Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại đền huyền trân công chúa - Pdf 43

Chun đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn


Trong quá trình thực tập và hoàn thành
bản chuyên đề tốt nghiệp Đại học
chuyên nghành Quản Trò Kinh Doanh, Tôi xin
gửi lời cảm ơn đến:
Các thầy, cô giáo Khoa du lòch – Đại học
Huế đã tận tình giảng dạy, truyền thụ cho
tôi những kiến thức bổ ích. Kiến thức
mà tôi học được không chỉ là nền tảng
cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà
còn là hành trang quý báu trong quá trình
công tác sau này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến PGS. TS. Trần Hữu Tuấn người đã tận
tình hướng dẫn, trực tiếp dẫn dắt tôi
trong suốt thời gian thực tập và hoàn
thành khóa luận này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến:
Ban lãnh đạo và nhân viên Công ty TNHH
TM&DV Nam Thập đã giúp đỡ tận tình và
tạo điều kiện cho tôi tiến hành điều tra
và thu thập số liệu.
Do thời gian và kiến thức còn hạn chế
nên trong quá trình hoàn thành khóa luận
không thể tránh khỏi những sai sót, kính
mong sự góp ý xây dựng của quý thầy,


ii

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................................................... VIII
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5. KẾT CẤU ĐỀ TÀI

VIII
X
X
XI
XI

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....................................................................................XII
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÍ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN......................XII
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH
XII
1.1.1. Văn hóa tâm linh.........................................................................................................................xii
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa..............................................................................................................................xii
1.1.1.2. Khái niệm tâm linh............................................................................................................................xiii

XXXIX
2.2.1. Tình hình lượt khách và doanh thu tại đền Huyền Trân công chúa qua 5 năm(2011-2015)
trong ngày lễ và ngày thường..........................................................................................................xxxix
2.2.2. Kết quả điều tra người dân và du khách đến đền Huyền Trân công chúa..................................xl

2.2.2.1. Sơ lược về mẫu điều tra......................................................................................................................xl
2.2.2.2. Thông tin chung về khách điều tra......................................................................................................xl
2.2.2.3. Thông tin về chuyến đi và kênh thông tin người dân và du khách về đền Huyền Trân công chúa.. . .xliii
2.2.2.4. Mục đích của người dân và du khách khi đến tham quan đền Huyền Trân công chúa....................xlvii
2.2.2.5. Đánh giá độ tin cậy của thang đo Likert bằng hệ số Cronbach’s Alpha...........................................xlviii
2.2.2.6. Đánh giá của người dân và du khách khi trải nghiệm lễ hội và tài nguyên du lịch tại đền Huyền Trân
công chúa.......................................................................................................................................................... l
2.2.2.7. Cảm nhận chung, sự quay trở lại và giới thiệu cho bạn bè, người thân............................................lxiv

CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI ĐỀN
HUYỀN TRÂN CÔNG......................................................................................................................... LXVII
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

iii

LXVII

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SL
DĐP
KDL

ĐH
GHPG

Số lượng
Dân dịa phương
Khách du lịch
Cao đẳng
Đại học
Giáo hội Phật giáo Việt Nam

