 2 bài kiểm tra kiến
thức lí thuyết.......................................................................................... 89
Bảng 3.6. Kết quả kiểm tra sau khi dạy thực nghiệm lần 2 bài kiểm tra thực
hành vận dụng:...................................................................................... 89
Bảng 3.7. Mức hộ hứng thú của học sinh trong giờ học có vận dụng phương
pháp đóng vai (xem câu hỏi 4 - Phụ lục 2) ........................................... 90
Bảng 3.8. Mức độ hứng thú của học sinh trong giờ học không vận dụng
PPĐV (Câu hỏi 5 - Phụ lục 2) .............................................................. 91


MỞ ĐẦU


phát triển ở học sinh những phẩm chất và năng lực cần thiết, giúp các em chủ
động, tự tin trong học tập, trong cuộc sống riêng và trong giao tiếp xã hội.
Trường THPT Lương Tài 2, tỉnh Bắc Ninh, mới được thành lập 17 năm,
với đội ngũ giáo viên trẻ, có lòng nhiệt tình, say mê nghề nghiệp. Nhưng
trong quá trình dạy học, vì nhiều lí do khác nhau như thói quen dạy học bằng
phương pháp truyền thống; giáo viên chưa nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí
của phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD; hay do điều kiện cơ sở
vật chất,.. của trường mà việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích
cực còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục, cho nên chất
lượng dạy và học của nhà trường còn chưa hiệu quả.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Vận dụng
phương pháp đóng vai trong dạy - học phần “Công dân với pháp luật” ở
trường Trung học phổ thông Lương tài 2, Bắc Ninh” làm luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Giáo dục
Chính trị.
2. Lịch sử nghiên cứu
Phương pháp đóng vai là một trong những phương pháp dạy học tích
cực, xung quanh vấn đề này đã có rất nhiều các tác phẩm, các công trình, tài
liệu nghiên cứu. Một số công trình tiêu biểu như:
- Trong giáo trình, Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT,
tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga đã đề cập đến quan niệm về
phương pháp đóng vai. Theo hai tác giả: “phương pháp đóng vai mang tính
chất tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh, giữa
học sinh với môi trường học tập, phương pháp đóng vai là phương pháp tổ
chức cho người học thực hành, làm thử một số cách ứng xử nào đó trong một
tình huống giả định” [22;169-170].
Tác giả nhấn mạnh, đây là phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh
suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề nào đó. Hai tác giả còn chỉ ra phương pháp


trò chơi trí tuệ, trò chơi nghệ thuật.Tùy theo nội dung bài học và đặc điểm lứa

3


tuổi học sinh mà người ta khai thác sử dụng các loại trò chơi thích hợp. Trò
chơi là một hình thức dạy học nhẹ nhàng, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào học
tập tích cực, vừa chơi vừa học và học tập có kết quả” [44]
- Trong tác phẩm, Hướng dẫn thực hành, dạy học ngày nay, tác giả
Gheossrey Petty, viết về vấn đề đóng vai, diễn kịch và mô phỏng. Tác giả
nhấn mạnh: “Đóng vai có tác dụng trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho
học sinh, tạo cơ hội thực tập kỹ năng trong môi trường được đảm bảo. Đóng
vai chỉ diễn ra một lần và khán giả là các bạn xung quanh, dàn cảnh từ thực tế.
Đóng vai có ưu điểm làm giảm mặc cảm sân khấu. sợ đứng trước lớp. Lên kế
hoạch cho bài tập đóng vai, kịch bản phải được soạn thảo hoàn hảo, mỗi vai
diễn có những lời thoại khác nhau” [34;224]
Ngoài ra, vấn đề phương pháp đóng vai cũng thu hút được sự quan tâm
nghiên cứu của một số luận văn, luận án như:
- Lê Thị Ngọc Hà (2015), Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học
Tiếng việt để rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh lớp 2, Luận văn thạc sĩ khoa
học giáo dục, chuyên ngành Giáo dục học (tiểu học), ĐHSP Hà Nội.
- Mai Thị Kim Chi, Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học lịch sử
Việt Nam (Thế kỉ X - giữa thế kỉ XIX), Lớp 10 Trung học phổ thông –
chương trình chuẩn, Luận văn thạc sĩ khoa lịch sử, trường Đại học Quốc
gia, Hà Nội.
- Nguyễn Thành Vinh (2006), Tổ chức dạy học theo quan niệm sư phạm
tương tác trong các trường (khoa), cán bộ quán lý giáo dục và đào tạo hiện
nay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành lý luận và lịch sử sư phạm học, Trường Đại
học Sư phạm, Hà Nội.
Trên đây là những công trình, nguồn tài liệu quý giá, trong quá trình tìm

