TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
PHẠM NGỌC DUNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT
CỦA HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
PHẠM NGỌC DUNG
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ KỸ THUẬT
CỦA HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI
Ngành
: Quản lý Môi trường
Mã ngành : 52 85 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. NGHUYỄN QUANG HỒNG
điều kiện, cung cấp nhiều tài liệu và trực tiếp cử điều dưỡng dẫn dắt tôi đến các
khoa/ phòng để thu thập thông tin.
Đặc biệt, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy Th.S Nguyễn Quang Hồng,
công tác tại khoa Môi trường và Đô thị- Trường Đại học kinh tế Quốc dân, thầy đã
luôn tận tình chỉ bảo, định hướng và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm đồ án.
Thầy đã cho tôi những lời khuyên ý nghĩa và quan trọng trong việc nghiên cứu.
Trong quá trình hoàn thành đồ án, dưới sự hướng dẫn của thầy, tôi đã học được tinh
thần làm việc nghiêm túc, cách nghiên cứu khoa học hiệu quả, và đó là hành trang,
là định hướng giúp tôi trong quá trình làm việc sau này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè vì đã luôn động
viên, khuyến khích và đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành đồ án.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nôị, Ngày 08 tháng 06 năm 2016
Sinh viên
Phạm Ngọc Dung
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
AAO
Chữ viết đầy đủ
Anaerobic (Yếm khí) – Anoxic
BVMT
CBA
CBYT
NT
lượng, góp phần phòng ngừa và chữa trị bệnh tật cho nhân dân.
Sự gia tăng dân số tại các quận nội thành Hà Nội thời gian qua tạo ra sức ép
lớn đối với hệ thốngkhám chữa bệnh, làm cho nhiều bệnh viện quá tải. Sự gia tăng
số lượng bệnh nhân kéo theo lượng chất thải y tế, nước thải bệnh viện ngày càng
tăng. Điều đáng lo ngại là khi có nhiều bệnh nhân, phòng khám được đầu tư thì vấn
đề môi trường phát sinh trong quá trình hoạt động của bệnh viện, phòng khám chưa
được quan tâm và đầu tư đúng mức. Theo thống kê hiện nay thì ở nước ta mới chỉ
có khoảng 54% các bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, nhiều bệnh viện có hệ
thống xử lý nhưng không hiệu quả.
Nước thải bệnh viện là một trong những mối quan ngại vì chúng có thể gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng và nguy hại cho con người.Nước thải của bệnh viện
chứa các vi trùng gây bệnh, thuốc kháng sinh, thuốc sát trùng. Các vi trùng gây
bệnh có thể tồn tại trong một thời gian nhất định ngoài môi trường khi có cơ hội sẽ
phát triển trên một vật chủ khác và đó chính là hiện tượng lây lan các bệnh truyền
nhiễm. Nguy hiểm hơn trong nước thải bệnh viện có 20% chất thải nguy hại nếu
không được xử lý triệt để sẽ là mối nguy hiểm lớn cho môi trường.Các loại thuốc
điều trị ung thư và các sản phẩm chuyển hóa của chúng nếu xả ra bên ngoài mà
không được xử lý sẽ có khả năng gây quái thai, ung thư cho những người tiếp xúc
với chúng. Ngoài ra, các chất kháng sinh và thuốc sát trùng xuất hiện cùng dòng
thải sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có lợi và có hại gây ra sự phá vỡ hệ cân bằng sinh thái
trong hệ của các vi khuẩn tự nhiên của môi trường nước thải, làm mất khả năng xử
lý nước thải của vi sinh vật nói chung.
8
Nếu chất thải rắn y tế có thể thuê các đơn vị có chức năng đem ra ngoài bệnh
viện xử lý thì nước thải bệnh viện buộc các bệnh viện phải có hệ thống xử lý. Tuy
nhiên việc xử lý nước thải bệnh viện đòi hỏi một quy trình nghiêm ngặt, giám sát
chặt chẽ và công nghệ xử lý phải đảm bảo chặt chẽ và công nghệ xử lý phải đảm
Đánh giá những thay đổi về chất lượng môi trường sau khi bệnh viện đưa vào hoạt
-
đông hệ thống xử lý nước thải.
