BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NĂM HỌC 2016 - 2017
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ NHẰM GIẢM THIỂU RÁC THẢI NILON
CHO BÃI BIỂN DU LỊCH HẠ LONG, QUẢNG NINH
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học Tự nhiên
HÀ NỘI, THÁNG 5 – NĂM 2017
1
2
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
NĂM HỌC 2016 - 2017
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ NHẰM GIẢM THIỂU RÁC THẢI NILON
Chất thải rắn
CTRSH
Chất thải rắn sinh hoạt
DPSIR
Mô hình phân tích đánh giá tổng hợp
(Driver – Pressure – State – Impact – Response)
6
IUCN
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
TTVH - DL
Trung Tâm Văn Hóa Du Lịch
UBND
Ủy Ban Nhân Dân
VCCI
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
các giải pháp để giảm thiểu túi nilon và đánh giá giải pháp bằng mô hình SWOT.
5. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc
phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
7
Đề tài góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư địa phương, khách
du lịch về tác hại của rác thải nilon ảnh hưởng tới con người và môi trường
6. Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài
(ghi rõ tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả
nghiên cứu (nếu có):
Ngày 15 tháng 5 năm 2017
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh
viên thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Nhóm sinh viên thực hiện đề tài đã bước đầu đánh giá được hiện trạng và nhận
thức về rác thải nilon tại Hạ Long, Quảng Ninh. Vấn đề rác thải nilon vẫn còn rất mới
và chưa được quan tâm đúng mức tại Việt Nam. Đề tài này đã bước đầu xác định được
những khoảng trống về chính sách và hạn chế về nhận thức của cộng đồng để đề xuất
những giải pháp nâng cao hiệu quả và nhận thức về rác thài nilon của cộng đồng ở Hạ
Long, Quảng Ninh.
Trong thời gian thực hiện đề tài, nhóm sinh viên đã nỗ lực, có tinh thần học hỏi,
nắm rõ vấn đề nghiên cứu, vượt qua khó khăn để thực hiện đề tài trong thời gian học
tập trung tại trường. Đến nay, nhóm sinh viên đã hoàn thành đề tài đáp ứng các mục
Khoa: Khoa học Biển và Hải Đảo
Địa chỉ liên hệ: ĐH4QB
Điện thoại: 01626111488
Email:
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
* Năm thứ 1:
Ngành học: Quản lý Biển
Khoa: Khoa học Biển và Hải Đảo
Kết quả xếp loại học tập: 2.03
Sơ lược thành tích: Không
* Năm thứ 2:
Ngành học: Quản lý Biển
Khoa: Khoa học Biển và Hải Đảo
Kết quả xếp loại học tập: 2.95
Sơ lược thành tích: Không
Ngày 15 tháng 5 năm 2017
Xác nhận của trường đại học
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
9
đã và đang dần thay thế các vật liệu bằng nhôm, sắt, đồng…với ưu thế rẻ, nhẹ, bền và
không thấm nước… Vật liệu nhựa đã nhanh chóng được sử dụng rộng rãi trong tất cả
các lĩnh vực đời sống sinh hoạt và sản xuất. Tiện lợi và dễ sử dụng, nhưng bên cạnh
những ưu điểm đó, vật liệu nhựa nói chung và túi nilon nói riêng có tác hại rất lớn đối
với môi trường.
Túi nilon được làm từ các chất khó phân hủy, khi thải ra môi trường phải mất
hàng chục năm đến một vài thế kỷ mới được phân hủy hoàn toàn trong tự nhiên. Bao
bì nilon lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao
quanh, cản trở sự phát triển của cây cỏ, gây ngập úng, lũ lụt, dẫn đến sự xói mòn đất ở
các vùng đồi núi, phá hủy thảm thực vật và môi trường sống của nhiều loài sinh vật.
Bao bì nilon trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng mắc phải hoặc tưởng nhầm đó
là thức ăn và nuốt phải. Nhưng nguy hại hơn là tác hại của nilon đến sức khỏe con
người. Những bao bì nilon được nhuộm màu sẽ làm ô nhiễm thực phẩm do có chứa
kim loại như: chì, cadimi gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ra ung thư phổi.
