Đánh giá mức độ nhận thức của lãnh đạo và nhân viên về văn hóa doanh nghiệp tại khách sạn jasmine huế - Pdf 43


Lời đầu tiên tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc
tới các thầy, cô giáo Khoa Du Lòch – Đại Học
Huế, đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt cho tôi
những kiến thức quan trọng trong suốt quá trình
học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy giáo TS. Bùi
Đức Sinh, là giảng viên hướng dẫn, đã giúp đỡ,
đóng góp ý kiến, giúp tôi trong suốt thời gian
tôi thực hiện và hoàn thành đề tài của mình.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn những thầy
cô giáo ở thư viện Khoa Du Lòch – Đại Học Huế
luôn tạo điều kiện để tôi có thể tìm kiếm tài
liệu khi cần thiết phục vụ quá trình làm bài của
mình.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các
anh/chò tại khách sạn Jasmine Huế, đặc biệt là chò
Hồ Thò Thùy Nhi đã hướng dẫn, tạo điều kiện
cho tôi được học hỏi nhiều kiến thức cũng như
kinh nghiệm thực tế trong suốt quá trình thực tập
tại khách sạn.
Xin chân thành cảm ơn!


Chuyên đề tốt nhiệp Đại học

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập
và kết quả phân tích trong đề tài này là trung thực, đề tài này không trùng với bất kỳ


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VH
VHDN
DN
WTO
ILO
OTA

4
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

Văn hóa
Văn hóa doanh nghiệp
Doanh nghiệp
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
International Labour Organization
Tổ chức lao động quốc tế
Online Travel Agent
Đại lý du lịch trực tuyến

4
Lớp: K47 QTKD-DL


Chuyên đề tốt nhiệp Đại học

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh


nó làm ảnh hưởng đến phong cách và thái độ làm việc. Điều này cũng đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp, khách sạn và các cá nhân kinh doanh phải tìm cho mình một hướng
đi đúng nhưng phải thể hiện được bản sắc và nét văn hóa riêng của khách sạn nói
riêng và doanh nghiệp nói chung.
Có thể thấy văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của mỗi khách sạn mỗi
doanh nghiệp, nó là một trong những tiêu chí đánh giá doanh nghiệp góp phần
quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp đó. Những giá trị văn
đó kết tinh trong phong cách ứng xử của mỗi người từ lãnh đạo cấp cao cho đến
từng nhân viên và từ mỗi người nhân viên đối với mỗi khách hàng. Mỗi người từ
lãnh đạo và nhân viên nhận thức ra sao hiểu như thế nào về văn hóa của doanh
nghiệp, khách sạn. Đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây
dựng văn hóa doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết và vô cùng ý nghĩa
nhưng cũng không ít khó khăn vì phải làm sao cho mỗi cá nhân có thể thực hiện
đúng văn hóa của khách sạn.
Xã hội ngày càng đề cập đến vấn đề văn hóa doanh nghiệp do nhu cầu của con
người chuyển tới chú trọng vào mặt giá trị văn hóa, khi sự cạnh tranh về công nghệ
không còn dữ được vị trí ưu thế do tính chất khuếch tán nhanh của kỹ thuật công
nghệ. Do đó, văn hóa doanh nghiệp giữ vai trò then chốt trong cạnh tranh vì văn hóa
doanh nghiệp rất khó để có thể bắt chước điều đó tạo nên sự hấp dẫn riêng cho từng
khách sạn và doanh nghiệp. Trên con đường hội nhập hiện nay các khách sạn khác
nhau cần xây dựng cho mình một nét văn hóa đặc trưng và nhất quán để điều chỉnh
mọi hoạt động kinh doanh của khách sạn và không bị “hòa tan” khi có sự “hòa
nhập” bởi các nét văn hóa khác nhau từ các khách hàng của mình. Qua đó có thể
thấy rằng văn hóa doanh nghiệp khẳng định vị trí trong tâm trí của khách hàng.
7
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

7
Lớp: K47 QTKD-DL





Làm rõ các yếu tố về văn doanh nghiệp.
Xác định mức độ cảm nhận của cán bộ nhân viên về văn hóa doanh nghiệp.
Tìm ra các giải pháp khắc phục các điểm yếu về văn hóa doanh nghiệp của khách
sạn.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu
− Các nội quy, quy định của khách sạn
− Cán bộ nhân viên khách sạn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-