VN

SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

v

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

BẢNG 2.7: MỤC ĐÍCH CỦA NGƯỜI DÂN VÀ KHÁCH DU LỊCH KHI ĐẾN THAM QUAN ĐỀN HUYỀN TRÂN
CÔNG CHÚA..................................................................................................................................... XLVII
BẢNG 2.8: HỆ SỐ CRONBACH’S ALPHA.............................................................................................. XLIX
BẢNG 2.9: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐỒNG Ý VỀ YẾU TỐ “ CƠ SỞ VẬT CHẤT HỮU HÌNH”.................................L
BẢNG 2.10: KIỂM ĐỊNH ANOVA SỰ KHÁC BIỆT YẾU TỐ ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH VỀ YẾU TỐ “CƠ SỞ VẬT
CHẤT HỮU HÌNH”................................................................................................................................. LI
BẢNG 2.11: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐỒNG Ý VỀ YẾU TỐ “SỰ TIN CẬY”......................................................LIV
BẢNG 2.12: KIỂM ĐỊNH ANOVA SỰ KHÁC BIỆT YẾU TỐ ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH VỀ YẾU TỐ “SỰ TIN
CẬY”.................................................................................................................................................... LV
BẢNG 2.13: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐỒNG Ý VỀ YẾU TỐ “SỰ SẴN SÀNG ĐÁP ỨNG”..................................LVII
BẢNG 2.14: KIỂM ĐỊNH ANOVA SỰ KHÁC BIỆT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH VỀ YẾU TỐ “SỰ SẴN
SÀNG ĐÁP ỨNG”............................................................................................................................... LVIII
BẢNG 2.15: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐỒNG Ý VỀ YẾU TỐ “SỰ ĐẢM BẢO ”..................................................LIX
BẢNG 2.16: KIỂM ĐỊNH ANOVA SỰ KHÁC BIỆT YẾU TỐ ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH VỀ YẾU TỐ “SỰ ĐẢM
BẢO”................................................................................................................................................... LX
BẢNG 2.17: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐỒNG Ý VỀ YẾU TỐ “SỰ CHIA SẺ, CẢM THÔNG”.................................LXI
BẢNG 2.18: KIỂM ĐỊNH ANOVA SỰ KHÁC BIỆT YẾU TỐ ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH VỀ YẾU TỐ “SỰ CHIA
SẺ, CẢM THÔNG”.............................................................................................................................. LXIII
BẢNG 2.19: CẢM NHẬN CỦA KHÁCH KHI ĐẾN THAM QUAN ĐỀN HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA..............LXIV

SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

vii

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

viii

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

Mưa Huế, cầu Tràng Tiền, Kinh thành Huế là những nét thu hút người lữ
khách phương xa, làm chúm chím đôi môi hồng thiếu nữ, e ấp dòng sông Hương
thơ thẩn bên bờ. Tuy nhiên, du khách đến với Huế không chỉ đến thăm phong cảnh
của Huế , mà họ còn muốn đến thăm những ngôi chùa, ngôi đền. Huế từ lâu đã nổi
tiếng là thành phố của những ngôi chùa. Những ngôi chùa ở đây, không chỉ mang
nét trang nghiêm mà còn gần gũi, chúng cúi mình đón chào những du khách
phương xa đến thăm. Bởi vậy mới nói, đặc sản Huế không chỉ mè xửng, tôm chua,
mà còn là những món ăn chay do các bậc tăng ni ở đây tự tay nấu, đó mới là
thưởng thức nét riêng của vùng đất cố đô này. Chùa, đền ở Huế không chỉ nhiều,
mà trong mình nó còn mang nét đẹp kiến trúc riêng, cố kính, đặc sắc với những
giá trị lịch sử riêng mà không phải nơi nào cũng giống nơi nào.
Nước non ngàn dặm ra đi
Cái tình chi ?
Mượn màu son phấn..
Câu hát nhẹ nhàng ấy đưa người ta trở về quá khứ, cái thời công chúa Huyền
Trân dứt bỏ tuổi thanh xuân và hạnh phúc của mình, theo lời cha cưới chồng ở nơi
đất khách quê người,đưa ta đến ngôi đền Huyền Trân để tưởng nhớ đến công đức
của vị vua Trần Nhân Tông cùng công chúa Huyền Trân trong việc mở mang bờ
cõi nước nhà. Ngôi đền đóng vai trò quan trọng trong tâm khảm của mỗi người

Chúa, từ đó đưa ra một số giải pháp giúp hoàn thiện loại hình du lịch văn hóa
tâm linh ở Huế.
2.2.Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về loại hình du lịch văn hóa
tâm linh.
Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng hoạt động tâm linh ở đền Huyền Trân
công chúa
Đề xuất 1 số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch tâm linh tại đền
Huyền Trân công chúa
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh ở đền Huyền Trân công chúa
Đặc điểm, lịch sử và tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh
Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại đền
Đối tượng tác động
Tổ chức quản lí tại đền
Khách du lịch đến di tích vào ngày lễ hội và ngày thường
Người dân của Thừa Thiên Huế đến di tích vào ngày lễ hội và ngày thường.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Tại đền Huyền Trân công chúa, phường An Tây,
tỉnh Thừa Thiên Huế
Thời gian nghiên cứu
Du lịch thứ cấp: 2011-2016
Du lịch sơ cấp: 2/2017-4/2017
SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

