Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch sinh thái tại rừng dừa bảy mẫu cẩm thanh - Pdf 43

ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH
------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
ĐỊA PHƯƠNG VÀO PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
TẠI RỪNG DỪA BẢY MẪU CẨM THANH

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. LÊ VĂN HOÀI

TRẦN THỊ THƯƠNG
Lớp: K47 - HDDL

Huế, tháng 04 năm 2017

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC BẢNG

3

năm trở lại đây, du lịch cộng đồng tiếp tục mở rộng đến 2 thôn Vạn Lăng và Thanh
Tam Đông (xã Cẩm Thanh) với loại hình du lịch sinh thái gắn với rừng dừa nước mà
du khách thường gọi với cái tên là Rừng dừa Bảy Mẫu. Rừng dừa Bảy Mẫu đang trở
thành một điểm du lịch đang được quan tâm tại Quảng Nam. Là khu du lịch sinh thái
rộng lớn với sông nước cùng những rừng dừa bát ngát.Ông Nguyễn Văn Dũng - Chủ
tịch UBND TP.Hội An cho biết: “UBND thành phố chỉ đạo các ngành xây dựng các
chương trình, đề án, kế hoạch về phát triển cơ sở lưu trú, quản lý và khai thác các tiềm

5


năng du lịch trên địa bàn. Trên cơ sở đó, ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng du lịch cho
khu vực biển - đảo - làng quê, chú trọng việc bảo tồn, phát huy các giá trị sinh thái nhân văn của từng địa phương, gắn với đẩy mạnh phát triển các loại hình du lịch sinh
thái, du lịch cộng đồng tại các khu vực này, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia và
được hưởng lợi từ du lịch”.
Với mong muốn tìm hiểu thêm về du lịch sinh thái cộng đồng tại Rừng dừa Bảy
Mẫu Cẩm Thanh, tôi quyết định chọn tên đề tài cho Khóa luận tốt nghiệp Đại học của
mình là “ Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch
sinh thái tại Rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh”. Với việc chọn đề tài này, tôi hi vọng với
những kiến thức mà mình đã được học sẽ góp một phần nhỏ vào việc phát triển du lịch
tại quê hương của mình.Thông qua nghiên cứu đề tài tôi mong muốn có được sự hiểu
biết đầy đủ về mức độ tham gia của cộng đồng dân cư địa phương tại Rừng dừa Bảy
Mẫuvà sự đóng góp của họ trong hoạt động du lịch cộng đồng
2. Mục đích và đóng góp của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng địa phương trong công tác phát triển du
lịch sinh thái cộng đồng tại Rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh, qua đó đưa ra được
những đánh giá cơ bản nhất về vai trò của cộng đồng trong sự phát triển của du lịch
sinh thái và trong công tác quản lý loại hình du lịch này.
2.2. Mục tiêu cụ thể

4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
- Số liệu thứ cấp bao gồm các bảng số liệu về tình hình phát triển du lịch tại
Rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh trong giai đoạn 2014 – 2016. Các thông tin khác từ
sách, báo, internet và các khóa luận các năm trước.
- Số liệu sơ cấp: điều tra thông qua bảng hỏi đối với người dân và chính quyền
địa phương.
4.2. Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên
4.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sau khi tiến hành xong việc phát bảng hỏi điều tra, tiến hành hiệu chỉnh, mã hóa
dữ liệu và loại bỏ các bảng hỏi không đạt yêu cầu. Sử dụng phương pháp phân tích
thống kê bằng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích số liệu thứ cấp:

7


- Đối với các vấn đề định tính được nghiên cứu trong đề tài sử dụng thang điểm
Likert để lượng hóa các mức độ của người dân.
- Kiểm định độ tin cậy Cronback’s Alpha, thống kê mô tả, phân tích phương sai
một yếu tố (Oneway ANOVA), phân tích về tần suất và phần trăm của các ý kiến.
4.4. Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống để khảo sát thực tế, áp dụng việc
nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Việc có mặt tại thực địa để trực tiếp quan sát và tìm hiểu thông tin từ những người
được điều tra là việc rất cần thiết. Quá trình thực địa giúp cho tài liệu thu thập được
phong phú hơn, giúp cho việc học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao và có tầm nhìn
khách quan để nghiên cứu đề tài. Đây cũng là một trong những phương pháp vô cùng
quan trọng giúp cho thông tin trở nên xác thực hơn. Phương pháp này giúp cho người
nghiên cứu có cái nhìn khách quan hơn và có những đánh giá đúng đắn về vấn đề
nghiên cứu. Hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tránh được tính phiến diện trong khi

14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những
hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này
sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.

