Nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con giai đoạn sơ sinh 21 ngày tuổi nuôi tại trại lợn nguyễn văn chiêm xã đạo tú huyện tam dương tỉnh vĩnh phúc và so sánh hiệu quả của 2 phác đồ điều trị - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------

VŨ THỊ THÙY DUNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH PHÂN TRẮNG Ở LỢN CON
(GIAI ĐOẠN SƠ SINH - 21 NGÀY TUỔI) NUÔI TẠI TRẠI NGUYỄN VĂN
CHIÊM (XÃ ĐẠO TÚ, HUYỆN TAM DƢƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC)
VÀ SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA HAI PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2012 – 2017

Thái Nguyên - 2016


Khóa học:

2012 – 2017

Giảng viên HD:

PGS.TS. Trần Huê Viên

Thái Nguyên - 2016


i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành khóa luận
của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, sự
giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y và Ban lãnh đạo
trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản tại tỉnh Vĩnh Phúc. Tôi cũng nhận được
sự cộng tác nhiệt tình của các bạn sinh viên, đội ngũ kỹ sư, công nhân trong
trang trại, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
PGS.TS Trần Huê Viên đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện
thành công khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều
kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này. Tôi xin cảm ơn Ban
chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y đã tạo
điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Trang trại lợn nái của
ông Nguyễn Văn Chiêm, đã giúp đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt
quá trình thực tập tại trang trại.
Tôi xin cảm ơn đội ngũ kỹ thuật trại anh Triệu Văn Thọ chia sẻ kinh

Cs

: Cộng sự

Cl.

: Clostridium

ĐVT

: Đơn vị tính

PTLC

: Phân trắng lợn con

TB

: Trung bình

TT

: Thể trọng

STT

: Số thứ tự


iv



v
4.1.2. Công tác phòng và trị bệnh ................................................................... 34
4.2. Kết quả nghiên cứu đề tài......................................................................... 46
4.2.1. Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại .......... 46
4.2.2. Tình hình mắc bệnh theo dãy chuồng ................................................. ..49
4.2.3. Tình hình mắc qua các tháng theo dõi ................................................ ..50
4.2.4. Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tuần tuổi ... ..51
4.2.5. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt ....................... ..54
4.2.6. Những triệu chứng và bệnh tích của lợn con mắc bệnh phân trắng ... ..54
4.2.7. Kết quả điều trị phân trắng lợn con..................................................... ..56
4.2.8. Sơ bộ hạch toán chi phí thú y ................................................................ 58
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................58
5.1. Kết luận .................................................................................................... 58
5.2 Đề nghị ...................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................61


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống ở nước ta, nhưng để chăn nuôi lợn
phát triển tốt hơn theo hướng gắn với thị trường, an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú
y, bảo vệ môi trường nhằm nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và vệ sinh
an toàn thực phẩm, các địa phương đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn
nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư
chăn nuôi theo hướng trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi

hiệu quả.
1.2. Ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Ý nghĩa khoa học
- Số liệu nghiên cứu là cơ sở bổ sung vào nguồn tài liệu tham khảo và
nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành Thú y.
- Kết quả của đề tài cung cấp thêm thông tin khoa học về bệnh phân
trắng lợn con. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình phòng – trị bệnh
phân trắng lợn con.
1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài là cơ sở để áp dụng quy trình phòng, trị bệnh phân
trắng lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Đạo Tú (Tam Dương - Vĩnh Phúc) có diện tích 7,88 km², dân số là
5270 người (năm 1999), mật độ dân số đạt 669 người/km². Giáp với các xã,
Thanh Vân, Kim Long, Hướng Đạo, An Hòa.
2.1.1.2. Khí hậu, thuỷ văn
Xã Đạo Tú nói riêng, huyện Tam Dương nói chung nằm trong vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, được chia thành 4 mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung
bình hàng năm là 230C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6, tháng 7 là 29,40C, nhiệt
độ thấp nhất vào tháng 1 là 100C thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng. Bình
quân số giờ nắng trong năm là 1400 - 1600 giờ/năm. Lượng mưa trung bình
hàng năm 1400 - 1500 mm, phân bố không đều, tập trung vào tháng 6, 7, 8 và 9.

