BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
HÀN HẢI YẾN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà
Thời gian thực hiện: Tháng 6/2016 – 02/2017
HÀ NỘI 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của quý thầy cô, của nhiều cá nhân, tập thể, gia đình và đồng nghiệp.
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS.
Nguyễn Thị Song Hà đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh
nghiệm nghiên cứu và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện, hoàn
thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học, các
thầy cô Trường Đại học Dược Hà Nội đã truyền đạt kiến thức và tạo mọi
điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, nơi
tôi đang công tác và thực hiện đề tài đã tạo điều kiện, hỗ trợ về thu thập
số liệu trong thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, đồng
VIẾT TẮT
BHYT
BVĐK
BYT
DMT
DMTCY
DMTTY
GN, HTT
Generic
GT
HĐT&ĐT
HC
ICD
KM
MHBT
SL
TL
Triệu đ
WHO
NỘI DUNG
Bảo hiểm y tế
Bệnh viện đa khoa
Bộ Y tế
Danh mục thuốc
Danh mục thuốc chủ yếu
Danh mục thuốc thiết yếu
Gây nghiện, hướng tâm thần
Tên chung quốc tế
Nhóm biến số phân tích ABC,VEN, ma trận
ABC/VEN
Công thức tính của các chỉ số nghiên cứu
Ma trận ABC/VEN
Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
Bảng 3.9.
Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
34
Bảng 3.10
Cơ cấu thuốc đơn, đa thành phần trong danh mục
thuốc sử dụng
35
Bảng 3.11.
Cơ cấu thuốc theo tên biệt dược gốc – tên chung
quốc tế trong danh mục thuốc sử dụng
37
Bảng 1.1.
Bảng 1.2.
Bảng 1.3.
Bảng 2.4.
38
38
39
40
41
43
45
45
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
Hình 2.1.
Sơ đổ tóm tắt nội dung nghiên cứu
20
Hình 3.2.
Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
34
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................... 19
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ................................................... 19
2.1.3. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 19
2.2. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 19
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu ......................................................................... 19
2.2.2. Các biến số nghiên cứu ................................................................... 21
2.3. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 24
2.3.1. Nguồn thu thập................................................................................ 24
2.3.2. Phương pháp thu thập ..................................................................... 25
2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ................................................ 25
2.4.1. Phương pháp phân tích ................................................................... 25
2.4.2. Xử lý và trình bày số liệu................................................................ 30
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................... 31
3.1. Mô tả cơ cấu về số lượng và giá trị của danh mục thuốc sử dụng tại
Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương năm 2015 theo một số chỉ tiêu .......... 31
3.1.1. Cơ cấu về số lượng và giá trị sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng
dược lý ...................................................................................................... 31
3.1.2 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ ............................................ 34
3.1.3 Cơ cấu thuốc đơn, đa thành phần trong danh mục thuốc sử dụng.. 35
3.1.4 Cơ cấu thuốc theo tên biệt dược gốc – tên generic trong danh mục
thuốc sử dụng ............................................................................................ 36
3.1.5 Cơ cấu thuốc theo đường dùng trong danh mục thuốc sử dụng ..... 37
3.1.6 Cơ cấu thuốc cần quản lý đặc biệt .................................................. 38
3.2 Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình
Dương năm 2015 theo phương pháp phân tích ABC và VEN .................... 39
3.2.1 Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích ABC
................................................................................................................... 39
3.2.2 Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích VEN
và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [25]. Các nghiên cứu đã cho
thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nước trên thế giới.
Tại các nước đang phát triển, 30%-60% bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh
gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết [24] và hơn một nửa số ca viêm đường hô
hấp trên điều trị kháng sinh không hợp lý.
Ở nước ta, với những chính sách mở cửa của cơ chế thị trường và đa
dạng hóa các loại hình cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày càng phong phú
về số lượng, chủng loại và cả nhà cung cấp. Điều này giúp cho việc cung ứng
thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện nói riêng trở nên dễ dàng
và thuận tiện hơn. Tuy nhiên, nó cũng tác động không nhỏ tới hoạt động sử
dụng thuốc trong bệnh viện, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh cũng
như tình trạng lạm dụng thuốc. Việc dùng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý
trong bệnh viện là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh,
tăng khả năng kháng thuốc trong điều trị.