Nguy hiểm nhất là khi bao bì nilon bị đốt, các khí thải ra đặc biệt là khí dioxin có thể
gây ngộ độc, gây ngất, khó thở, ho ra máu ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết, giảm khả
năng miễn dịch, gây rối loạn chức năng, gây ung thư và các dị tật bẩm sinh cho trẻ sơ
sinh (Nguyễn Ngọc Thùy Dương và ctv, 2009).
Lượng nilon tăng lên mỗi ngày, trong khi lại khó phân hủy được nên ngày càng
tích tụ. Việc quản lý để giải quyết vấn đề này đã được các nhà khoa học và quản lý chú
ý, quan tâm từ nhiều năm nay.
Bước vào thế kỷ 21 với những bước phát triển mạnh mẽ của các quốc gia với sự
hướng tới các ngành kinh tế sạch và phát triển nhanh thì dịch vụ - du lịch ngày càng
được chú trọng. Ngày càng nhiều các bãi biển được đưa vào khai thác, dịch vụ du lịch
– giải trí, nghỉ dưỡng, vui chơi cũng theo đó mà phát triển. Nền kinh tế quốc dân tăng
lên và rác thải từ đó cũng tăng theo. Điều đó đòi hỏi các giải pháp thiết thực để giảm
11
Ninh.
12
3. Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chính bao gồm:
- Hiện trạng ô nhiễm rác thải rắn sinh hoạt, rác thải nilon tại Bãi Cháy.
- Hiện trạng công tác quản lý và cơ cấu quản lý rác thải nilon tại Bãi Cháy.
- Khảo sát, đánh giá về nhận thức của cộng đồng và khách du lịch tại Bãi Cháy
về rác thải nilon và vấn đề ô nhiễm môi trường từ rác thải nilon.
- Đề xuất giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu rác thải nilon cho bãi biển du lịch
ở Hạ Long, Quảng Ninh.
13
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.
Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm
Môi trường: Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2005,
môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật
chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và sinh vật”.
Ô nhiễm môi trường: Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam
Ninh biên soạn, rác thải nilon bao gồm các bao bì bằng nhựa polyethylene (PE), sau
khi sử dụng trở thành rác thải. Đây thực chất là một hỗn hợp nhựa, trong đó chiếm
phần lớn là nhựa PE. Rác thải nilon là một phần của CTR.
Quản lý rác thải nilon là một phần nhỏ trong quản lý CTR, bao gồm việc quy
hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý rác thải nilon, các hoạt động thu gom,
xử lý, tái chế giúp giảm gánh nặng cho môi trường và tránh các tác động đến sức khỏe
con người.
1.1.2. Thành phần và tính chất của túi nilon
Xuất hiện cách đây khoảng 150 năm do nhà hóa học Anh Alexander Parkes phát
minh, túi nilon đã thay đổi cả thế giới và trở nên phổ biến trên toàn cầu từ thập niên
1970. Ước tính một năm, trung bình người dân trên thế giới thải ra môi trường khoảng
500 – 1000 tỉ túi nhựa, và theo các nhà khoa học thời gian để một chiếc túi nilon phân
hủy phải mất 500 – 1000 năm (Đông Nguyên, 2007). Cho đến nay, sản phẩm này đang
trở thành mối đe dọa thực sự, khiến nhiều quốc gia đau đầu tìm kiếm những giải pháp
mạnh để giải quyết hiệu quả vấn đề này, bên cạnh đó các nhà khoa học cũng đang nỗ
lực nghiên cứu phương thức khác để thay thế hoặc tái chế túi nilon thành các sản phẩm
hữu ích hơn.
Túi nilon được sản xuất từ nhựa polyethylene (PE). Nhựa PE được cấu tạo từ
các polime lấy từ các sản phẩm hóa dầu. Thành phần của các loại nhựa này không độc
nhưng để các chất phụ gia làm cho nhựa mềm dẻo thì có khả năng gây độc cho con
người. Các chất phụ gia chủ yếu được sử dụng để sản xuất túi nilon là chất hoá dẻo,
kim loại nặng, phẩm màu. Túi nilon có những tính chất như mỏng, nhẹ, không thấm
nước, có độ bền hóa học cao và có tính đàn hồi. Chính những đặc điểm này tạo nên
tính rất khó phân hủy của nilon. Túi nilon được làm từ sợi nhựa tổng hợp bền dẻo với
nhiều kích cỡ khác nhau, có thể tái chế được. Tuy nhiên, nó cũng là vật liệu gây ra ô
15
Mỗi ngày, người dân Việt Nam xả thải ra hàng triệu túi, bao bì nilon. Chỉ một
phần nhỏ trong số này được thu gom, tái chế, còn phần lớn bị vứt đi không những gây
lãng phí về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến môi trường xung quanh (Thế giới thêm
xanh, 2015).