Phạm vi không gian: khách sạn Jasmine Huế 08 – 10 Chu Văn An.
Phạm vi thời gian: trong khoảng thời gian thực tập từ tháng 02/2017 – 04/2017.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập số liệu

8
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

8
Lớp: K47 QTKD-DL


Chuyên đề tốt nhiệp Đại học

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh

− Phương pháp thống kê phân tích bằng phần mềm xử lí số liệu SPSS 22.0 sử
dụng thang điểm Likert để xử lí thông tin thu được từ các phương pháp nghiên cứu
trên đồng thời kiểm định tính khách quan, độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu.
6. Bố cục của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại khách sạn jasmine huế.
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp xây dựng văn hóa doanh nghiệp
tại khách sạn Jasmine.

9
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

9
Lớp: K47 QTKD-DL


Chuyên đề tốt nhiệp Đại học

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh

PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ L2UẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
1.1. Các khái niệm về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về văn hóa
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy văn hóa
bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư
tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v...
Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách

bốn góc tiếp cận này tuy khác nhau nhưng chúng đều dựa trên những nguyên tắc
chung đó là dựa trên mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, dựa trên hình
thái kinh tế xã hội và những nguyên tắc hoạt động của triết học Mác như nguyên tắc
thực tiễn.
Trong bốn cách tiếp cận trên thì cách tiếp cận giá trị học có một lịch sử lâu
đời, đa dạng và cho đến tận bây giờ nó vẫn thể hiện vai trò thống trị của mình. Cách
tiếp cận này không chỉ thâm nhập vào triết học mà còn có cả lý luận văn hóa, mỹ
học, đạo đức học cùng nhiều bộ môn khoa học khác và đã dấy lên những cuộc tranh
luận đến tận bây giờ. V.Brômlây và R.C.Pađôlưi đã khẳng định: “Văn hóa trong ý
nghĩa rộng rãi nhất của từ này, đó là tất cả những cái đã và đang được tạo ra bởi
nhân loại”.
Ngoài ra có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Nhưng đến nay chúng
ta vẫn đang thống nhất sử dụng một khái niệm khái quát dựa trên tổng hợp tất cả
các khái niệm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. (Trần Ngọc Thêm, Cơ
sở văn hóa Việt Nam, nhà xuất bản giáo dục,1999, trang 10).
Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau mà có những định nghĩa
khác nhau về khái niệm này. Mỗi định nghĩa đều có điểm mạnh, điểm yếu của nó.
Có thể nó chỉ đề cập đến một khía cạnh này mà bỏ qua khía cạnh kia của khái niệm
văn hóa. Nhiệm vụ của chúng ta là phải xuất phát từ đối tượng nghiên cứu mà chọn
định nghĩa cho phù hợp, để qua định nghĩa đó nó sẽ giúp chúng ta có thể làm sáng
tỏ nội dung cần nghiên cứu và làm cho việc nghiên cứu thuận lợi và có hiệu quả
hơn. Nhưng dù các định nghĩa có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì bao giờ
nó cũng có điểm chung như đã nói ở phần đầu đó là văn hóa là cái do con người
sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về
con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc
trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân
biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên.
11

Theo Đỗ Thị Phi Hoài: “Văn hóa doanh ngiệp là một hệ thống các ý nghĩa,
giá trị niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành
viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến
cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản
sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. (Đỗ Thị Phi Hoài, Văn hóa doanh nghiệp,
nhà xuất bản Tài Chính, 2009).
Là một khái niệm trừu tượng, có nhiều cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên tất cả
những khái niệm này đều đi đến một nhận định chung là: “Văn hóa doanh nghiệp là
sản phẩm của những người làm cùng trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu
giá trị bền vững”. Do đó chúng ta thấy mỗi doanh nghiệp sẽ có một bản sắc VH
12
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