truyền, vận động mang lại hiệu quả cao và phù hợp với đặc điểm của từng địa
phương. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các xã đánh giá đúng thực trạng
địa phương, tìm ra tiềm năng, lợi thế để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống
nông dân thông qua việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, quy hoạch mở rộng
cánh đồng rau sạch, mở rộng diện tích sản xuất cây trồng hàng hóa, nâng giá
trị thu nhập trên diện tích canh tác, phát triển chăn nuôi tiểu thủ công nghiệp.
Cùng với đó, các xã đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân đi xuất khẩu lao
động nước ngoài và lao động tại các công ty, xí nghiệp.
Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, kết hợp với chương
trình lồng ghép, kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư, sau hơn 3 năm, xã làm điểm
xây dựng nông thôn mới và đã huy động được 272 tỷ đồng xây dựng các công
trình hạ tầng: giao thông, thủy lợi, nhà văn hóa, chỉnh trang nhà ở dân cư. Đến
nay, Đạo Tú đều đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới.
2.1.1.5. Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập
* Quá trình thành lập và phát triển của Doanh nghiệp tư nhân Tùng Phát
- Quá trình thành lập
Doanh nghiệp tư nhân Tùng Phát nằm trên địa phận xã Đạo Tú, huyện
Tam Dương, Vĩnh Phúc. Trang trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia
công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen


5

Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở
vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán
bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Văn Chiêm làm chủ trại, cán
bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát
mọi hoạt động của trang trại.
- Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: 1 chủ trại, 1 quản lý trại, 1 quản

được đổ bê tông và có các hố sát trùng.
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống
cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 3 và
chuồng nái chửa 1. Nước phục vụ cho các công tác khác như nước tắm,
nước xả gầm... được bố trí từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống
dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng.
* Tình hình sản xuất của Doanh nghiệp
- Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của Doanh nghiệp là sản xuất con giống và chuyển
giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,40 - 2,45 lứa/năm.
Số con sơ sinh là 11,00 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn. Trại hoạt động
vào mức khá theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam.
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là
26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống
của công ty.
Trong trại có 11 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các
lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái
và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn
Pietrain và Duroc. Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng
như con đực.
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được
Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại.


7

- Công tác vệ sinh
Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa
đông. Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân,

kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
- Khó khăn
Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh
lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn.
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi đã cũ, có phần bị hư hỏng.
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước
thải của trại còn nhiều khó khăn.
2.2. Cơ sở khoa học
2.2.1. Một số đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.2.1.1. Đặc điểm về sinh trưởng phát dục
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24] so với khối lượng sơ sinh thì
sau 10 ngày tuổi khối lượng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi thì tăng
gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi thì tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi thì tăng gấp
7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi thì tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi thì tăng gấp
12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng không đồng đều
qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và
hàm lượng hemoglobin 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn
con. Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho tập ăn sớm.
Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh
dưỡng mạnh. Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy 9 – 14g
protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy
được 0,3 - 0,4g protein/1kg khối lượng cơ thể. Hơn nữa, để tăng 1kg khối
lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít hơn lợn
trưởng thành. Vì vậy, khối lượng tăng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản
xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1kg mỡ.