Việc quá lạm dụng các sản phẩm nilon và ý thức của con người còn kém đã
biến túi nilon thành một loại rác thải lan tràn khắp nơi, từ các khu du lịch, di tích, danh
lam thắng cảnh đến ao hồ, sông ngòi.
17
Lượng rác thải ngày càng lớn, không chỉ trên đất liền, theo một nghiên cứu
được công bố hồi đầu năm 2015, mỗi năm các đại dương trên thế giới đang phải hứng
chịu từ 8 đến 9 triệu tấn rác thải nhựa. Có tới hơn phân nửa số rác thải này đến từ các
quốc gia châu Á, dẫn đầu là Trung Quốc, tiếp theo là Indonesia, Philippines, Việt Nam
và Sri Lanka. Đồng thời, trong nhóm các quốc gia phát triển thì có Mỹ là nằm trong
top 20 với khoảng 77.000 tấn, tương đương gần 1% trong số tổng rác thải nhựa đổ ra
biển (Khánh Ly, 2015).
Theo sự ước tính của các chuyên gia, có khoảng 46.000 phế phẩm từ nhựa trôi
nổi trên diện tích khoảng 1,6 km 2 nước biển. Rác thải, phế phẩm từ nhựa như chai, lọ,
túi nilon bị vứt xuống biển theo các dòng hải lưu trôi nổi khắp thế giới. Theo thống kê
của trang Clean Air, cứ mỗi phút lại có hơn 1 triệu túi nilon được con người sử dụng
và sau đó chủ yếu sẽ bị thải ra biển cả và đại dương. Rác thải, phế phẩm từ nhựa như
chai, lọ, túi nilon sẽ theo các dòng hải lưu chu du khắp thế giới. Chỉ tính riêng dòng
hải lưu Bắc Thái Bình Dương trong 40 năm qua, lượng phế thải nhựa gia tăng tới 100
lần (Diệp Trang, 2015). Thời gian phân hủy của rác thải nhựa luôn xếp top đầu. Thống
kê cho thấy những chiếc dây cước câu cá làm từ nhựa chỉ có thể tan biến sau 600 năm,
tiếp theo là chai nhựa với khoảng 450 năm và các vật dụng nhựa khác là 400 năm. Rác
thải từ nhựa đặc biệt nguy hiểm đối với sự sống của các sinh vật dưới nước. Trong số
gần 120 loài thú sống dưới biển, có tới 54% loài thường mắc phải rác thải nhựa bị vứt
năm 2013 cấm sử dụng túi nilon. Nước này đã tuyên bố có một sự đổi mới quan trọng,
chính quyền nước này đã ra lệnh cấm sử dụng túi nilon và chỉ được sử dụng các túi vải
không dệt tự phân hủy trong môi trường. Điều lệnh thiết thực này đã đưa đất nước này
gia nhập vào hàng ngũ các quốc gia có tỉ lệ sử dụng túi nilon thấp nhất thế giới:
Mexico, Washington, San Francisco,...
Những nơi khác như Trung Quốc đã thành công trong việc thu phí túi nilon. Kể
từ ngày 01/06/2008, tất cả các siêu thị, các cửa hàng lớn cũng như cửa hàng tạp hóa
đều không được phép cung cấp túi nilon miễn phí nữa. Người tiêu dùng sẽ phải tự lo
túi đựng đồ khi đi mua hàng, nếu không sẽ phải trả tiền mua túi nilon tại cửa hàng hay
siêu thị. Cũng theo quy định này, túi nilon có độ dày dưới 0,025mm sẽ bị cấm hoàn
toàn, và các cửa hàng phải thu phí của khách hàng đối với tất cả các loại túi nilon
(Đặng Lê, 2008). Bên cạnh đó nhiều siêu thị tại Pháp, Hà Lan đã không phát túi nilon
đựng đồ, khách hàng được khuyến khích mua túi đựng hàng lớn bằng nilon tự hủy, có
thể sử dụng nhiều lần.