9


Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục
vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động
chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm
nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc
điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội.
1.1.2. Các loại hình du lịch
a) Du lịch di sản
Du lịch di sản là việc thực hành những trải nghiệm tại điểm đến bằng những câu
chuyện chân thực của quá khứ và hiện tại dựa trên các tài nguyên lịch sử, văn hóa và
thiên nhiên.
Du lịch di sản đóng vai trò quan trọng bởi nhiều lý do: nó có tác động tích cực
đối với kinh tế- xã hội, thiết lập và củng cố sự nhận dạng, giúp bảo tồn và gìn giữ các
di sản văn hóa; với văn hóa là một nhân tố giúp tăng hiểu biết và sự hòa hợp trong
cộng đồng, nó còn đóng vai trò hỗ trợ cho văn hóa và làm mới hoạt động du lịch
(Richards, 1996).
b)Du lịch bền vững
Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi
ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực
hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào.

d)Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái ( DLST) là một loại hình du lịch mới và đang có xu hướng phát
triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998: “DLST là du lịch có mục đích với các
khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không
làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế,
bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”.
Một định nghĩa khác của Honey (1999): “DLST là du lịch hướng tới những khu
vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại
và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó
trực tiêp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó
khuyên kích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”.

11


Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc
gia về phát triển đã đưa ra định nghĩa DLST như sau: “DLST là hình thức du lịch thiên
nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc
bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng
đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”.
Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn: “DLSTlà hình
thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia
của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”
e) Du lịch cộng đồng
Theo khái niệm trong tiêu chuẩn của ASEAN về du lịch cộng đồng, về mặt quốc
tế, kinh tế du lịch chủ yếu dựa vào doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này
cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách du lịch tới tham quan. Du lịch cộng đồng là
một loại hình du lịch tìm kiếm cơ hội trao quyền cho cộng đồng trong việc quản lý
mức độ tăng trưởng của du lịch và đạt được những mục tiêu có liên quan tới phúc lợi

Strasdas,Community Based Sustainable Tourism A Reader, 2000).
f) Phân biệt du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng
DLST và DLCĐ là hai loại hình du lịch đang ngày càng phổ biến và có vai trò
quan trọng trong việc hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đối với hoạt động du
lịch. Với loại hình DLST, nền tảng cho việc phát triển đó chính là dựa vào các tài
nguyên thiên nhiên sẵn có tại điểm đến cũng như việc kết hợp một phần của văn hóa
địa phương giúp tạo nên tính hấp dẫn cho loại hình du lịch này. Mục tiêu của DLST đó
là việc nâng cao nhận thức của DLST và DLCĐ là hai loại hình du lịch đang ngày
càng phổ biến và có vai trò quan trọng trong việc hướng đến mục tiêu phát triển bền
vững đối với hoạt động du lịch. Với loại hình DLST, nền tảng cho việc phát triển đó
chính là dựa vào các tài nguyên thiên nhiên sẵn có tại điểm đến cũng như việc kết hợp
một phần của văn hóa địa phương giúp du khách về các vấn đề môi trường, kêu goi
bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa. Với loại
hình DLCĐ, nền tảng cho sự phát triển nó chính là dựa vào cộng đồng địa phương, đặc
trưng và bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương tại điểm tổ chức hoạt động du
lịch. Tham gia loại hình du lịch này, du khách có điều kiện tìm hiểu về đời sống văn
hóa của người dân địa phương. Ngoài ra, trong loại hình DLCĐ cũng có kết hợp thêm
một số điểm du lịch tự nhiên theo thế mạnh của điểm đến tạo ra những trải nghiệm thú
vị cho du khách. Loại hình DLCĐ hướng đến việc giữ gìn và củng cố nền văn hóa địa

13


phương, tạo ra các lợi ích cho cộng đồng người dân địa phương khi tham gia vào hoạt
động du lịch này cũng như kêu gọi cộng đồng người dân địa phương chủ động bảo vệ
các giá trị văn hóa truyền thống cũng như tài nguyên thiên nhiên...Như vậy DLST và
DLCĐ cơ bản có mối liên quan đến nhau, loại hình du lịch này đóng góp một phần vào
sự phát triển của loại hình du lịch kia và ngược lại. Tuy nhiên, DLST và DLCĐ cũng
có một số nét khác biệt sau:
- Đối với DLCĐ, người dân địa phương có điều kiện tham gia hoạt động du lịch