Để hạn chế tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các
quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) tại các bệnh viện.
HĐT&ĐT là hội đồng được thành lập nhằm đảm bảo tăng cường độ an toàn
và hiệu quả sử dụng thuốc trong các bệnh viện. Thành viên của HĐT& ĐT
bao gồm các chuyên gia nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đảm bảo cho người
bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua
1
việc xác định xem loại thuốc nào thiết yếu cần cung ứng, giá cả và sử dụng
hợp lý an toàn [25].
Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương là Bệnh viện hạng I tuyến tỉnh, với
mô hình 1300 giường bệnh, 1108 nhân viên, chăm sóc sức khỏe nhân dân trên
địa bàn toàn tỉnh và các địa phương lân cận.
Ngày 08 tháng 8 năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 21/TT-BYT
phải lấy ý kiến đóng góp của các khoa phòng.
Việc xây dựng một danh mục thuốc phù hợp sẽ mang lại rất nhiều lợi
ích, đảm bảo thuốc có hiệu quả điều trị, với chất lượng tốt và chi phí hợp lý
đồng thời loại bỏ các thuốc không an toàn và hiệu quả không cao, làm giảm
những nguy cơ về sức khỏe và lãng phí trong quá trình sử dụng thuốc.
Sự lựa chọn thuốc thành phẩm để mua sắm, sử dụng cho người bệnh
theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản
xuất trong nước [8].
Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các
quy định về sử dụng DMT do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô
hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện, HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp Giám
đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng DMT bệnh viện theo nguyên tắc:
- Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều
trị trong bệnh viện;
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật;
- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và
áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
- Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị;
3
- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện;
- Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do
Bộ Y tế ban hành;
- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước [6].
Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng
thuốc chủ động, có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an
toàn, hiệu quả. Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng hàng năm và có thể
bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong các kỳ họp của HĐT&ĐT [23].
1.2. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc
sách thuốc (nhóm A). Nhóm tiếp theo: 20% theo chủng loại sử dụng 20%
ngân sách (nhóm B), nhóm còn lại (nhóm C): 70% theo chủng loại nhưng chỉ
sử dụng 10% ngân sách. Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu sử dụng
thuốc cho chu kỳ một năm hoặc ngắn hơn để ứng dụng cho một hoặc nhiều
đợt đấu thầu, từ các kết quả phân tích thu được, các giải pháp can thiệp được
đưa ra nhằm điều chỉnh ngân sách thuốc cho một hoặc nhiều năm tiếp theo
[6].
Phân tích ABC là một công cụ mạnh mẽ trong lựa chọn, mua và cấp
phát và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác và khách quan
về sử dụng ngân sách thuốc.
Phân tích ABC có nhiều lợi ích: trong lựa chọn thuốc, phân tích được
thuốc nhóm A có chi phí cao, các thuốc này có thể được thay thế bởi các
thuốc rẻ hơn; trong mua hàng, dùng để xác định tần suất mua hàng: mua
thuốc nhóm A nên thường xuyên hơn, với số lượng nhỏ hơn, dẫn đến hàng
tồn kho thấp hơn, bất kỳ giảm giá của các loại thuốc nhóm A có thể dẫn
đến tiết kiệm đáng kể ngân sách. Do nhóm A chiếm tỷ trọng ngân sách lớn
nên việc tìm kiếm nguồn chi phí thấp hơn cho nhóm A như tìm ra dạng liều
5
hoặc nhà cung ứng rẻ hơn là rất quan trọng. Theo dõi đơn hàng nhóm A có
tầm quan trọng đặc biệt, vì sự thiếu hụt thuốc không lường trước có thể dẫn
đến mua khẩn cấp thuốc với giá cao. Phân tích ABC có thể theo dõi mô hình
mua tương tự như quyền ưu tiên trong hệ thống y tế [25].
1.2.3. Phương pháp phân tích VEN
- Phân tích VEN dựa trên mức độ quan trọng của các nhóm thuốc:
+ Nhóm V (Vital) là nhóm thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu
hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám
bệnh, chữa bệnh của bệnh viện;
+ Nhóm E (Essential) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít
viện phí hàng năm trong bệnh viện [2], [10].
Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng thuốc ở các cơ sở y tế đang gặp rất
nhiều khó khăn, bất cập. Hiện nay, thuốc điều trị luôn gắn chặt với quyền lợi
BHYT và đang có nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý, sử dụng. Chi phí về
thuốc ngày càng tăng và luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi của quỹ
BHYT. Năm 2010: tổng chi tiền thuốc của quỹ BHYT khoảng 11.564 tỷ
đồng, chiếm 60% tổng chi khám chữa bệnh của quỹ. Năm 2011: khoảng
15.568 tỷ đồng, chiếm 61,3% tổng chi của quỹ; tăng 34,6% so với năm 2010.
Năm 2012: khoảng 19.561 tỷ đồng, chiếm 60,6% tổng chi của quỹ; tăng gần 4
ngàn tỷ so với 2011 [26].
1.3.1.2.Về nguồn gốc xuất xứ
Cùng một dược chất, dạng bào chế, thuốc có nguồn gốc nhập khẩu
thường có giá cao hơn thuốc sản xuất trong nước, vì phải chi phí về bảo
quản, vận chuyển hoặc do chiến lược định giá của các hãng khác nhau. Rõ
ràng, việc sử dụng thuốc trong nước sẽ chủ động được nguồn cung ứng,
mang lại lợi ích về kinh tế và quản lý cho bệnh viện và người bệnh. Thực tế
7
hiện nay thuốc có nguồn gốc nhập khẩu đang chiếm tỷ lệ cao trong chi phí
mua thuốc tại các bệnh viện.
Năm 2012, theo báo cáo của 1018 bệnh viện thì tiền thuốc tiêu thụ cho
thuốc có nguồn gốc trong nước chỉ chiếm 38,7% trong tổng số 15 nghìn tỷ
đồng chi mua thuốc, còn lại là chi phí cho các thuốc có nguồn gốc nhập
khẩu. Tuy nhiên, tỷ lệ chi phí cho thuốc có nguồn gốc trong nước cũng có sự
khác nhau giữa các tuyến bệnh viện.
- Tại các bệnh viện tuyến trung ương: năm 2010, theo thống kê của 34
bệnh viện thì tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam là hơn 387 tỷ đồng
chiếm 11,9% tổng chi phí mua thuốc.
thương hiệu và chi phí bảo hộ tên thương mại.
Năm 2009, một nghiên cứu cho thấy thuốc mang tên gốc có số loại và
giá trị sử dụng trong các bệnh viện nghiên cứu đều thấp hơn thuốc mang tên
biệt dược và không có sự khác biệt ở các tuyến. Cụ thể:
- Tại các bệnh viện tuyến trung ương: số khoản mục thuốc mang tên
gốc chiếm từ 32,6% đến 35,1%, tại bệnh viện C Đà Nẵng là 35,1%, tại bệnh
viện E là 32,6%. Giá trị sử dụng nhóm thuốc này chiếm từ 21,1% đến 31,2%,
tại bệnh viện C Đà Nẵng là 31,2%, tại bệnh viện Chợ rẫy là 21,1%.
- Tại các bệnh viện tuyến tỉnh, thuốc mang tên gốc chiếm tỷ lệ từ 22,4%
đến 46%, tại BVĐK Điện Biên chiếm 46%, tại bệnh viện Thanh Nhàn - Hà
Nội chiếm 22,4%. Giá trị sử dụng nhóm thuốc này chiếm tỷ lệ từ 12,1% đến
38,1%, tại BVĐK Điện Biên chiếm 38,1%, tại bệnh viện Việt Tiệp Hải
Phòng chiếm 12,1%.
- Tại các bệnh viện tuyến huyện, số thuốc mang tên gốc chiếm tỷ lệ cao
nhất, nằm trong khoảng 35,5% (Bệnh viện Thủ Đức- Thành phố Hồ Chí
Minh) đến 47,8% ( Bệnh viện huyện Simacai- Lào Cai). Tuy nhiên, giá trị sử
dụng thuốc mang tên gốc của tuyến bệnh viện này chỉ chiếm tỷ lệ từ 17,8%
đến 21,8%, thấp hơn tuyến trung ương và tuyến tỉnh [15].