Sử dụng phương pháp phân tích chi phí lợi ích đánh giá hiệu quả kinh tế của xử lý
nước thải cụ thể.
9
Xác định lợi ích tài chính thông qua việc tích kiệm chi phí liên quan đến môi
trường của bệnh viện.
Đánh giá những tác động tích cực về cải thiện chất lượng môi trường xung
quanh, giảm nguy cơ bệnh tật và chi phí y tế sau khi hệ thống xử lý nước thải
-
bệnh viện vận hành.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình xử lý nước thải bệnh viện.
3.Nội dung nghiên cứu
-
Đánh những cải thiện môi trường của bệnh viện khi hệ thống xử lý nước thải đi vào
bệnh, các cơ sở y tế, các cơ sở nghiên cứu đào tạo y dược và cơ sở sản xuất dược
liệu. Do sự đa dạng về nguồn thải và nguồn tiếp nhận đồng thời tiềm ẩn nguy cơ
gây dịch bệnh nên nước thải y tế cần được xử lý ngay tại nơi phát sinh.
1.1.2.Lượng nước thải y tế phát sinh
Lượng nước cấp của các bệnh viện trong một ngày là cơ sở để tính toán hệ
thống thu gom nước thải và lựa chọn công suất của hệ thống xử lý nước thải một
cách chính xác nhất. Tuy nhiên, lượng nước thải phát sinh cần được xử lý tại các
bệnh viện thường được tính toán dựa trên số lượng bệnh nhân hoặc số giường bệnh
(lượng nước thải tính trên bệnh nhân trong ngày). Tổ chức Y tế Thế giới WHO đã
đưa ra một vài phương pháp ước tính lượng nước thải phát sinh như sau:
-
Bệnh viện quy mô nhỏ và trung bình là 200-500 lít/người.ngày.
Bệnh viện mô hình lớn: 400-700 lít/người.ngày.
Bệnh viện trường học: 500-900 lít/người.ngày.
Tuy nhiên, lượng nước thải thực tế thu gom phụ thuộc rất nhiều vào chất
lượng của hệ thống thu gom trong các cơ sở y tế. Trên thực tế với hệ thống thu gom
11
không hiệu quả, lượng nước thải thực tế được thường thấp hơn đáng kể so với các
giá trị được chỉ ra trong bảng sau:
Bảng 1.1:Lượng nước tiêu thụ và lượng nước xả thải ước tính theo WHO
Lượng nước thải ước
TT
Quy mô bệnh viện
(số giường bệnh)
500-700
600
300-400
5
>700
600
>400
6
Bệnh viện kết hợp
1000
>500
nghiên cứu và đào tạo
>700
Nguồn: Trung tâm KTMT đô thị và KCN – Trường ĐHXD, Hà Nội,2002
Số liệu bảng trên là một cách thông thường được các bệnh viện sử dụng để
tính toán lượng nước thải. Đó là cách xác định từ lượng nước tiêu thụ và lượng
nước xả thải của bệnh viện.
Đối với các cơ sở y tế dự phòng hoặc các trạm y tế xã, tiêu chuẩn cấp nước
thường thấp hơn các giá trị nêu ở bảng trên. Lưu lượng nước cấp thường dao động
Các chỉ tiêu hữu cơ của nước thải y tế gồm có: nhu cầu oxy sinh hóa (BOD)
và nhu cầu oxy hóa học (COD).
BOD5 gián tiếp chỉ ra mức độ ô nhiễm do các chất có khả năng bị oxy hoá sinh học,
mà đặc biệt là các chất hữu cơ.