x

Lớp: K47-QHCC


Chương II: Thực trạng của hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại đền Huyền
Trân công chúa
Chương III: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch văn
hóa tâm linh tại đền Huyền Trân công chúa
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

xi

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN LÍ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT
CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1. Những vấn đề cơ bản về du lịch văn hóa tâm linh
1.1.1. Văn hóa tâm linh
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là hiện tượng xuất hiện từ thuở sơ khai của xã hội loài người. Mặc
dù văn hóa rất gần gũi và thậm chí gắn bó máu thịt của sự phát triển của con người
và xã hội, nhưng việc nhận thức sâu sắc về nó là cả một quá trình lâu dài. Và thật
không ngoa khi nói rằng có bao nhiêu nhà nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu
định nghĩa.
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:
“Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về

Trong sách “Tâm linh Việt Nam”, tác giả Nguyễn Duy Hinh quan niệm:
“Tâm linh là thể nghiệm của con người (tâm) về cái Thiêng (linh) trong tự
nhiên và xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền lôgíc không phân biệt
thiện ác”[3].
Một quan niệm khác của tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn “Văn hóa
tâm linh” về tâm linh như sau:
“Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin
thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo”[4]. Cái thiêng liêng cao cả,
niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm.
Như vậy, có thể nói tâm linh là cái tồn tại trong mỗi con người. Nó thể hiện
qua niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng hay tôn giáo của mỗi người
và cụ thể hơn chính là sự ngưỡng vọng của họ về những biểu tượng, hình ảnh
thiêng liêng.
1.1.1.3. Khái niệm văn hóa tâm linh
Văn hóa tâm linh xuất hiện từ khá sớm, nó hình thành từ đời sống thực tế của
con người xa xưa, từ các tập tục, thói quen đến các nghi lễ tôn giáo và trở thành
nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con người.
Chẳng hạn như vào dịp xuân về, thì dù xa xôi cách mấy, hay dù đi đâu,ở đâu,
họ cũng muốn quay về xum họp với gia đình, thắp nén hương lên bàn thờ gia tiên
để báo với ông bà tổ tiên rằng con đã về, và cầu khẩn cho vong linh những người
quá cố phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, ăn nên làm ra… Những việc làm đó
không biết từ bao giờ đã đồng hành cùng con người Việt Nam.
Từ xa xưa, trong các hoạt động văn hóa truyền thống dân tộc, người Việt
nam đều tổ chức các hoạt động văn hóa tâm linh, hoạt do nhà nước Trung Ương tổ
chức, hoặc do làng xã tổ chức theo nghi lễ trang trọng,uy linh, với sự tham gia
một cách thành kính, tự nguyện của nhân dân. Đó là lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương,
SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

xiii


tục không quá 1 năm nhằm mục đích nghỉ ngơi, kinh doanh và các mục đích khác.
Theo định nghĩa du lịch trong Điều 4 luật du lịch thì:“Du lịch là các hoạt
động liên quan đến chuyến đi chủa con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định” [2]

SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

xiv

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

Khách du lịch.
Theo khoản 2, Điều 10, Chương I Pháp lệnh Du lịch Việt Nam thì:
“Khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường
hợp đi học, đi làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [7]
Theo định nghĩa du lịch trong Điều 4 luật du lịch:
“Khách du lịch là người đidu lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến’’.[2]
1.1.2.2. Du lịch văn hóa tâm linh và khách du lịch văn hóa tâm linh
Du lịch văn hóa tâm linh
Du lịch tâm linh là một loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố tâm linh vừa làm
cơ sở vừa làm mục tiêu thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống
tinh thần.
Tâm linh thường gắn liền với yếu tố “thiêng”. Du lịch tâm linh là việc thỏa