Đặc biệt, năm 2016, Indonesia đã phát minh ra loại túi nilon thân thiện với môi
trường, loại túi này có thể hòa tan trong nước để uống, được gọi là Eco-bag. Với vẻ
ngoài không khác gì với túi nilon thông thường, nhưng nó lại có thể hòa tan được
trong nước. Avani – công ty của Indonesia phát minh ra loại túi này - đã tạo ra túi Ecobag từ rễ của củ sắn, điều này giúp Eco bag có thể phân hủy dễ dàng trong môi trường
tự nhiên. Khác với loại túi nilon thông thường, với Eco bag các loài sinh vật có thể hấp
thụ mà không gặp ảnh hưởng do thành phần chính của loại túi này là từ rễ củ sắn. Với
loại túi này, chúng ta không còn phải lo lắng về vấn đề ô nhiễm môi trường, vì Eco bag
19
có thể phân hủy gần như hoàn toàn trong nước ấm. Việc phát minh ra loại túi sinh học
này hứa hẹn sẽ là sản phẩm thay thế toàn diện nhược điểm cho túi nilon hiện nay, giảm
bớt gánh nặng ô nhiễm môi trường (Ngọc Quỳnh, 2016).
1.2.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng
rác thải nilon, tương đương với 160 tấn dầu được sản xuất sau quá trình xử lý. Như
vậy, việc áp dụng công nghệ tái chế này giúp tỉnh Bình Dương sản xuất được khoảng
50 tấn dầu PO và RO mỗi ngày. Điều này có ý nghĩa rất lớn, góp phần giảm thiểu
lượng nilon xả thải ra môi trường, giảm thiểu ô nhiễm.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) – đại diện cho cộng đồng
doanh nghiệp Việt Nam đã đề xuất phương thức đánh thuế túi nilon với Bộ Tài chính,
dựa trên số lượng túi. Do việc mức thuế hiện nay đang rất thấp so với các nước trên
thế giới, nên chưa có tác động nhiều đến việc hạn chế sản xuất hay sử dụng túi nilon.
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác cho thấy việc đánh thuế dựa trên số lượng túi sẽ
có tác dụng tốt hơn việc dựa trên khối lượng túi trong việc bảo vệ môi trường. Tuy
nhiên cách đánh thuế này có nhược điểm là tiến hành thu sẽ khó hơn do các hóa đơn,
hợp đồng mua bán túi nilon đều dựa trên khối lượng. Do đó, cần thực hiện thêm một
thao tác để quy đổi từ khối lượng sang số lượng túi nilon. Việc đánh thuế này cũng đã
được áp dụng tại một số nước. Ở nước Anh và Ireland mỗi túi nilon sẽ phải chịu mức
thuế tương đương 4.200 đồng. Một số nước khác thậm chí cấm sản xuất túi nilon để
hạn chế việc môi trường bị tác động do loại rác thải này.
1.2.3. Tại Quảng Ninh
Tỉnh Quảng Ninh đề xuất các giải pháp quản lý như xây dựng và hoàn thiện cơ
chế chính sách, pháp luật và kiểm soát sử dụng túi nilon khó phân hủy. Tăng cường sử
dụng công cụ kinh tế nhằm giảm dần việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng túi nilon
khó phân hủy. Xây dựng chính sách khuyến khích phân loại chất thải túi nilon khó
phân hủy tại nguồn, tạo điều kiện thuận lợi để thu gom, tái chế.
Ngoài ra Quảng Ninh định hướng tăng cường và đa dạng hóa các nguồn đầu tư
nhằm thực hiện việc giảm thiểu tình trạng rác thải nilon; phát triển nghiên cứu khoa
học, chuyển giao công nghệ để sản xuất ra túi nilon thân thiện môi trường và tái chế
rác thải nilon thành sản phẩm hữu ích; tăng cường hợp tác quốc tế để trao đổi, học tập
kinh nghiệm quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi nilon khó phân
hủy. Tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ sản xuất các sản phẩm thay thế
và tái chế chất thải nilon khó phân hủy.