nhưng cũng chỉ đơn giản là những điều này sẽ khuyến khích sự tham gia từ bản thân
cộng đồng.
Tóm lại: Du lịch sinh thái cộng đồng là loại hình du lịch do cộng đồng tổ chức,
dựa vào thiên nhiên và văn hoá địa phương với mục tiêu bảo vệ môi trường. Du lịch
sinh thái cộng đồng đề cao quyền làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao
chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Với khách du lịch, Du lịch sinh thái cộng đồng
tạo cơ hội tìm hiểu, nâng cao nhận thức về môi trường và giao lưu văn hoá, trải
nghiệm cuộc sống hàng ngày của cộng đồng.
Như vậy, du lịch sinh thái cộng đồng chính là nét tinh túy của du lịch sinh thái và
du lịch bền vững. Du lịch sinh thái cộng đồng nhấn mạnh vào cả ba yếu tố là môi
trường, du lịch và cộng đồng.
1.2.2. Tiêu chí của du lịch sinh thái cộng đồng
Theo UNWTO (2008) cho rằng những tiêu chí của một du lịch sinh thái cộng
đồng đang hướng tới gồm có các tiêu chí sau:
Người dân nên được tham gia vào quá trình lên kế hoạch và quản lý hoạt động



du lịch tại cộng đồng.


Hoạt động du lịch này phải mang lại lợi ích một cách công bằng cho cộng đồng.



Hoạt động du lịch này nên bao gồm tất cả các thành viên của cộng đồng hơn chỉ
là sự tham gia của một vài thành viên.




Không yêu cầu người dân trong cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch



nếu họ không muốn.

16


1.2.3. Đặc trưng và nguyên tắc phát triển
a) Đặc trưng
DLSTCĐ là loại hình du lịch được kết hợp từ du lịch sinh thái và du lịch cộng
đồng, do đó nó cũng mang những nét đặc trưng cũng như nguyên tắc phát triển tiêu
biểu của hai loại hình du lịch trên.
- DLSTCĐ là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên về văn háo bản địa để có thể
phát triển. Du khách khi tham gia loại hình du lịch này được trải nghiệm các giá trị văn
hóa tinh thần của CĐĐP cũng như hòa mình vào môi trường thiên nhiên.
- Các đơn vị liên quan tham gia vào DLSTCĐ có trách nhiệm tích cực bảo vệ môi
trường sinh thái, giảm thiểu các tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường và văn
hóa. Sự tham gai này bao gồm chính quyền địa phương, các cơ quan bảo tồn, các công
ty lữ hành, các tổ chức phi chính phủ, du khách và đặc biệt là sự tham gia của CĐĐP.
- Các phương tiện phục vụ DLSTCĐ bao gồm: các trung tâm thông tin, đường
mòn tự nhiên, cơ sở lưu trú trong CĐĐP, ăn uống sinh thái, các tài liệu in ấn khác.
- Các hướng dẫn viên vừa thực hiên chức năng thuyết minh, giới thiệu, vừa giám
sát các hoạt đọng của du khách.
- Thông qua hoạt động DLSTCĐ, du khách được giáo dục và nâng cao nhận thức
và ý thức tôn trọng về môi trường thiên nhiên, nền văn hóa của CĐĐP.
- Hoạt động DLSTCĐ phải đem lại lợi ích về kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa
phương, thu hút người dân địa phương tham gia bảo vệ môi trường. CĐĐP tham gia
hoặc chịu trách nhiệm ra quyết định, thực thi và điều hành các dự án.

về môi trường và giao lưu văn hóa, trải nghiệm cuộc sống. Đây cũng chính là ưu thế
của du lịch sinh thái và du lịch bền vững.
Du lịch sinh thái cộng đồng đã góp phần xóa đói, giảm nghèo và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn.
Du lịch sinh thái cộng đồng mang lại hiệu quả rõ rệt trong quá trình phát triển ở
các vùng nông thôn nước ta, tạo nhiều cơ hội cho cộng đồng địa phương thu nhập trực
tiếp từ hoạt động du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng dịch vụ
và phát triển bền vững.
Thông qua du lịch sinh thái cộng đồng, văn hóa các địa phương, các vùng miền
được tôn trọng, bảo vệ, khai thác, phát huy giá trị và được giới thiệu, quảng bá rộng rãi.