12
Lớp: K47 QTKD-DL


Chuyên đề tốt nhiệp Đại học

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh

riêng cho mình, cách hành xử kinh doanh, tư duy nhận thức của các thành viên
trong các công ty đều khác nhau.
1.1.2.2. Đặc điểm của văn hóa doanh nghiệp
 Văn hóa doanh nghiệp tồn tại khách quan.
VHDN tồn tại ngoài sự nhận biết của chúng ta. Có con người, có gia đình, có
xã hội và có VH . Văn hóa rất quan trọng, nó tồn tồn tại độc lập với chúng ta. Văn
hoá không có nghĩa là cái đẹp. Dù ta có nhận thức hay không nhận thức thì nó vẫn
trường tồn. Nếu ta biết nhận thức nó, xây dựng nó thì nó lành mạnh, phát triển. Có
thể có văn hoá đồi trụy đi xuống và văn hoá phát triển đi lên, văn hoá mạnh hay văn

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh

xét VHDN mang tính hệ thống giúp chúng ta có cái nhìn một cách đầy đủ nhất về
văn hoá nói chung và VHDN nói riêng.
1.2. Giai đoạn hình thành và cấp độ biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp.
1.2.1. Giai đoạn hình thành
 Giai đoạn non trẻ:
Nền tảng hình thành văn hóa doanh nghiệp phụ thuộc vào nhà sáng lập và
những quan niệm chung của họ. Nếu như doanh nghiệp thành công, nền tảng này sẽ
tiếp tục tồn tại và phát triển, trở thành một lợi thế, thành nét nổi bật, riêng biệt của
doanh nghiệp và là cơ sở để gắn kết các thành viên vào một thể thống nhất.
Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp phải tập trung tạo ra những giá trị văn hóa
khác biệt so với các đối thủ, củng cố nhữung giá trị đó và truyền đạt cho những
người mới (hoặc lựa chọn nhân lực phù hợp với những giá trị này). Nền văn hóa
trong những doanh nghiệp trẻ thành đạt thường được kế thừa mau chóng do: Thứ
nhất, những người sáng lập ra nó vẫn tồn tại. Thứ 2, chính nền văn hóa đó đã giúp
doanh nghiệp khẳng định mình và phát triển trong môi trường đầy cạnh tranh. Thứ
3, rất nhiều giá trị của nền văn hóa đó là thành quả đúc kết được trong quá trình
hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, trong giai đoạn này, việc thay đổi văn hóa doanh nghiệp hiếm
khi diễn ra, trừ khi có những yếu tố tác động từ bên ngoài như khủng hoảng kinh tế
khiến doanh số và lợi nhuận sụt giảm mạnh, sản phẩm chủ lực của doanh nghiệp
thất bại trên thị trường. Khi đó, sẽ diễn ra quá trình thay đổi nếu những thất bại này
làm giảm uy tín và hạ bệ người sáng lập – nhà lãnh đạo mới sẽ tạo ra diện mạo văn
hóa doanh nghiệp mới.
 Giai đoạn giữa:
Khi người sáng lập không còn giữ vai trò thống trị hoặc đã chuyển giao quyền
lực cho ít nhất hai thế hệ. Doanh nghiệp có nhiều biến đổi và có thể xuất hiện những
xung đột giữa phe bảo thủ và phe đổi mới (những người muốn thay đổi văn hóa
doanh nghiệp để củng cố uy tính và quyền lực của bản thân).

và lòng tự tôn của tập thể.
1.2.2. Các cấp độ biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp

Hình 1.2.1. Các lớp cấu trúc văn hóa doanh nghiệp
15
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

15
Lớp: K47 QTKD-DL


Chuyên đề tốt nhiệp Đại học

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh

(Nguồn: Edgar Henry Schein, Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo,2012)

Theo Edgar H. Schein, văn hoá doanh nghiệp có thể chia thành ba cấp độ khác
nhau. Thuật ngữ “cấp độ” dùng để chỉ mức độ có thể cảm nhận được của các giá trị
văn hoá doanh nghiệp hay nói cách khác là tính hữu hình của các giá trị văn hoá đó.
Đây là cách tiếp cận độc đáo, đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hoá,
giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc những bộ phận cấu thành của
nền văn hoá đó.
1.2.2.1. Các giá trị hữu hình
Đó là những quá trình, những yếu tố đầu tiên bắt gặp khi một người nhìn, nghe
và cảm thấy được khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hóa như kiến trúc môi
trường làm việc, ngôn ngữ, công nghệ, hoặc các chuẩn mực hành vi. Lớp này cũng
bao gồm cả những hành vi ứng xử của nhân viên và các nhóm trong tổ chức. Đặc
trưng cơ bản của tầng bề mặt này là rất dễ nhận thấy nhưng lại khó phán đoán được
ý nghĩa đích thực của nó. Các giá trị hữu hình này không tác động nhiều đến tư duy,