9
1.3.1.4. Về cơ cấu nhóm tác dụng
Sử dụng kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng thuốc
an toàn, hợp lý. Theo kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện, kinh phí mua
thuốc kháng sinh luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền thuốc sử
dụng. Kết quả khảo sát của Bộ Y tế tại một số bệnh viện cho thấy, từ năm
2007 đến 2009, kinh phí mua thuốc kháng sinh chiếm tỷ lệ không đổi, từ
32,3% đến 32,4% trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [18].
Kết quả phân tích kinh phí sử dụng một số nhóm thuốc tại các bệnh
tuyến trung ương và tuyến tỉnh nhưng vẫn ở mức cao dao động từ 44,1% đến
51,2% [15].
1.3.2. Phân tích ABC, VEN tại một số bệnh viện ở Việt Nam
Trong nghiên cứu sử dụng thuốc, các dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc có
thể được phân tích theo bốn phương pháp chính, bao gồm: Phân tích ABC;
phân tích nhóm điều trị; phân tích sống còn, thiết yếu và không thiết yếu
(VEN) và phương pháp phân tích theo liều xác định trong ngày (DDD). Tất
cả các phương pháp này đều là công cụ hữu ích giúp HĐT&ĐT quản lý danh
mục và phát hiện được các vấn đề trong sử dụng thuốc bất hợp lý.
Trong đó, việc thực hiện phân tích ABC, VEN ở các nước khác đã cung
cấp một mức độ tin cậy về tính khách quan trong việc phân tích các chi tiêu
của Nhà nước về cung cấp thuốc, giúp giảm thiểu chi phí và loại bỏ các vấn
đề đã phát sinh trước đó trong quá trình mua sắm.
Việc phân tích ABC, VEN ở nước ta đã được Bộ Y tế đưa vào Thông tư
số 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08/8/2013, đây là một trong những
phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc và là bước đầu
tiên trong quy trình xây dựng DMT bệnh viện. Vũ Thị Thu Hương sử dụng
phương pháp phân tích ABC là một trong các tiêu chí đánh giá hoạt động của
HĐT&ĐT trong xây dựng và thực hiện DMT tại một số bệnh viện đa khoa
và nhận thấy các bệnh viện đã mua sắm tương đối tập trung vào các thuốc
11
được sử dụng nhiều nhất trong điều trị (sử dụng 70% tổng kinh phí để mua
sắm 11,2% – 13,1% số khoản mục thuốc). Đây là các thuốc có giá trị và số
lượng sử dụng lớn trong bệnh viện. Chính vì thế cần ưu tiên trong mua sắm
đồng thời quản lý chặt chẽ các thuốc thuộc nhóm A này [15].
Ở Việt Nam hiện đang mở rộng việc áp dụng phân tích ABC/VEN ở
các bệnh viện. Năm 2012, Huỳnh Hiền Trung đã dùng phân tích ABC, VEN
là một tiêu chí để đánh giá sự cải thiện trong can thiệp cải thiện chất lượng
giường bệnh bao gồm 22 khoa lâm sàng, 01 khoa khám bệnh, 09 khoa cận
lâm sàng và 07 phòng chức năng. Công suất sử dụng giường bệnh luôn vượt
100% với trung bình 1310 bệnh nhân nội trú và 1500 - 1800 bệnh nhân khám
ngoại trú mỗi ngày.
1.4.1. Chức năng nhiệm vụ
Bệnh viện có những nhiệm vụ chính sau:
- Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng;
- Đào tạo cán bộ Y tế;
- Nghiên cứu khoa học về Y học;
- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật;
- Phòng bệnh;
- Hợp tác quốc tế;
- Quản lý kinh tế Y tế.
1.4.2. Cơ cấu nhân lực của bệnh viện
Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương là một bệnh viện đa khoa hạng I, là
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến cuối của tỉnh, có đội ngũ cán bộ chuyên
khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu. Đây là điều kiện thuận lợi cho bệnh
viện trong tổ chức thăm khám, điều trị và sử dụng thuốc hợp lý.