18


Du lịch sinh thái cộng đồng mang lại hiệu quả rõ ràng trong quá trình hiện đại
hóa nông thôn thông qua việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm, giữ gìn và phát huy
các làng nghề truyền thống, bảo vệ các giá trị cộng đồng, thay đổi mức sống của người
dân địa phương, thay đổi nhận thức và từng bước thu hẹp sự khác biệt giữa đô thị và
nông thôn về chất lượng cuộc sống, giảm bớt sức ép về di dân tự do từ các vùng nông
thôn tới đô thị, góp phần làm ổn định trật tự xã hội.
Khi cộng đồng phát triển, các dịch vụ du lịch tại điểm đến được nâng lên, chất
lượng phục vụ du khách từ đó cũng được nâng cao, đem lại nguồn thu dồi dào cho
người dân và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch. Mối quan hệ hữu cơ giữa phát
triển du lịch với phát triển cộng đồng vì thế càng trở nên khăng khít, gắn bó hơn.
1.2.5. Lợi ích và hạn chế của du lịch sinh thái cộng đồng
a) Về mặt kinh tế
Lợi ích
- Giúp mang lại những khoản tiền cho
cộng đồng từ sự chi tiêu của du khách.
- Tạo công ăn việc làm cũng như góp

- Khuyến khích bảo tồn và bảo vệ nguồn
tài nguyên lịch sử văn háo và tự nhiên.
c) Về mặt Văn hóa- Xã hội

Hạn chế
- Rác thải, tiếng ồn, khói bụi có thể gia
tăng cùng với sự phát triển của du lịch.
- Lượng khách quá nhiều sẽ làm giảm
thiểu chất lượng tài nguyên thiên nhiên và
lịch sử, văn hóa của địa phương.

Lợi ích

Hạn chế

19


- Khuyến khích phát triển các ngành nghề
thủ công truyền thống, các loại hình biểu
diễn nghệ thuật và văn hóa.
- Tăng cường trao đổi văn háo, nâng cao
nhận thức.
- Góp phần nâng cao lòng tự hào của
người dân địa đối với văn hóa địa
phương.
- Giúp cải thiện các vấn đề về chất lượng
dịch vụ, sản phẩm, cơ sở vaath chất hạ
tầng...


động kinh tế để đảm bảo về mặt vật chất và tạo nên sự cố kết cộng đồng. Đây là nhân
tố quan trọng giúp cho một cộng đồng phát triển vững mạnh.
Mỗi cộng đồng có những nét văn hóa đặc trưng riêng, được hình thành trong quá
trình phát triển của cộng đồng đó. Đó là các phong tục tập quán, các quy ước, tín
ngưỡng tôn giáo,... được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

20


Trong du lịch, cộng đồng thường được xác định theo phân bố địa lý. Theo Sproule
(1996): “cộng đồng là một nhóm người, thường sống trên cùng một khu vực địa lý, nhận
biết bản thân họ thuộc cùng một nhóm. Các thành viên trong một cộng đồng thường có
quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân. Tất cả họ có thể thuộc về cùng một nhóm tôn giáo,
chính trị, tầng lớp hoặc đẳng cấp”. Ngoài những đặc điểm chung, cộng đồng là một
thực thể phức tạp và không đồng nhất. Trong cùng một cộng đồng, có người giàu và
người nghèo, người mới nhập cư và những cư dân bản địa, người có nhiều đất đai và
người không có đất. Sự phân hóa trong cộng đồng dẫn đến mức độ tham gia và hưởng
lợi khác nhau của các thành viên trong một cộng đồng trong các chương trình, dự án
phát triển cộng đồng, do đó ẩn chứa những xung đột trong cộng đồng.
1.3.2. Sự tham gia của cộng đồng trong du lịch
Tham gia – participation được dịch thành 2 từ tham dự và tham gia. Theo GS Tô
Duy Hợp thì tham gia dự là tham gia ở mức độ thấp còn tham gia là tham dự ở mức độ
cao. Và phương pháp luận tham gia là phương pháp luận đi từ dưới lên tức là đi từ
người dân và trở thành khoa học.
Định nghĩa thuật ngữ “Sự tham gia của cộng đồng” theo Clanrence Shubert là
quá trình trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch,
thực hiện, quản lý sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt
động. Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của
cộng đồng.
Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch đã được quy định cụ

Điểm thu hút khách du lịch đầu tiên của CĐĐP đó chính là truyền thống địa
phương. Tại mỗi vùng khác nhau sẽ có những truyền thống khác nhau khiến du khách
cảm thấy thích thú và muốn tìm hiểu thêm về những truyền thống đó.
Ẩm thực sẽ là một trong những điểm thu hút thú vị tiếp theo của CĐĐP. Nét đặc
trưng trong văn hóa ẩm thực của mỗi vùng miền là điều mà mỗi du khách đều mong
muốn một lần được thưởng thức và cảm nhận.
Lịch sử và các di sản văn hóa ở các địa phương còn lưu giữ là một nét hấp dẫn
khách du lịch của CĐĐP. Khách du lịch mong muốn tìm hiểu thêm về những nét đặc
trưng trong lịch sử của một địa phương, một khu vực, một quốc gia... cũng như thăm
viếng những di sản văn hóa còn lưu giữ lại vì sự khác biệt trong lịch sử, văn hóa của
họ so với nơi họ đặt chân đến.