BOD5 thường được xác định bằng phương pháp phân hủy sinh học trong thời
gian 5 ngày nên được gọi là chỉ số BOD5 . Có thể phân loại mức độ ô nhiễm của
nước thải thông qua chỉ số BOD5 như sau:
BOD5 < 200 mg/lít (mức độ ô nhiễm thấp)
350 mg/l < BOD5 < 500mg/l ( mức độ ô nhiễm trung bình )
500 mg/l < BOD5 750 mg/lít (mức độ ô nhiễm rất cao)
BOD5> 750mg/lít ( mức độ ô nhiễm rất cao)
Theo báo cáo khảo sát của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường tại
nhiệm vụ “Nghiên cứu đề xuất giải pháp xử lý CTBV đạt tiêu chuẩn môi trường”
Hà Nội, năm 2004, trong nước thải bệnh viện tại Việt Nam, BOD5 dao động từ 120
mg/l đến 200 mg/lít.
COD là chỉ tiêu để đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải kể cả chất hữu cơ dễ phân
huỷ và khó phân huỷ sinh học. Đối với nước thải, hàm lượng ô nhiễm hữu cơ được
hiện tượng tái nhiễm bẩn và nước có màu, mùi khó chịu.
Các chất thải bệnh viện (nước thải và rác thải) khi xả ra môi trường không qua
xử lý có nguy cơ làm hàm lượng nitơ và photpho trong các sông, hồ tăng. Trong hệ
thống thoát nước và sông, hồ, các chất hữu cơ chứa nitơ bị amôn hoá. Sự tồn tại của
NH4+ hoặc NH3 chứng tỏ sông, hồ bị nhiễm bẩn bởi các chất thải. Trong điều kiện
có ôxy, nitơ amôn trong nước sẽ bị các loại vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter
chuyển hoá thành nitơrit và nitơrat. Hàm lượng nitơrat cao sẽ cản trở khả năng sử
dụng nước cho mục đích sinh hoạt, ăn uống.
-
Chất khử trùng và một số chất độc hại khác
Do đặc thù hoạt động của các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện, các hóa
chất khử trùng đã được sử dụng khá nhiều, các chất này chủ yếu là các hợp chất của
clo (cloramin B, clorua vôi,...) sẽ đi vào nguồn nước thải và làm giảm hiệu quả xử
lý của các công trình xử lý nước thải sử dụng phương pháp sinh học.
Ngoài ra, một số kim loại nặng như Pb (chì), Hg (Thủy ngân), Cd (Cadimi)
hay các hợp chất AOX phát sinh trong việc chụp X- quang cũng như tại các phòng
xét nghiệm của bệnh viện trong quá trình thu gom, phân loại không triệt để sẽ đi
14
vào hệ thống nước thải có nguy cơ gây ra ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận.
-
Các vi sinh vật gây bệnh trong nước thải y tế
Nước thải y tế có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh như: Samonella typhi gây
5 bệnh thương hàn, Samonella paratyphi gây bệnh phó thương hàn, Shigella sp. gây
bệnh lỵ,Vibrio cholerae gây bệnh tả,...
giám sát chặt chẽ.
Khu vực Nha khoa là nơi có khả năng phát sinh thủy ngân (Hg) vào nước thải cao
khi hỗn hợp thủy ngân được sử dụng trong hàn răng không được tách loại bằng thiết
bị tách đặt phía dưới bồn rửa. Khoa chống nhiễm khuẩn là nơi sử dụng lượng chất
khử trùng nhiều nhất. Trong đó, chất khử trùng dạng aldehyde được sử dụng phổ
biến làm gia tăng mức độ ô nhiễm trong nước thải. Nhà bếp trong bệnh viện thường
15
phát thải lượng hữu cơ cao, dầu mỡ động thực vật liên quan đến các khâu chế biến
thức ăn vào trong nước thải. Khu vực giặt là làm cho nước thải có độ pH tăng cao,
tăng hàm lượng phốt phát và đặc biệt là các hợp chất chứa clo có nguồn gốc từ chất
khử trùng được sử dụng. Ở khu vực điều trị, lượng kháng sinh, chất khử trùng
(glutaraldehyde) làm cho nước thải ô nhiễm hơn. Đồng thời, lượng ô nhiễm hữu cơ
tăng cao khi tiếp nhận dịch rửa từ cơ thể của người bệnh. Phòng thí nghiệm là
nguồn phát sinh nước thải có chứa hóa chất, hóa chất thường được sử dụng là các
chất halogen, dung môi hữu cơ, tế bào (nhuộm Gram), formaldehyde,... Ngoài các
thông số ô nhiễm trên, nước thải từ các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh còn chứa nhiều
rác trong quá trình hoạt động của các khoa, phòng, sinh hoạt của bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân.