dân tộc ,gắn với đức tin và hướng thiện . Loại bỏ yếu tố mê tín dị đoan, loại bỏ
những kẻ “buôn thần, bán thánh, đây là loại hình du lịch hướng con người đến
nhiều yếu tố tốt lành”[11].
Du lịch tâm linh tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền thống. Thăm viếng bằng tâm
trí, trái tim. Nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết hướng về cái thiêng, hòa hợp với
thiên nhiên, đồng loại, chúng sinh. Nâng cao được giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về
tâm linh, cụ thể đối với Phật giáo là hiểu hơn về chân lý giải thoát, giá trị chân
thực và cuộc sống hiện tại.
Khách du lịch văn hóa tâm linh
Du lịch văn hóa tâm linh gồm tất cả các thành phần trong xã hội, các giai
cấp.không phân biệt hèn sang, tuổi tác, giới tính. Điều lí thú của du lịch văn hóa
tâm linh còn ở chỗ tất cả du khách đi trong tour điều như nhau trong vai trò của
một tín đồ không phân biệt thành phần xã hội, giai cấp, không phân biệt sang hèn,
giới tính,tuổi tác, địa vị xã hội…
Du lịch văn hóa tâm linh còn là du lịch đặc biệt thu hút khách vào dịp cuối
năm, đầu xuân, bởi thời điểm này, khách du lịch có thói quen hành hương cầu
nguyện những điều tốt đẹp trong năm mới. Đến các điểm du lịch tâm linh, họ
không chỉ lĩnh hội đầy đủ thông tin về cội nguồn, tín ngưỡng, tôn giáo của mình
mà còn trong suốt chuyến du lịch đó, họ được cầu nguyện tu dưỡng tinh thần, tạo
sức mạnh cho niềm tin và thực hành các nghi lễ truyền thông.
1.1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến du lịch văn hóa tâm linh
Cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải.
Sự phát triển về giao thông vận tải là một trong những điều kiện đầu tiên ảnh
hưởng đến du lịch, điểm du lịch dù hấp dẫn đến mấy nhưng nếu không có đầy đủ
cơ sở vật chất về giao thông cho du khách tiếp cận thì cũng không thu hút khách
du lịch, du lịch tâm linh cũng không ngoại lệ. Ngoài ra, điểm du lịch tâm linh
thường cách xa với các khu dân cư đông người, vì vậy, cơ sở hạ tầng càng phải
đầu tư nhiều hơn nữa so với các điểm tham quan khác.


như chùa chiềng, đền miếu là những điểm thu hút đông khách nhất.
Tình hình an ninh
Vấn đề an ninh luôn là một trong những nỗi băn khoăn của khách du lịch. Tại
các điểm du lịch tâm linh thường diễn ra các nạn chèo kéo khách, trộm cắp, móc
túi, ăn xin nhiều hơn bởi số khách du lịch thường đông kín và dày đặt vào các mùa
lễ hội. Ngoài ra, họ còn lợi dụng lòng thành kính của khách du lịch nơi đây nhằm
mục đích kinh doanh. Điều ngày gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của
điểm du lịch mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch tâm linh hiện nay.
Ý thức của khách du lịch
Hiện nay, nhiều khách du lịch đến tham quan tại các chùa chiềng, các nơi
linh thiêng nhưng mang váy ngắn, quần áo hở hang thiếu vải.Ngoài ra, họ còn có
SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

xvii

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

hành động nói bậy, chửi tục, gây mất hình ảnh tại các điểm du lịch tâm linh này.
Đây là một nhân tố gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển du lịch văn hóa
tâm linh.
1.1.3. Du lịch văn hóa tâm linh trong lễ hội Phật giáo
1.1.3.1. Lễ hội
a. Khái niệm
Theo nhà nghiên cứu M.Bakhtin:
“Lễ hội là cuộc sống được tái hiện theo hình thứ tế lễ và trò diễn, đó là cuộc


GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

thông của người Việt gồm có hai phần: Lễ và Hội gắn quyện chặt chẽ với nhau
trong một chỉnh thể thống nhất.
 Phần nghi lễ
Các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với những nghi thức nghiêm
túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo không gian và thời gian. Phần nghi lễ mở đầu
ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử
trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã
hội. Nghi thức lễ tế nhằm bày tỏ lòng tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh,
cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc. Nghi lễ tạo
thành nền móng vững chắc,tạo một yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ
đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội.
Phần hội
Phần hội diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý cộng
đồng, văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan điểm của dân tộc đó với thực tế lịch
sử, xã hội và thiên nhiên. Trong hội trường có những trò vui, những đêm thi
nghề,thi hát, tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công của người xưa.Tất cả những
gì tiêu biểu cho một vùng đất, một làng xã được mang ra phố diễn,mang lại niềm
vui cho mọi người. Đây là phần có tổ chức trò chơi, thi đấu, biểu diễn… mang lại
bản sắc văn hóa dân gian, mặc dù hàm chứa những yếu tố văn hóa truyền thống.
c. Đặc điểm
Tính thiêng
Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng tìm được một lý do mang tính
chất “thiêng” nào đó. Đó là người anh hùng đánh giặc bị thương, ngã xuống mảnh
đất ấy, đùn lên thành mộ. Đó là người anh hùng bay về trời.Có khi đó là một bờ
sông, xác người đang trôi bổng nhiên dừng lại, không trôi nữa, dân vớt lên, thờ
phụng… Cũng có khi lễ hội hình thành nhằm ngày sinh, ngày mất của một vị anh
hùng có công với làng, với nước. Những người đó bao giờ cũng được “thiêng

thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đèn rước kiệu.…đều mô phỏng sinh
hoạt cung đình. Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục,…Điều này
làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn, lộng lấy hơn. Mặc khác, lễ nghi cung đình
cũng làm cho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày
thường, đáp ứng tâm lý, những khát khao nguyện vọng của người dân.
Tính đương đại
Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch
sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại. Những trò chơi mới, những
cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như radio, catset, tăng âm..đã
tham gia vào lễ hội , giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu
cầu mới.
Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải trải qua sự sàng lọc tự nguyện
của nhân dân, được cộng đồng chấp thuận, không thể là một sự lắp ghép tùy
tiện, vô lý.
SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

xx

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

1.1.3.2. Lịch sử Phật giáo xứ Huế
Thời kỳ phong kiến
Phật giáo đã tồn tại ở Việt Nam hơn 200 năm, một thời gian khá dài để cho
dân tộc ta có thể chắt lọc những yếu tố thích hợp với điều kiện lịch sử - xã hội của
dân tộc ta, đất nước ta.



Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

Vào năm 1601, khi vào vùng đất Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng đã cho
xây dựng một ngôi chùa Thiên Mụ tại đồi Hà Khê, xã Giang Đạm, huyện Kim
Trà, Thuận Hóa. Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương ngược lên
phía đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh
uốn khúc, thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại.Theo người dân
kể rằng, nơi đây, vào ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện
trên đồi, nói với mọi người rằng: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để
tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh”. Năm sau, trong vai
trò lãnh đạo, chúa đứng ra tổ chức lễ hội trai đàn , niệm kinh giải oan và cầu cho
quốc thái dân an. Điều đáng nói, trên đường về, Chúa thấy một thảo am sụp đổ,
chúa cho lệnh trùng tu lại để phụng thờ Phật và sai Cai bạ lâm để biển Sùng Hóa
với mục đích là cầu phúc cho dân chúng được sống an lành. Năm Quý Mão 1603,
Chúa tổ chức đại lễ Phật đản tại chùa này với mục đích không chỉ tạ ơn Tam bảo
về những thành tựu đạt được của quân dân mà còn khẳng định với các nước láng
giềng về sức mạnh của dân tộc Việt Nam không có một thế lực nào có thể phân ly.
Như vậy, Phật giáo dưới triều chúa Nguyễn Phúc Chu đã thực sự tạo ra một
nguồn nhân lực tăng tài cho Phật Giáo. Ngoài ra, Phật giáo đằng trong còn có điều
kiện giao lưu với Phật giáo Trung Hoa, làm cơ sở tạo lập quốc gia, cũng là bước
đầu tiên Tọa niềm tin Phật Giáo với quần chúng nhân dân .Tuy nhiên, vào năm
1775, khi nhà Trịnh đưa quân từ Bắc Hà chiếm được Phú Xuân, bị quân Tây Sơn
chiếm lại, các chúa Nguyễn bỏ vào Nam, do hậu quả của chiến tranh nên chùa
Thuận Hóa gần như bị bỏ hoang, cho đến khi Nguyễn Ánh chính thức lên ngôi
vua thành lập nhà Nguyễn vào năm 1082, Phật giáo mới ít nhiều được phục hồi.
Tuy nhiên, trong cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình vào năm 1968 của