9


10

Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ
sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung
tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít). Sự tăng chiều dài và thể tích ruột có
quan hệ với khả năng tiêu hóa xenlulose khá cao trong thức ăn bổ xung. Vì vậy,
cho lợn con tập ăn sớm là một biện pháp tốt trong chăn nuôi.
Đặc biệt ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày. Giai đoạn
này gọi là thích ứng cần thiết tự nhiên, nhờ sự thích ứng này mà cơ thể mới
thẩm thấu đưa kháng thể miễn dịch có trong sữa đầu của lợn mẹ.
Trong giai đoạn đó dịch vị dạ dày không có hoạt tính phân giải protein
mà chỉ có khả năng làm đông vón sữa, huyết thanh chứa Albumin và Globulin
được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
Tuy nhiên, từ 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn
nữa là sự cần thiết cho hoạt động sinh lý bình thường. Theo Đào Trọng Đạt và
cs, (1996) [6] thì việc tập ăn sớm, đặc biệt là cai sữa sớm cho lợn con đã rút
ngắn giai đoạn thiếu HCl, tăng khả năng tạo miễn dịch cho lợn con. Vì vậy
trong các thời kỳ nuôi dưỡng lợn con ta cần chú ý: Lợn con sơ sinh giai đoạn
(7 – 10) ngày tuổi là giai đoạn khủng hoảng lần thứ nhất cần cho lợn con bú
sữa đầu vì sữa đầu có nhiều kháng thể, lượng dinh dưỡng cao hơn hẳn sữa
thường. Từ 21 ngày tuổi trở đi là giai đoạn khủng hoảng lần thứ 2, là thời kỳ
sản lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, để khắc phục tình trạng này cần cho lợn con
tập ăn sớm, kích thích tăng lượng enzim, HCl, tạo động lực cho sự phát triển
của dạ dày, ruột.
2.2.1.3. Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [7], Lợn con mới sơ sinh có sự thay
đổi rất lớn về điều kiện sống đang ở trong cơ thể mẹ với nhiệt độ ổn định
38,50C ra bên ngoài với điều kiện nhiệt độ rất thay đổi tùy theo từng mùa
khác nhau.

sang qua sữa đầu. Lượng γ globulin sẽ giảm sau 3 – 4 tuần ở lợn con sau khi
sinh, rồi đến tuần thứ 5 – 6 lại tăng lên và đạt giá trị trung bình là 65


12

mg/100ml máu. Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu... được
tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém. Vì vậy cho
lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại
mầm bệnh nhất là bệnh phân trắng lợn con.
Theo Trần Cừ ( 1972) [1], máu thực hiện chức năng sinh lý quan trọng
như: hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, duy trì cân bằng nước, điều hoà thân nhiệt,
bảo vệ... máu có chức năng lưu thông nên phản ánh đúng và kịp thời mọi biến
đổi sinh lý xảy ra trong cơ thể.
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm ( 1995) [10], nhất thiết lợn con
sơ sinh phải được bú sữa đầu để có sức đề kháng chống bệnh. Trong sữa đầu
có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là nhân tố chủ yếu giúp cho
lợn con có sức đề kháng. Vì thế cần cho lợn sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu
và đảm bảo toàn bộ số con trong đàn được bú sữa đầu của lợn mẹ. Trong điều
kiện bình thường, nếu không cho lợn con bú sữa đầu thì rất khó nuôi.
2.2.1.5. Đặc điểm về hệ vi sinh vật đường ruột
Hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:
Nhóm vi khuẩn đường ruột – vi khuẩn bắt buộc gồm: E. coli,

-

Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus... Trong nhóm vi khuẩn này, người
ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E. coli. Đây là vi khuẩn phổ biến nhất
hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng
E. coli trở lên cường độc gây bệnh, cấu trúc kháng nguyên của E. coli rất

Lợn con mắc bệnh có tỷ lệ chết từ 7 – 10%, nếu không can thiệp kịp
thời thì con vật chết rất nhanh và tỷ lệ chết rất cao 80 – 90% (Phạm Sỹ Lăng
và cs, 2003) [18]. Trường hợp lợn con bị nhiễm ghép với các vi khuẩn gây
bệnh khác như: Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn (Salmonella) lợn con có
thể chết 100% (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2006) [33].
Bệnh PTLC thường xảy ra quanh năm, không theo mùa vụ (Đào Trọng
Đạt và cs, 1996) [6].
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, bệnh đã được
khống chế phần nào song việc loại trừ nó ra khỏi chăn nuôi tập trung thì còn
gặp rất nhiều khó khăn không những ở nước ta mà cả những nước có trình độ
khoa học tiên tiến trên thế giới.