Nguồn và tính chất nước thải của các cơ sở y tế dự phòng, nghiên cứu đào tạo y dược và các cơ sở sản xuất thuốc
Các nguồn nước thải phát sinh từ hoạt động chuyên môn của các cơ sở y tế thuộc
nhóm này chủ yếu là nước thải từ quá trình thí nghiệm, sản xuất thuốc, tiêm phòng,
… Do đó, ngoài những thông số ô nhiễm trong nước thải như: COD, BOD 5 , H2S,
tổng phốtpho, tổng nitơ, SS, DO, vi sinh vật,… nước thải của các cơ sở y tế thuộc
a.Ảnh hưởng của nước thải y tế đến sức khỏe con người
Nước thải bệnh viện là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng lan truyền
vào nước thải những tác nhân truyền nhiễm qua đường tiêu hóa.
Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn
đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới
bằng nước thải.
Khi nước thải bệnh viện được xả thải ra môi trường mà không qua xử lý hoặc
xử lý không đạt yêu cầu, các chất độc hại, vi sinh vật gây hại trong nước thải sẽ xâm
nhập vào môi trường và đi theo chuỗi thức ăn đi vào cơ thể con người gây ra các
bệnh nguy hiểm. Ngoài ra, khi người dẫn sử dụng nước bị ô nhiễm do nước thải
bệnh viện cũng có thể mắc phải các bệnh ngoài da, nếu tiếp xúc lâu sẽ có nguy cơ
mắc bệnh hiểm nghèo.
17
b.Ảnh hưởng của nước thải y tế đến môi trường
Hiện nay, do nguồn kinh phí hạn hẹp nên hầu hết các bệnh viện và trung tâm y
tế ở nước ta không có hệ thống xử lý nước thải, hoặc hệ thống xử lý nước thải hoạt
động kém hiệu quả.
Do vậy, nhiều bệnh viện đã thải ra môi trường các chất bẩn và vi trùng vi rút
gây bệnh. Bên cạnh đó, một số bệnh viện vì hệ thống mương dẫn xây dựng đã lâu
nên bị rò rỉ ra môi trường xung quanh. Các chất bẩn trong hệ thống dẫn nước thải bị
phân hủy dưới tác động của các vi sinh vật sinh ra các khí độc như: H 2S, CH4,NH3,...
gây mùi hôi thối. Đồng thời các vi sinh vật phát triển bám vào các hại bụi trong
không khí lan tỏa khắp nơi có thể gây dịch bệnh. Chính điều này là nguyên nhân
gây nên sự nhiễm trùng hậu phẫu bệnh nhân.
Hiện nay tình trạng ô nhiễm các nguồn nước đang ngày càng tăng và trở nên
báo động. Ở các bệnh viện chưa có hệ thống phân luồng các nguồn nước thải, khi
nước mưa chảy tràn sẽ cuốn theo nước thải bệnh viện đi vào nguồn nước mặt như
vào nguồn nước.
Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính Phủ quy định về xử
-
phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.
Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực
-
bảo vệ môi trường.
Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/08/2014 của chính phủ về thoát nước và xử
-
lý nước thải.
Thông tư số 57/2013/TT-BTNMT ngày 31/12/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi
-
trường Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/05/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn việc thi hành Nghị định 149/2004/NĐ-CP ngày 27/07/2004 của
Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước,
-
xả thải vào nguồn nước.
Thông tư số 12/2014/TT-BTNMT ngày 17/2/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi
quốc gia về nước thải y tế.