chung với chi phí khá cao, chiếm khoảng hơn 90%. Nguồn hạt nhựa tái chế trong nước
chiếm chưa tới 10%. Và nếu thực hiện tốt khâu tái chế thì có thể thay đổi đáng kể tỷ lệ
cung ứng cho thị trường hạt nhựa trong nước lên khoảng 40%. Trên thực tế, việc tái
chế túi nilon sau sử dụng không phải là khó. Cái khó là hiện nay nhà nước vẫn chưa có
chính sách hỗ trợ đủ để khuyến khích các nhà đầu tư lớn có năng lực tham gia. Kết quả
là việc tái chế nilon rơi vào những cơ sở sản xuất tư nhân nhỏ. Trong quá trình sản
xuất họ không đảm bảo điều kiện an toàn gây ra ô nhiễm môi trường. Như vậy, việc
22
đầu tư cho giải pháp kinh tế để tăng hiệu suất tái chế loại sản phẩm này vừa có lợi ích
về kinh tế vừa có lợi cho môi trường (Minh Xuân, 2014).
Cuối cùng là yếu tố xây dựng chính sách phù hợp để giảm lượng túi nilon được
sử dụng. Các quy định được ban hành giúp chính quyền các nước quản lý và kiểm soát
lượng túi nilon. Đây chính là công cụ giúp cho việc thực hiện giảm thiểu sử dụng túi
nilon mang lại kết quả cao. Việc ban hành rộng rãi các văn bản quy định về việc sử
dụng túi nilon cần được tăng cường tại nước ta.
Như vậy, sự tham gia của cộng đồng, sự đầu tư thỏa đáng của Nhà nước, xã hội
và việc xây dựng chính sách phù hợp để thực hiện việc giảm thiểu sử dụng túi nilon
như các nước trên thế giới là điều rất quan trọng, góp phần to lớn trong việc mang lại
thành công cho chương trình.
23
CHƯƠNG II
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.
nhiên là 17,13 km². Phía Tây giáp Phường Hùng Thắng, Giếng Đáy; phía Bắc giáp
sông Trới, huyện Hoành Bồ; phía Đông Nam giáp Vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên
thế giới 2 lần được UNESCO công nhận.
Bãi Cháy nguyên là một đảo hình thoi dài 6km, chỗ rộng nhất là 2km, diện tích
1145,85ha. Địa hình đồi núi, đỉnh cao nhất 162m. Phía Bắc đảo là vịnh Cửa Lục, quốc
lộ 18A mở từ những năm 1930. Phía Nam đảo nhìn ra Vịnh Hạ Long có đường Hạ
Long xây dựng từ năm 1959. Phường có đảo Rều cách bờ 300m (dễ dàng thấy khi đi
từ Cảng tàu du lịch Bãi Cháy ra Vịnh), phía Đông của đảo có bến phà (nay là cầu) nối
với phường Hồng Gai, cảng xăng dầu B12 là cảng xăng dầu lớn nhất cả nước, trước
1965 là cảng Hải Quân.
Bãi Cháy có một bãi biển nhân tạo, nằm dọc vịnh Hạ Long, bãi cát có chiều dài
hơn 1000m và rộng 100m. Đây là bãi tắm thu hút rất đông du khách vào mùa du lịch
biển. Đặc điểm địa hình là một dải đồi thấp chạy thoai thoải về phía biển, kéo dài hơn
2km ôm lấy hàng thông cổ thụ, nằm xen là những khách sạn, những biệt thự nhỏ kiến
trúc riêng biệt (Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam, 2015).
2.2.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
Theo trang Cổng thông tin điện tử Thành phố Hạ Long, với lợi thế nằm bên bờ
vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên thế giới 2 lần được Unesco công nhận, Bãi Cháy
đóng vai trò là trung tâm lưu trú và các dịch vụ ven bờ, phát triển với quy mô quốc tế.
Cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ ngành du lịch được đầu tư, khai thác hiệu quả đáp đã
ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch trong và ngoài nước.
Trên địa bàn phường hiện có 322 cơ sở lưu trú du lịch với 6.888 phòng, 12.478
giường; trong đó: 11 cơ sở đạt tiêu chuẩn 4 sao, 15 cơ sở đạt tiêu chuẩn 3 sao, 23 cơ sở
đạt tiêu chuẩn 2 sao, 17 cơ sở đạt tiêu chuẩn 1 sao với 4.012 phòng được xếp hạng và
trên 400 tàu du lịch. Bên cạnh đó, một số dự án khách sạn 5 sao đang được triển khai
25