nghiêm, ấm cúng, vui vẻ hay nghiêm nghị… những cảm giác này thể hiện sức mạnh
của nghững biểu tượng vật chất trong việc tạo tính cách của doanh nghiệp. Ví dụ
như bảng nội quy, quy tắc của doanh nghiệp, cách ăn mặc của nhân viên (mặc đồng
phục hay không)
● Kiến trúc của doanh nghiệp
Đó là mặt bằng, cây cối, bàn ghế….tất cả được sử dụng nhằm tạo cảm giác
thân quen với khách hàng, với nhân viên cũng như tạo một môi trường làm việc tốt
nhất cho nhân viên. Kiến trúc trở thành biểu tượng cho sự phát triển của doanh
nghiệp, là ngôi nhà chung của toàn thể cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp.
● Các hành vi giao tiếp
Văn hóa ứng xử của cấp trên với cấp dưới: Văn hóa ứng xử của cấp trên đối
với cấp dưới là hết sức quan trọng. Nó quyết định tính chất mối quan hệ giữa nhân
viên với lãnh đạo: nếu xây dựng được mối quan hệ khăng khít, bền chặt thì sự hợp
tác giữa hai bên là vô cùng thuận lợi; ngược lại nếu lãnh đạo chưa tạo được quan hệ
bền vững với nhân viên thì sẽ tạo nên những rào cản trong công việc ảnh hưởng xấu
tới doanh nghiệp. Chính vì thế, lãnh đạo nên tôn trọng những nguyên tắc làm việc
sau: Thứ nhất, người lãnh đạo dùng người đúng chỗ đúng việc sẽ phát huy được tài
năng của họ tạo cho họ niềm say mê trong công việc. Thứ hai, chế độ thưởng phạt
công minh. Khen thưởng sẽ tạo động lực làm việc cho nhân viên song cần dựa trên
lợi ích chung, coi trọng công bằng. Khi khiển trách cũng nên dựa trên lợi ích chung
làm như vậy cấp dưới sẽ nể phục, không chống đối và vui vẻ tiếp thu. Thứ ba, thu
phục nhân viên dưới quyền, điều này đòi hỏi người lãnh đạo cần có “nghệ thuật”
quản lý, am hiểu tâm lý con người. Thứ tư, lắng nghe phản hồi từ phía nhân viên,
nếu lãnh đạo không lắng nghe phản hồi từ nhân viên sẽ tạo ra sự oán hận, tinh thần
làm việc kém có thể dẫn đến bỏ việc.
17
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

17
Lớp: K47 QTKD-DL

tác nghiệp của nhân viên.
Nghi thức liên kết: như lễ, tết, liên hoan, dã ngoại, mục đích nhằm chia sẻ tình
cảm gắn bó giữa các nhân viên.
● Giai thoại

18
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

18
Lớp: K47 QTKD-DL


Chuyên đề tốt nhiệp Đại học

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh

Thường được thêu dệt từ những sự kiện có thật của tổ chức, được các thành
viên chia sẻ, ví dụ như những câu chuyện truyền thuyết, giai thoại về quá trình hình
thành và phát triển của doanh nghiệp. Thông qua các giai thoại lãnh đạo có thể
truyền đạt thông tin, làm cho nhân viên cảm thấy gần gũi hơn, và cũng trong quá
trình này, các giá trị niềm tin của lãnh đạo cũng được kiểm nghiệm, công nhận.
1.2.2.2. Những giá trị được chia sẻ
Các giá trị được chấp nhận (Epoused valuses) bao gồm những chiến lược, mục
tiêu và triết lý kinh doanh của doanh nghiệp… được hình thành trong quá trình giải
quyết các vấn đề thích ứng với bên ngoài và phối hợp bên trong tổ chức. Ban đầu, các
giá trị này đơn giản chỉ là những tư tưởng, những phương thức giả quyết vấn đề mới
phát sinh của những người lãnh đạo. Trải qua một quá trình biến đổi, những giá trị
này dần được các thành viên trong tổ chức chấp nhận, trở thành những chỉ dẫn và
phương pháp áp dụng phổ biến cho những tình huống xảy ra tương tự. Các giá trị này
mang tính ổn định tương đối. Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản

lãnh đạo, thì chắc chẳng có mấy nhân viên muốn đi theo doanh nghiệp để phấn đấu,
chấp nhận thách thức và xây dựng doanh nghiệp. Cũng có nhóm người có xu thế coi
làm việc cho doanh nghiệp đơn thuần là công việc, chỉ cần trả lương cao đầy đủ,
còn nếu hết lương, thì đi làm cho nơi khác. Có thể điều này đúng với những người
có tài và làm việc cho những doanh nghiệp lớn trên thế giới. Nhưng với đa số các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp làm các ngành nghề sáng tạo, nếu ban lãnh
đạo và nhân viên không có niềm tin vào thành công trong tương lai, thì thật khó có
sức mạnh trong hợp tác.
Thiếu niềm tin, con người có thể mất phương hướng. Doanh nghiệp cũng vậy,
không có niềm tin chung vào sứ mệnh theo đuổi, doanh nghiệp khó có thể tập hợp
được lực lượng. Vậy có phải niềm tin và văn hóa là quan trọng nhất đối với doanh
nghiệp và Văn hóa doanh nghiệp là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Giữa các tầng văn hoá này có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với
nhau. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp muốn xác lập các giá trị văn hoá nền tảng cho
doanh nghiệp mình thì trước hết phải làm cho các thành viên chấp nhận và phổ
biến. Đến lượt mình, các giá trị văn hoá nền tảng sẽ quyết định việc lựa chọn các
giá trị văn hoá ở các tầng bên ngoài và chỉ những giá trị nào phù hợp với các giá trị
văn hoá nền tảng mới có thể được lựa chọn và phổ biến.
1.3. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp
1.3.1. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với xã hội
Paul Haw Ken đã viết như sau: “Mục đích tối thượng của kinh doanh không
phải hay không nên chỉ đơn giản là kiếm tiền. Nó cũng không đơn thuần là hệ thống
sản xuất và buôn bán các loại hàng hoá. Kinh doanh hứa hẹn làm tăng thêm phúc
lợi chung cho loài người thông qua hoạt động dịch vụ, hoạt động sáng tạo và triết
lý đạo đức. Kiếm tiền bản thân nó nói chung là vô nghĩa và chuốc lấy phức tạp và
làm suy tàn thế giới mà chúng ta đang sống”. DN là một tế bào của xã hội, DN
không chỉ là một đơn vị kinh doanh, DN là một cơ sở văn hoá và mỗi DN có VHDN
20
SVTH: Trần Thị Hồng Giang


đổi tư duy của các doanh nghiệp ở Việt Nam. Đặc biệt, sau khi đất nước gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đất nước đã hội nhập sâu rộng hơn vào nền
kinh tế toàn cầu. Điều đó đòi hỏi giới doanh nhân Việt Nam phải nhanh chóng hoàn
thiện nhân cách, trí tuệ, sự đoàn kết, đồng lòng, xây dựng cộng đồng doanh nghiệp
mạnh mẽ, với hành trang “văn hóa kinh doanh Việt Nam” vững vàng, chủ động, sẵn
sàng trước những thách thức mới để tránh sự cạnh tranh và đào thải của các doanh
nghiệp trong nước và trên thế giới.
1.3.2. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với doanh nghiệp

21
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

21
Lớp: K47 QTKD-DL


Chuyên đề tốt nhiệp Đại học

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh

Khi mới thành lập, doanh nghiệp chưa thể có một nền văn hóa ổn định, chưa
có bản sắc văn hóa riêng. Qua một quá trình hoạt động lâu dài, trải qua những thành
công thất bại, đấu tranh và xây dựng, các yếu tố văn hóa sẽ được hình thành, chắt
lọc để rồi tồn tại thành một hệ thống, tạo ra đường lối kinh doanh riêng của bản thân
doanh nghiệp đó, giúp phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác và với tổ
chức xã hội.
− Thứ nhất, văn hóa doanh nghiệp là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, là
nguồn lực để doanh nghiệp phát triển bền vững. Văn hóa doanh nghiệp được nhìn
nhận là phong cách, nề nếp tổ chức riêng của doanh nghiệp, là tài sản tinh thần của
doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp chính là bầu không khí hoạt động, môi trường