QCVN 08 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.
QCVN 09 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước
-
ngầm.
QCVN 14 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải
sinh hoạt.
19
-
QCVN 38 : 2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
bảo vệ đời sống thủy sinh.
1.2.2.Một số quy định về thu gom, xử lý nước thải y tế
Theo Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số
58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 giữa Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên& Môi
trường quy định về quản lý chất thải y tế :
- Điều 27. Quy định chung về xử lý nước thải
(1) Mỗi bệnh viện phải có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đồng bộ. Có hệ
thống thu gom riêng nước mưa bề mặt và nước thải từ các khoa, phòng. Hệ thống
cống thu gom nước thải phải là hệ thống ngầm hoặc có nắp đậy. Hệ thống xử lý
nước thải phải có bể thu gom bùn.
(2) Các bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải phải bổ sung hệ thống xử
lý nước thải hoàn chỉnh.
(3) Các bệnh viện đã có hệ thống xử lý nước thải từ trước nhưng bị hỏng
không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả, phải tu bổ và nâng cấp để vận
hành đạt quy chuẩn môi trường hiện hành.
Công trình xử lý nước thải bệnh viện, người ta thường phải bố trí nhiều
phương pháp trên một hệ thống xử lý với nhiều thiết bị kỹ thuật khác nhau mới cho
hiệu quả và đạt hiệu suất xử lý cao. Tại Việt Nam nước thải y tế do đặc thù gần
giống với nước thải sinh hoạt nên việc thiết kế kỹ thuật và bố trí thiết bị trong hệ
thống xử lý nước thải y tế khá tương đồng với hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt
thông thường. Các bước tiến hành xử lý cũng bao gồm các bước như: tiền xử lý, xử
lý cấp một, xử lý cấp hai và sau xử lý.
a.Giai đoạn tiền xử lý
Đây là khâu hết sức quan trọng trong xử lý nước thải nhằm đảm bảo hệ thống
xử lý nước thải hoạt động hiệu quả. Nếu giai đoạn này thực hiện không tốt sẽ ảnh
hưởng đến sự hoạt động của hệ thống xử lý nước thải. Bởi vậy, tất cả các cơ sở y tế
có phát sinh dòng nước thải đặc thù (chất gây độc tế bào, các hóa chất từ khoa xét
nghiệm,…) cần được thu gom xử lý sơ bộ tại nơi phát sinh trước khi đấu nối vào hệ
thống thu gom nước thải chung của cơ sở y tế và về khu xử lý tập trung. Do đó,
trong giai đoạn tiền xử lý cần được thực hiện như sau:
-
Các cơ sở y tế có khoa y học hạt nhân phải tuân thủ các nguyên tắc về an toàn
phóng xạ. Nước thải phát sinh từ khu vực này phải được lưu giữ riêng đủ thời gian
lâu hơn 10 chu kỳ bán hủy của chất phóng xạ, sau đó mới được thải vào hệ thống
-
thu gom nước thải chung của cơ sở y tế và về khu xử lý nước thải tập trung
Đối với các bệnh viện có khu vực căng tin, nhà ăn với số lượng khách phục vụ
nhiều thường có phát sinh lượng dầu mỡ động thực vật cao, do đó cần được thiết kế
hệ thống tách dầu mỡ từ các dòng thải ở khu vực này trước khi đấu nối vào hệ thống
thu gom nước thải chung của cơ sở y tế
21
-
Bể lắng sơ cấp
Bể lắng sơ cấp làm nhiệm vụ tách cát và các hợp chất vô cơ. Với việc xử lý
nước thải bệnh viện, bể lắng sơ cấp thông thường được sử dụng tập trung vào hai
loại là bể lắng đứng và bể lắng hai vỏ, tuy nhiên tùy vào các điều kiện cụ thể mà
trong thiết kế có thể mở rộng sử dụng các loại bể lắng khác nhau (như bể lắng
22
ngang) sao cho phù hợp với điều kiện từng bệnh viện và phù hợp với công nghệ lựa
chọn. Thông thường để giảm thiểu dung tích bể trong các hệ thống xử lý, bể lắng và
bể điều hòa được thiết kế làm một.