- Nghiên cứu thực nghiệm ở trường THPT Lương tài 2.

5


5. Khách thể nghiên cứu
- Nghiên cứu quá trình dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT
Lương tài 2, tỉnh Bắc Ninh.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD phần
“công dân với pháp luật” ở trường THPT Lương tài 2, tỉnh Bắc Ninh sẽ phát
huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát huy được năng lực giải
quyết vấn đề của học sinh trong học tập. Từ đó, nâng cao chất lượng hiệu quả
dạy học môn GDCD ở trường THPT Lương tài 2, tỉnh Bắc Ninh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở xác định mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài,trong
quá trình thực hiện khóa luận,tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích; phương
pháp tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp lịch sử, logic để
xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp điều tra, phương pháp
khảo sát, phương pháp quan sát, phương pháp thống kê... nhằm thu thập thông
tin về việc vận dụng PPĐV và xử lý các thông tin đó một cách hiệu quả nhất.
8. Những luận điểm cơ bản và đóng góp của luận văn
- Luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các nguyên tắc,
biện pháp sử dụng PPĐV trong dạy và học môn GDCD, phần “Công dân với
pháp luật” ở trường THPT Lương tài 2, Bắc Ninh.
- Luận văn hoàn thành góp phần làm sáng tỏ hơn về phương pháp dạy
học đóng vai và cung cấp cơ sở lý luận cho việc vận dụng phương pháp đóng
vai vào quá trình dạy học môn GDCD nói chung, phần “công dân với pháp

Theo từ điển tiếng việt của Hoàng Phê: “ Đóng vai là thể hiện nhân vật
trong kịch bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng hành động, nói năng như thật.
Khi một vấn đề, một chủ đề nào đó trong cuộc sống hiện thực được xây dựng
thành một vở kịch thì đó được gọi là kịch bản, nhưng để thể hiện nội dung
kịch bản đó, người diễn viên phải đảm nhận sắm vai một nhân vật và biểu
diễn vai đó, quá trình đó được gọi là đóng vai” [35;337]. Đóng vai mà thông
dụng nhất, phổ biến nhất là đóng kịch đã được sử dụng trong lớp học và cho
thấy hiệu quả đạt được rất cao nếu có sự chuẩn bị thật chu đáo.
Đóng vai, cũng có thể hiểu là bất cứ hoạt động nói nào trong đó hoặc là
bạn đang mượn vai trò của người khác, hoặc là bạn vẫn là mình nhưng tưởng
tượng mình đang ở trong một tình huống không có thật nào đó. Đóng vai
được áp dụng trong hoạt động dạy học nhằm mục đích nâng cao hiểu biết về
tri thức, kỹ năng, thái độ của người học để đạt được đến mục tiêu dạy học.
Trong mọi hoạt động, bằng việc nhập vai vào các nhân vật, người học sẽ
chủ động tìm hiểu, chiếm lĩnh kiến thức và được hoạt động trực tiếp trong
suốt quá trình đóng vai. Đóng vai là một trò chơi, trò chơi đóng vai, trong đó
giáo viên đảm nhiệm phần kịch bản, là đạo diễn, còn học sinh sẽ thể hiện các
vai diễn đã có trong kịch bản. Sự tham gia, hoạt động nhập vai trực tiếp của