22


Đối với một số khách du lịch, kiến trúc của điểm đến cũng là một điều hết sức
thú vị mà họ mong được nhìn thấy tận mắt và tìm hiểu thêm về nó cũng như CĐĐP đã
tạo ra những giá trị kiến trúc độc đáo đó.
Bên cạnh đó, không thể không kể đến yếu tố âm nhạc, nghệ thuật. Đay cũng là
nét hấp dẫn đối với khách du lịch của CĐĐP. Qua quá trình sinh sống và làm việc đã
hình thành nên những loại hình nghệ thuật mạng nét đặc trưng riêng của từng vùng mà
CĐĐP là chủ thể xây dựng nên các loại hình nghệ thuật đó.
Tiếp theo đó chính là yếu tố về trang phục, phong tục. Rõ ràng có sự khác biệt
trong cách ăn mặc cũng như ứng xử ở mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia... Khi
nhắc tới trang phục hay phong tục của một nơi nào đó thì người ta sẽ dễ dàng liên
tưởng đến ngay nơi đó. Ví dụ khi nói tới Áo dài là trang phục truyền thống của Việt
Nam, sườn sám là của Trung Quốc, Kimono là trang phục truyền thống của Nhật...
Sự khác biệt về tôn giáo, ngôn ngữ cũng là điều thú vị khiến du khách muốn
thâm nhập vào đời sống của CĐĐP để cảm nhận một cách chân thực nhất.
Trên đây là một số nét hấp dẫn, thu hút khách du lịch mà tự bản thân của mỗi

Tại Việt Nam, các hình thức du lịch sinh thái cộng đồng thường thấy như: du lịch
homestay, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ cùng người dân bản địa, tham
quan các bản làng dân tộc, tìm hiểu lối sống, văn hóa của người dân bản địa, tham
quan nghiên cứu đa dạng sinh học,...
Hơn mười năm trở lại đây, loại hình du lịch cộng đồng xuất hiện ở nhiều địa
phương trong cả nước. Nhắc đến du lịch cộng đồng không thể không nói đến Sa Pa
(Lào Cai) ở miền núi phía Bắc với mô hình khai thác sự đa dạng văn hóa các dân tộc
bản địa. Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai Trần Hữu Sơn cho
biết: Lào Cai xây dựng mô hình du lịch cộng đồng đầu tiên ở thôn Bản Dền, xã Bản
Hồ, đến nay Sở đã phối hợp với các doanh nghiệp, các ngành, đoàn thể xây dựng
nhiều mô hình du lịch cộng đồng ở các xã Tả Van, Tả Phìn, làng Cát Cát, Thanh Phú,
xã Nậm Cang (huyện Sa Pa), xã Na Hối, xã Bản Phố, xã Tả Van Chư (huyện Bắc Hà)
và điểm du lịch Cao Sơn (huyện Mường Khương). Ở các điểm du lịch cộng đồng này
các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể đều được phát huy trở thành tài sản cho mỗi gia
đình người dân. Ở nhiều nơi (như ở Tả Van, Tả Phìn, Nậm Sài) người dân khai thác vẻ
đẹp kiến trúc, nếp sống nhân văn của nơi nghỉ để xây dựng các điểm lưu trú hấp dẫn.
Du khách đến thăm các làng văn hoá du lịch cộng đồng bên cạnh việc chiêm ngưỡng
vẻ đẹp thiên nhiên còn được thưởng thức các giá trị ẩm thực, xem và tham gia sinh
hoạt văn nghệ dân gian. Mô hình du lịch cộng đồng cũng được ngành du lịch Lào Cai
lựa chọn để xây dựng chiến lược phát triển cụ thể.

24


Hội An (Quảng Nam) là một trong những điểm đến hấp dẫn du khách ở khu vực
miền Trung của nước ta. Nơi đây ngoài khai thác thế mạnh các di sản văn hóa được thế
giới công nhận như phố cổ, đền tháp Mỹ Sơn hay thế mạnh của vùng biển, Hội An
cũng thành công với mô hình du lịch cộng đồng ở làng rau Trà Quế. Đây là nơi hình
thành mô hình du lịch cộng đồng đầu tiên ở Hội An gần 10 năm qua với nhiều đổi mới,
sáng tạo. Làng rau ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, nhất là khách quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status