viên doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nói riêng, đối với xã hội nói chung. Trong
hệ thống giá trị của các công ty mẫu mực, bao giờ cũng tạo nên những đức tính như
trung thực, liêm chính, khoan dung, tôn trọng khách hàng, tôn trọng kỷ luật, tính
đồng đội và sẵn sàng hợp tác. Nhờ có hệ thống tôn trọng, văn hóa doanh nghiệp còn
có tác dụng bảo vệ nhân viên của doanh nghiệp khi người quản lý của họ lạm dụng
chức quyền hoặc có ác ý tư thù cá nhân.
− Thứ ba, văn hóa doanh nghiệp định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp có tính ổn định và bền vững, bất chấp sự thay đổi thường
xuyên của cá nhân kể cả những người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp. Nó quan
hệ sâu sắc tới động cơ hoạt động của doanh nghiệp, tạo thành định hướng có tính
chất chiến lược cho doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp luôn đóng vai trò như một
lực lượng tập trung, là ý chí thống nhất của toàn thể nhân viên doanh nghiệp.
Đối với cán bộ quản lý, lãnh đạo, văn hóa doanh nghiệp thể hiện rõ nét ở triết
lý kinh doanh của doanh nghiệp là định hướng và là cơ sở pháp lý để đưa ra những
quyết định quản lý quan trọng.
Sự phát triển bền vững của một doanh nghiệp một mặt đòi hỏi phải có chiến
lược kinh doanh với những mục tiêu lâu dài, mặt khác phải có sự mềm dẻo, dễ thích
ứng trong môi trường kinh doanh dễ thay đổi. Một khi đã xây dựng thành công văn
hóa doanh nghiệp thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ đủ sức đối đầu Và chiến thắng
trong những cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất.
1.4. Ý nghĩa của sự nhận thức của nhân viên về VHDN
Nhận thức về VHDN là giai đoạn đầu của việc xây dựng văn hóa doanh
nghiệp. Đây chính là cơ sở để thống nhất các hành động cũng như là suy nghĩ của
toàn thể người lao động. Các cá nhân trong doanh nghiệp nhận thức văn hóa qua
những gì họ thấy, họ nghe được trong DN của mình. Các thành viên trong tổ chức
có thể có trình độ, vị trí, trách nhiệm khác nhau nhưng vẫn có xu hướng mô tả về
VHDN theo những cách tương tự.
Một khách sạn hay một doanh nghiệp không thể đem lại chất lượng tốt cho du
khách nếu như DN không có một nền tảng VHDN vững chắc. Nếu nhân viên không
23

: [email protected]
Website
: www.jasminehuehotel.com
Xếp hạng : 
Khách sạn Jasmine tọa lạc ở vị trí trung tâm thành phố Huế, gần cầu Trường
Tiền lịch sử, bên bờ Nam dòng sông Hương thơ mộng, quyến rũ, gần khu phố Tây
luôn phong phú các hoạt động giải trí về đêm. Chỉ 5 phút đi bộ, bạn đã có thể đến
sông Hương, cầu Trường Tiền, phố đi bộ và hơn 10-20 phút để đến các địa danh du
lịch như Đại Nội, chợ Đông Ba, phố cổ Bao Vinh,…
Khách sạn Jasmine với kiến trúc mang vẻ thanh lịch kết hợp với không gian
hiện đại và sang trọng mà bạn có thể dễ dàng tìm thấy giữa trung tâm du lịch của
Huế với 68 phòng ngủ đầy đủ tiện nghi đạt tiêu chuẩn khách sạn 3 sao wifi miễn phí
24/24, điều hòa, bồn tắm, mini bar, két an toàn, khóa từ,… Phòng ngủ thoáng mát,
với ban công có hướng nhìn ra sông Hương êm đềm, khung cảnh hữu tình sông núi
đặc trưng rất Huế và toàn cảnh thành phố.

24
SVTH: Trần Thị Hồng Giang

24
Lớp: K47 QTKD-DL


Chuyên đề tốt nhiệp Đại học

GVHD: TS. Bùi Đức Sinh

Khách sạn Jasmine có tiền thân là khách sạn Ngọc Hương được thành lập
ngày 31/12/2003 do công ty TNHH DL Ngọc Hương đứng đầu, khách sạn được Sở
Du Lịch Thừa Thiên Huế công nhận là khách sạn 2 sao. Năm 2006 công ty TNHH

SVTH: Trần Thị Hồng Giang

25
Lớp: K47 QTKD-DL



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status