8


người học trong suốt quá trình đóng vai không những giúp người học khắc
sâu kiến thức mà còn thông qua đó, người học có cơ hội hình thành kinh
nghiệm cá nhân, vận dụng vào thực tiễn.
Đóng vai thông qua trò chơi hay đóng vai theo các nhân vật trong các
câu chuyện, tình huống được thực hiện trên lớp hoặc ở nhà chính là những
hoạt động đơn giản, đầu tiên, bước đầu làm quen và thể hiện phương pháp
đóng vai. Sự nhập vai đó, khi tham gia vào quá trình dạy học, có sự tương tác
giữa giáo viên và học sinh, nó trở thành một phương pháp phổ biến và mang

giảng dạy và phương pháp học tập nhằm thực hiện mục đích, và yêu cầu đặt
ra. Trong đó phương pháp dạy học của giáo viên quyết định và tác động đến
phương pháp học tập của học sinh.
Phương pháp dạy học là cách thức, hoạt động của giáo viên và học sinh
nhằm đạt được mục đích của quá trình dạy học. Bên cạnh các phương pháp dạy
học truyền thống như phương pháp dạy học thuyết trình, đàm thoại, trực quan...
còn có các phương pháp dạy học khác như: phương pháp nghiên cứu, phương
pháp dự án, phương pháp dạy học theo nhóm, phương pháp thảo luận..., phương
pháp đóng vai là một trong những phương pháp dạy học tích cực.
Đóng vai xuất phát từ nghệ thuật kịch, từ lĩnh vực kịch tâm lý. Đến khoảng
thế kỷ XIX, nó được vận dụng vào quá trình dạy học, trở thành một phương
pháp tương đối phổ biến và mang lại hiệu quả cao. Đầu thế kỷ XX, các nhà xã
hội học người Mĩ (Merton, Parsons) sử dụng đóng vai trong việc thành lập các lí
thuyết xã hội học. Ngày nay trò chơi đóng vai được sử dụng như một phương
pháp dạy học trong nhiều môn học, trước hết là các môn khoa học xã hội.
Theo Hilbert Meyes (1987): Đóng vai là một phương pháp dạy học phức
hợp nhằm nhận thức hiện thực xã hội. Với sự giúp đỡ của đóng vai, học sinh có
thể hiểu được hành động của mình tốt hơn và tác động lên tư duy, tình cảm và
hành động của bạn học, giáo viên và những người xung quanh.
Đóng vai là một phương pháp dạy học, trong đó người học thực hiện những
tình huống hành động được mô phổng (theo các vai) về một chủ đề gắn với thực
tiễn, thường mang tính chất trò chơi, trong các tình huống cuộc sống các vấn đề

10


hoặc xung đột được thể hiện. Đóng vai nhằm phát triển năng lực hành động
thông qua sự trải nghiệm của chính bản thân người học và thông qua thông tin
phản hồi từ những người quan sát. Điểm khác biệt của đóng vai với tư cách là
một phương pháp dạy học ở chỗ nó là một hoạt động học tập có kế hoạch, được

lớp 10 THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006) có viết: Đóng vai là phương
pháp tổ chức cho người học thực hành “ làm thử” một số cách ứng xử nào đó
trong một tình huống giả định. Giáo viên đưa ra những tình huống gợi mở,
không cho trước kịch bản, người học sẽ tự sáng tạo kịch bản, lời thoại liên
quan đến nội dung kiến thức, thái độ, kỹ năng cần đạt được của bài học để
đóng vai. Đây là phương pháp thực hành mang tính chủ động, sáng tạo, gây
sự chú ý, thu hút người học tham gia vào bài giảng, từ đó phát triển tư duy, trí
tuệ, kỹ năng thực hành, tạo ra bầu không khí sôi nổi cho lớp học, người dạy
và người học trở lên thân thiện gần gũi với nhau hơn, giờ dạy đạt hiệu quả cao.
Như vậy, phương pháp đóng vai là một phương pháp dạy học giúp học
sinh tích cực tham gia, sáng tạo, thể hiện bản thân, hòa nhập vào quá trình dạy
học, vào môi trường học tập linh hoạt, năng động. Đóng vai, phân tích tình
huống, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, truyền tải thông tin, thông điệp
về kiến thức, kỹ năng, thái độ sẽ tác động sâu sắc đến suy nghĩ và hành động
của người dạy và người học.
Tuy nhiên, đề phát huy hiệu quả của phương pháp đóng vai, chúng ta
cần nhận thấy những mặt ưu điểm và hạn chế của phương pháp này.
- Ưu điểm của phương pháp dạy học đóng vai.
+ Phương pháp đóng vai giúp người học hình thành và phát triển năng
lực giao tiếp những kỹ năng ứng xử thực hành trong thực tiễn. Thông qua
phương pháp đóng vai người học thể hiện kỹ năng, cách ứng xử, bày tỏ thái
độ của mình, tạo ra các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập
thể, từ đó biết cách ứng xử, giải quyết các tình huống trong giao tiếp. Việc
tham gia vào các vai diễn, còn giúp người học tự khẳng định bản thân, qua sự
đánh giá, nhận xét của giáo viên và các bạn khác. Bên cạnh đó, người học sẽ
biết lắng nghe, giải quyết vấn đề, biết quan sát, phê bình, góp ý cho người
khác, hình thành và phát triển kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm.