14

2.2.2.1. Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
* Nguyên nhân nội tại
Do đặc điểm sinh lý lợn con, tất cả cơ quan bộ phận đều phát triển chưa
hoàn thiện. Hơn nữa, lợn con lại có nhu cầu dinh dưỡng và khoáng chất rất
lớn, nếu không được bổ sung đầy đủ thì lợn con sẽ bị suy dinh dưỡng, ăn
bẩn... gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy.
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [20], Khi mới sinh, cơ thể lợn con
chưa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch. Trong dạ dày lợn
con thiếu HCl, do đó pepsinozen tiết ra không được hoạt hóa để chuyển thành
pepsin. Khi thiếu men pepsin sữa bị kết tủa dưới dạng cazein không tiêu hóa
được bị đẩy xuống ruột già gây rối loạn tiêu hóa, từ đó dẫn tới bệnh và phân
có màu trắng là màu của cazein chưa được tiêu hóa.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6], thì một trong các yếu tố làm
cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt.Khi thiếu sắt, lợn
con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc

Qua tài liệu của nhiều tác giả có thể chia thành những nguyên nhân sau:
+ Do điều kiện thời tiết khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia
súc. Khi có sự thay đổi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thoáng khí của
chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của lợn.
Đặc biệt ở lợn con theo mẹ, do cấu tạo, chức năng sinh lý của các hệ cơ
quan chưa ổn định và hoàn thiện. Hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng
phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện. Vì vậy, lợn con là đối
tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất bởi các phản ứng
thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu.
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6], Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [11],
cũng cho rằng các yếu tố stress lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh,
lợn con vài ngày tuổi. Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng là nhiệt
độ và độ ẩm. Độ ẩm thích hợp cho lợn là từ 75 – 85%, việc làm khô và giữ
ấm chuồng nuôi là vô cùng quan trọng.
Theo Sử An Ninh (1993) [23], lợn con khi còn ở trong bụng mẹ thì
được bảo vệ rất tốt, nhưng khi mới đẻ ra đã chịu ảnh hưởng trực tiếp của các
yếu tốt bên ngoài đặc biệt là thời tiết như nóng, lạnh, mưa, ẩm ướt... kinh


16

nghiệm thực tế chứng minh rằng thời tiết thay đổi đột ngột cụ thể là yếu tố
nóng, lạnh, khô, ẩm không ổn định hoặc không thích hợp với yêu cầu sinh lý
của lợn con đều là nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh lợn con ỉa phân trắng.
Nếu trong chuồng nuôi không đảm bảo thoáng khí, độ ẩm, tồn đọng
nhiều phân, rác, nước tiểu, nhiệt độ trong chuồng tăng cao sẽ sinh ra nhiều
khí có hại như: NH3, H2S… làm lợn con trúng độc thần kinh nặng gây trạng
thái stress cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy.
* Do chăm sóc, quản lý

Bình thường trong đường tiêu hóa của lợn nói riêng và động vật nói
chung luôn có một số lượng vi khuẩn nhất định và chúng không gây bệnh.
Nhưng khi hàng rào bảo vệ bị phá vỡ số lượng vi khuẩn tăng lên, làm thay đổi
tỷ lệ các vi khuẩn có trong đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa và bệnh xảy ra.
+ Escherichia coli (thường được viết tắt là E. coli) hay còn được gọi là
vi khuẩn đại tràng là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong
đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú). Vi
khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần của
khuẩn lạc ruột. Sự có mặt của E. coli trong nước ngầm là một chỉ thị thường
gặp cho ô nhiễm phân. E. coli thuộc họ vi khuẩn Enterobacteriaceae và
thường được sử dụng làm sinh vật mô hình cho các nghiên cứu về vi khuẩn.
-

Hình thái: E. coli là một trực khuẩn Gram âm, hình gậy ngắn, kích

thước 2 – 3 x 0,6µm. Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ đôi
khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông xung quanh thân nên có thể di động được,
không hình thành nha bào, có thể có giáp mô.
-

Độc tố: vi khuẩn E. coli tạo ra 2 loại độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố

Ngoại độc tố: là một chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá hủy ở 560C
trong vòng 10 – 30 phút. Dưới tác dụng của formon và nhiệt ngoại độc tố
chuyển thành giải độc tố. Ngoại độc tố có tính thần kinh và gây hoại tử.
Nội độc tố: là yếu tố gây độc nằm trong tế bào vi khuẩn và gắn với tế
bào vi khuẩn rất chặt. Nội độc tố có tính kháng nguyên hoàn toàn, chịu nhiệt
và có khả năng sinh choáng mạch máu.



không bị tiêu chảy.
Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [28], ở bệnh phân trắng lợn con tác
nhân gây bệnh chủ yếu là E. coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và
thứ yếu là Proteus, Streptococcus.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status