tiến trình Phát triển Phật giáo Việt nam.Hội còn chú trọng truyền giáo lý nhằm
phát triển Phật giáo trong quần chúng. Trong hoàn cảnh khó khăn chung của lịch
sử nước nhà giai đoạn 1930-1945, sự xuất hiện của nguyệt san Viên Âm đã làm
sống lại truyền thống Phật giáo Việt Nam, chuẩn bị một bước tổ chức rộng rãi hơn
là thành lập gia đình Phật tử-một tổ chức Phật giáo đông đảo trong mọi giai tầng
xã hội theo đạo Phật.
Việc thành lập tổ chức Gia đình Phật tử
Gia đinh Phật tử là tổ chức bao gồm mọi thành phần lứa tuổi, giới tính từ nhi
đồng, thiếu niên thanh niên nam nữ Phật tử. Năm 1950, Hội gia đình Phật tử đầu
tiên được khai mạc tại tổ đình Từ Đàm Huế và danh hiệu của “Gia đình Phật Tử”
chính thức xuất phát từ hội này. Những hoạt động của hội An Nam Phật học đã
đáp ứng một phần nhu cầu đòi hỏi sự duy trì và phát triển Phật giáo ở Thừa Thiên
Huế, tạo không khí mới phù hợp với sự phát triển của dân tộc.Gia đình Phật tử tại
Huế tổ chức sinh hoạt vào chủ nhật và các ngày vía, lễ hàng năm gồm học kinh,
giáo lí, học đạo đức ứng xử trong gia đình và xã hội, học hát, làm trò vui chơi…
Sinh hoạt gia đình Phật tử nhằm mục đích tạo nền móng căn bản Phật giáo cho các
em ngay từ niên thiếu, tạo hạt giống tương lai phát triển mạnh mẽ Phật giáo
Việt Nam đồng thời là tổ chức thành công lớn nhất của Hội An Nam Phật học.
SVTH: Phan Thị Ngọc Ánh

xxiii

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

Như vậy, khi quyền lực chính trịcủa triều đình không còn thì cũng là lúc Phật


xxiv

Lớp: K47-QHCC


Chuyên đề tốt nghiệp Đại học

GVHD: PGS.TS. Trần Hữu Tuấn

1.1.3.3. Du lịch văn hóa tâm linh trong các lễ hội Phật giáo
Mặc dù được mệnh danh là thành phố với những ngôi chùa với bề dày lịch
sử của nó, Huế có thế mạnh lớn trong việc phát triển du lịch văn hóa tâm linh.Tuy
nhiên, hầu như khách du lịch khi đến Huế đều đã quen tham quan các di sản,
thắng cảnh mà bỏ quên các yếu tố tâm linh từ lâu đời vốn đã rất mạnh mẽ ở vùng
đất thiêng này. Các lễ hội tâm linh dần dần bị bỏ quên khỏi tour du lịch của công
ty lữ hành, trong khi đó, các lễ hội Phật giáo này là một trong những nét đẹp tâm
linh được người Huế hết sức ưa chuộng.
Mỗi người đến tham dự các lễ hội Phật giáo với các mục đích khác nhau,
người đến vì tò mò tìm hiểu,người đến cầu nguyện, người đến tham quan….nhưng
điểm chung của họ là niềm tin với các tín ngưỡng mà mình đang tôn sùng . Ngoài
niềm tin tôn giáo đó, họ còn đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp tôn giáo, thỏa mãn nhu cầu
thưởng thức các giá trị văn hóa.Và sự tham gia đông đảo của các tín đồ đó góp
phần làm cho lễ hội thêm sinh động, hấp dẫn và đa dạng, bởi mỗi người đều mang
tất cả lòng thành kính và trân trọng đến cùng với ước mong, khao khát bản thân đã
từ lâu.Đến để thờ lạy, cúng viếng những giá trị văn hóa đó.
Những người Phật tử rất quan tâm đến tôn giáo, họ tự nguyện đến các lễ hội
Phật giáo như một trách nhiệm cao cả.Các lễ hội Phật giáo như lễ hội Phật Đản, lễ
hội đền Huyền Trân công chúa … chưa bao giờ được quảng bá rộng rãi nhưng lại
được tham gia rất đông và nồng nhiệt. Minh chứng đó là số lượng khách tham gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status