12


13


thành công, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị chu đáo, người giáo viên cần phải
giao nhiệm vụ đóng vai cho từng vai diễn, học sinh tích cực, chủ động
mang lại hiệu quả cao trong giờ học.
+ Khả năng diễn xuất của người học khi tham gia vào quá trình đóng vai
còn phụ thuộc vào năng lực của từng học sinh. Có những học sinh không tích
cực, không có khả năng tham gia, còn yếu, kém. Do đó, giáo viên phải khích
lệ, động viên người học tham gia đóng vai, học sinh có hứng thú, có sự hợp
tác cùng giáo viên. Để từ đó học sinh tích lũy vốn kinh nghiệm và khả năng
diễn xuất, nhập vai tạo nên sự thành công của vai diễn.
+ Khi sử dụng phương pháp đóng vai trong quá trình dạy học, một số học
sinh còn rụt rè, thiếu tự tin trước tập thể, do vốn kiến thức từ ngữ còn ít, khả
năng diễn xuất còn hạn chế, nên khó có thể thực hiện vai diễn của mình.
+ Trong quá trình học sinh đóng vai do sự hấp dẫn bởi khả năng diễn
xuất của người diễn viên nên thường gây ồn ào, mất trật tự, dễ bị lộn xộn, có
thể ảnh hưởng đến lớp khác. Do đó, người giáo viên phải biết bao quát, quản
lí lớp tốt để quá trình dạy học diễn ra và đạt hiệu quả cao.
*Quan niệm về phương pháp đóng vai trong dạy học môn GDCD.
Môn GDCD ở trường THPT có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình
thành và phát triển nhân cách học sinh. Giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành
nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống
lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, dạy và học môn GDCD ở trường phổ thông được Đảng, Nhà
nước, các cấp các ngành rất quan tâm. Một trong những trọng tâm của đổi
mới chương trình, nội dung sách giáo khoa là tập trung vào đổi mới phương
pháp dạy học, lấy người học làm trung tâm, phát huy tính sáng tạo, tích cực

gian đóng vai của mỗi nhóm.
+ Bước 2: Các nhóm thảo luận, xác định mục tiêu, chuẩn bị đóng vai,
phân vai, dàn cảnh, cách thể hiện nhân vật. Giáo viên cần phải xác định rõ
mục tiêu đóng vai nhằm đạt được cái gì và thông báo cho học sinh biết.