Bể lắng đứng
Bể lắng hai vỏ
c.Giai đoạn xử lý cấp 2
Nhiệm vụ của giai đoạn xử lý cấp 2 là loại bỏ carbon hòa tan và các dạng hợp
chất nitơ, phốt pho dưới tác dụng của hệ vi sinh vật trong nước thải. Hệ vi sinh vật
tiêu thụ các chất hữu cơ dễ phân hủy trong nước thải dưới dạng hòa tan như:
Đường, chất béo, các phân tử carbon mạch ngắn… và hấp thu các dạng vật chất khó
tan hơn ở trạng thái lơ lửng khác vào sinh khối. Trong quá trình khoáng hóa cũng
như quá trình nitrate hóa vi khuẩn cần ôxy và dưỡng chất để tồn tại. Để đáp ứng hai
điều kiện thiết yếu này, hai phương thức thường được sử dụng là hệ màng lọc cố
định bám dính và bùn hoạt tính lơ lửng.
Bể hiếu khí hoạt động gián đoạn theo mẻ
Bể hiếu khí thổi khí kéo dài
Mương oxy hóa
Bãi lọc trồng cây
Sử dụng thiết bị hợp khối đúc sẵn
d.Sau xử lý
Sau xử lý là bước cuối cùng trong quá trình xử lý nước thải trước khi nước
thải được thải ra môi trường tiếp nhận. Trong công đoạn sau xử lý có thể phải sử
dụng đến nhiều biện pháp kết hợp. Trước khi khử trùng nước thải, cần thiết phải
loại bỏ triệt để các chất hữu cơ lơ lửng còn tồn tại. Khử trùng nước thải từ cơ sở y tế
phải được thực hiện, đặc biệt là khi nước thải xả vào nguồn nước sông, hồ.
Ngoài ra trong quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học thường
phát sinh một lượng bùn sinh khối, lượng bùn này nhiều hay ít phụ thuộc vào thành
phần đầu vào và lưu lượng nước thải, bùn sinh khối phát sinh cũng cần có biện pháp
xử lý. Lượng bùn thải chứa các tác nhân ô nhiễm cũng cần được xác định và có biện
pháp quản lý thích hợp.
-
Các kỹ thuật khử trùng nước thải y tế
Nước thải từ bệnh viện hoặc từ các cơ sở hoạt động y tế sau khi đã xử lý các
chất ô nhiễm hữu cơ thường được khử trùng trước khi xả vào nguồn nước. Ngoài ra
nếu xử lý cấp 2 bằng bãi lọc hay hồ sinh học ổn định với thời gian dài (khoảng 1
tháng) thì có thể không cần phải khử trùng. Để khử trùng có thể dùng các phương
pháp sau:
-
Làm khô bùn bằng bãi lọc trồng cây.
Làm khô bùn bằng các thiết bị cơ khí.
Tuy nhiên trong khuôn khổ nghiên cứu, các kỹ thuật làm khô bùn cặn trong xử lý
nước thải bệnh viện quy mô nhỏ cấp quận/ huyện, các thiết bị cơ khí ít được sử dụng.
1.3.2.Một số công nghệ xử lý nước thải y tế hiện đang áp dụng tại Việt Nam
a.Xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt (Biophil)
Nước thải bệnh viện được thu gom từ hệ thống cống thoát, qua song chắn rác
thô nhằm cản những vật lớn như: quần áo, bơm tiêm, chai lọ, gạc... có khả năng làm
tắc nghẽn đường ống và hỏng bơm. Nước từ ngăn thu được bơm tới bể điều hòa và
xử lý sơ bộ, nhằm điều hòa chất bẩn và lưu lượng nước thải đồng thời tại đây thực
hiện xử lý sơ bộ, các vi sinh vật có sẵn trong nước thải ôxy hóa một phần hợp chất
25