Nhân lực của bệnh viện gồm 1109 cán bộ viên chức, được thể hiện ở
bảng sau đây:
13
Bảng 1.1. Cơ cấu nhân lực của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương
Trình độ chuyên môn
STT
Số lượng
1109
Trong đó, bệnh viện có 192 cán bộ viên chức có trình độ đại học, sau
đại học được đào tạo chuyên sâu ở nhiều chuyên khoa.
1.4.3. Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương năm
2015
Mô hình bệnh tật tại bệnh viện được sắp xếp theo phân lọai Quốc tế bệnh
tật ICD lần thứ 10, đây là cơ sở quan trọng cho HĐT&ĐT xây dựng phác đồ
điều trị, lựa chọn và xây dựng danh mục thuốc bệnh viện.
Bảng 1.2. Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương năm 2015
Số
Nhóm bệnh
TT
1 Bệnh của hệ hô hấp
2 Bệnh của hệ tuần hoàn
Tần suất
Tỷ lệ %
53.527
42.706
17,4
13,9
3 Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật
29.289
8 Bệnh của hệ tiết niệu sinh dục
16.264
5,3
15.376
5,0
10.848
3,5
11 Khối u
10.129
3,3
12 Các nhóm bệnh khác
31.984
10,4
307.473
100
- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt quản lý thuốc”;
- Tổ chức pha chế thuốc dùng ngoài sử dụng trong bệnh viện;
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc,
tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến
tác dụng không mong muốn của thuốc;
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại
các khoa trong bệnh viện;
- Nghiên cứu khoa học và đào tạo, là cơ sở thực hành của các trường Đại
học, Cao đẳng, Trung học về dược;
- Phối hợp với khoa cận lâm sàng, lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá,
giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý;
- Tham gia chỉ đạo tuyến;
- Tham gia hội chẩn khi có yêu cầu;
- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc.
1.4.4.2. Cơ cấu nhân lực của khoa Dược
Khoa Dược có tổng số 39 cán bộ với cơ cấu trình độ chuyên môn cán bộ
được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.3. Cơ cấu nhân lực của khoa Dược
STT
Trình độ chuyên môn
Số lượng
Tỷ lệ %
1
Dược sĩ chuyên khoa 1
100
Tổng số
16
Cơ cấu cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, khoa Dược vẫn
cần thêm cán bộ có trình độ cao và kinh nghiệm, đặc biệt là trong lĩnh vực
Dược lâm sàng. Khoa tiếp tục cử cán bộ đi học để nâng cao trình độ, tham gia
các lớp tập huấn chuyên môn để cập nhật các kiến thức mới và hoàn thành tốt
nhiệm vụ của mình trong việc tư vấn cho Giám đốc bệnh viện về sử dụng
thuốc an toàn, hợp lý với chi phí phù hợp.
1.4.5. Một vài nét về sử dụng thuốc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình
Dương
Trong những năm qua, số loại thuốc và tổng giá trị sử dụng thuốc tại
Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương ngày một tăng để đáp ứng nhu cầu khám
và điều trị cho người bệnh.
Đơn vị là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến cuối của tỉnh với mô hình
bệnh tật đa dạng, phần lớn bệnh nhân đến khám và điều trị trong tình trạng
bệnh nặng, cần sử dụng thuốc chuyên khoa đặc trị nên bệnh viện có một danh
mục thuốc sử dụng với nhiều nhóm tác dụng dược lý với số khoản mục lớn và
tổng giá trị sử dụng cao.
Chính vì vậy, công tác lựa chọn, cung ứng thuốc cũng gặp không ít khó
khăn, tuy vậy vẫn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và phù hợp, để phục vụ tốt cho
công tác khám chữa bệnh cho bệnh nhân, tiết kiệm chi phí mà vẫn hiệu quả.
Tuy nhiên, thực trạng một danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện như
vậy cần được xem xét, đánh giá lại đã thực sự hợp lý hay chưa, nên cân nhắc
lựa chọn và thay thế những loại thuốc đắt tiền bằng thuốc khác có tác dụng
điều trị tương đương, giá thành rẻ hơn đồng thời nên hạn chế những thuốc có