15


Thông qua đó học sinh học cách ứng xử, hình thành các kỹ năng phân tích,
đánh giá và giải quyết vấn đề.
Sau khi được giáo viên giao nhiệm vụ học tập, giao tình huống, yêu cầu đóng
vai, người học thông qua các nhóm thảo luận, chuẩn bị. Căn cứ vào nội dung và
tình huống, chủ đề được giao các nhóm tìm tòi, phát hiện vấn đề, thảo luận, lựa
chọn, tiến hành xây dựng kịch bản, phân vai, ai đóng vai “chính”, hay vai “phụ”, ai
là người quan sát, theo dõi, sau đó thực hành diễn thử. Tạo không khí vui vẻ, thu
hút sự tham gia tích cực của mọi thành viên trong lớp. Vai diễn có thể cho học sinh
tự nguyện chọn hoặc có thể lựa chọn những học sinh phù hợp với vai diễn. Học
sinh phải ý thức rõ ràng nhiệm vụ và công việc của mình trong kịch bản.
+ Bước 3: Các nhóm lên đóng vai, thực hiện vai diễn
Các nhóm được phân công lên đóng vai và thể hiện vai diễn. Giáo viên tổ
chức cho học sinh thực hiện vai diễn của mình như đã phân công, cần bám sát
vào nội dung, nhiệm vụ được giao trong đóng vai, có thể có những sáng tạo
linh hoạt trong lời thoại, hành vi thể hiện vai diễn. Diễn viên đóng vai phải
thể hiện được tính cách rõ ràng, thể hiện rõ cách giải quyết của mình đối với
chủ đề. Những người không tham gia đóng vai thì quan sát và nhận xét xem
cách giải quyết và diễn xuất của các vai như thế nào? Khi diễn các vai được
tự do diễn đạt lời nói và hành động của mình. Thời gian diễn tùy thuộc vào
tình huống đơn giản hay phức tạp. Tuy nhiên không nên để thời gian kéo quá
dài và cũng không nên tạo ra quá nhiều tình tiết khiến cho người xem khó
theo dõi, rút ra nhận xét.

tiếp tục hoàn thiện hơn.
1.1.2. Sự cần thiết của việc vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy
học phần “ công dân với pháp luật”.
* Đặc điểm tri thức phần “ Công dân với pháp luật”.
Môn GDCD bao gồm nhiều đơn vị kiến thức, nhằm trang bị cho học sinh
những hiểu biết cơ bản về thế giới quan, nhân sinh quan, các quy luật và
phương hướng phát triển kinh tế, hệ thống các giá trị và tri thức về đạo đức,
các hiểu biết về chính trị - xã hội, pháp luật, đó là môn học góp phần trực tiếp

17


tới việc hình thành nhân cách công dân, ý thức chấp hành pháp luật cũng như
trách nhiệm đối với bản thân, với gia đình và xã hội cho mỗi công dân.
Chương trình GDCD lớp 12 là chương trình của lớp cuối cấp bậc THPT,
nối tiếp chương trình lớp 10 và lớp 11 để thực hiện một cách đầy đủ mục tiêu
của chương trình GDCD cả cấp học. Vì vậy, chương trình GDCD lớp 12
không chỉ bao gồm những nội dung mới, cần thiết mà các lớp 10, 11 chưa đề
cập đến mà còn bao gồm cả việc vận dụng, củng cố và nâng cao những tri
thức mà học sinh đã học ở các lớp dưới để hoàn thành mục tiêu đào tạo.
Thông qua tri thức về pháp luật, được trình bày trong 10 bài phần –
“Công dân với pháp luật” trong chương trình GDCD lớp 12 đã cung cấp
những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò và nội dung của pháp luật trong
một số lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm giúp học sinh có thể chủ động, tự
giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của người khác
theo quyền và nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chương trình GDCD lớp 12 có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những
hiểu biết cơ bản về quyền và nghĩa vụ pháp lý của người công dân trên một số
lĩnh vực cơ bản. Từ đó học sinh hiểu rằng: bất cứ người công dân nào, ở bất

- Hiểu được bản chất giai cấp, xã hội của pháp luật, mối quan hệ biện
chứng giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức. Từ đó trang bị cho các
em lối sống tự giác, học tập theo quy định của pháp luật, biết phê phán những
hành vi vi phạm pháp luật và tự uốn nắn mình trở thành người công dân tốt.
- Học sinh có thể hiểu được một số nội dung cơ bản của pháp luật liên
quan đến việc thực hiện và bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của công dân trong
một số lĩnh vực của đời sống xã hội như: quyền bình đẳng, tự do, dân chủ,
quyền học tập, sáng tạo và phát triển của công dân.
Nội dung chương trình GDCD lớp 12 tập trung phân tích bản chất của
pháp luật, vai trò của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá
nhân, nhà nước và xã hội. Những tri thức pháp luật, làm rõ một số chuẩn mực

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status