Đánh giá sinh trưởng mô hình trám đen ghép tại xã hà châu huyện phú bình tỉnh thái nguyên - Pdf 43

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------o0o--------------

ĐINH MINH HẢI
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ SINH TRƢỞNG MÔ HÌNH TRÁM ĐEN GHÉP TẠI XÃ HÀ
CHÂU, HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý Tài nguyên rừng

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2012 – 2016

Thái Nguyên, năm 2016


Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất chí của ban
chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em tiến
hành thực hiện khóa luận “Đánh giá sinh trưởng mô hình Trám đen ghép
tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
Sau một thời gian làm việc nghiêm túc đến nay, bài khóa luận của em
đã hoàn thành. Nhân dịp này em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô
giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là tới giảng viên TS. Nguyễn Thị Thu
Hoàn – người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận
này. Đồng thời em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của chính quyền xã Hà
Châu và các hộ nông dân trên địa bàn xã đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em
hoàn thành chuyên đề trong thời gian nhà trường quy định.
Do trình độ chuyên môn còn hạn chế và thời gian có hạn nên khóa luận
không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vậy em kính mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong Khoa cùng toàn thể các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2016
Sinh viên thực tập
Đinh Minh Hải


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Đánh giá tỷ lệ sống của cây Trám ghép tại 2 mô hình ................... 24
Bảng 4.2. Phân loại phẩm chất của cây Trám đen ghép tại mô hình 1 ........... 25
Bảng 4.3. Phân loại phẩm chất của cây Trám đen ghép tại mô hình 2 ........... 26
Bảng 4.4. Kết quả theo dõi và đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng tại mô
hình 1 ............................................................................................................... 27
Bảng 4.5. Kết quả theo dõi và đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng .............. 30

2.1.1. Tổng quan đối tượng nghiên cứu ............................................................ 4
2.1.2. Đặc điểm phân bố.................................................................................... 4
2.1.3. Đặc điểm hình thái .................................................................................. 5
2.1.4. Đặc điểm sinh thái ................................................................................... 5
2.2. Cơ sở khoa học về sinh trưởng .................................................................. 6
2.3. Tình hình nghiên cứu cây Trám trong và nước ngoài................................ 7
2.3.1. Nghiên cứu cây Trám trên thế giới ......................................................... 7
2.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam ......................................................................... 8
2.4. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên, nhân lực ................................................. 13
2.4.1. Đặc điểm tự nhiên: ................................................................................ 13
2.4.2. Diện tích tự nhiên .................................................................................. 14
2.4.3. Đặc điểm địa hình khí hậu .................................................................... 14
2.5. Tài nguyên ................................................................................................ 15
2.5.1. Đất đai ................................................................................................... 15


vi

2.5.2. Đánh giá lợi thế phát triển dựa trên tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên
của xã............................................................................................................... 15
2.6. Nhân lực ................................................................................................... 16
2.7. Kinh tế - xã hội ......................................................................................... 16
2.7.1. Giao thông ............................................................................................. 16
2.7.2. Thủy lợi ................................................................................................. 17
2.8. Về văn hóa – xã hội – môi trường............................................................ 18
2.8.1. Giáo dục ................................................................................................ 18
2.8.2. Y tế ........................................................................................................ 18
2.8.3. Văn hóa ................................................................................................. 18
2.9. Đánh giá chung ........................................................................................ 19
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý báu của mỗi quốc gia, là tài nguyên có
thể tái tạo được. Rừng đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống của toàn bộ
con người cũng như sinh vật trên trái đất, rừng cung cấp oxi, duy trì sự sống
và là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái. Rừng cung cấp nhiều lâm
đặc sản quý hiếm, duy trì sự phát triển của nguồn gen động thực vật có giá trị
kinh tế cao, bảo tồn đa dạng sinh học. Rừng còn giữ vai trò đặc biệt quan
trọng đối với việc phát triển kinh tế như: cung cấp nguồn gỗ, tre, đặc sản
rừng, các loại động, thực vật có giá trị trong nước và xuất khẩu, ngoài ra nó
còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc
phòng. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành
một một yêu cầu, nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia
trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi
hỏi mỗi cá nhân, tổ chức thuộc các cấp trong một quốc gia và trên thế giới
nhận thức được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phục hồi và
phát triển rừng.
Trám đen (Canarium tramdenum Dai & Yakovl) là cây gỗ lớn bản địa,
có chiều cao từ 20-30m, đường kính ngang ngực đạt 50-70cm, thân tròn
thẳng, tán rộng và lá xanh quanh năm. Trám đen được trồng và phân bố ở
vùng Đông Nam châu Á gồm phía nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông,
Quảng Tây) Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan. Ở Việt Nam Trám đen
phân bố khá rộng rãi từ Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hòa
Bình, Hà Tây, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Ninh Bình,
Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Đắc Lắc, Khánh Hoà. Ngoài
tác dụng phòng hộ, cung cấp gỗ củi, các bộ phận của cây trám đen như quả,




3

1.3. Mục tiêu
- Xác định tỷ lệ sống cây ghép sau trồng.
- Đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển của các mầm ghép Trám đen.
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa học tập: Qua thực hiện chuyên đề sẽ giúp bản thân làm quen
với thực tiễn, có điều kiện so sánh, đối chứng và kiểm nghiệm giữa lý thuyết
và thực tiễn, củng cố kiến thức đã học được từ nhà trường và có điều kiện tích
lũy thêm kiến thức thực tế.
Ý nghĩa trong khoa học: Thấy rõ sự phát triển và sinh trưởng của cây
Trám đen, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển
của cây.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Sau khi nghiên cứu sẽ đóng góp một
phần nhất định trong việc đề xuất một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây
Trám đen. Đánh giá thực tế tình hình sinh trưởng của cây Trám đen làm tiền
đề cho việc đưa ra những biện pháp kỹ thuật lâm sinh cụ thể, hợp lý để làm tài
liệu cũng như truyền đạt thông tin đến cho người dân.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan cây Trám đen
2.1.1. Tổng quan đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây Trám đen ghép thuộc chi Trám

rộng 3-6cm, chất lá cứng, ròn, mặt trên bóng, mặt dưới sẫm hơn, đầu và gốc
lá hơi lệch. Gân bên 8-10 đôi; không có lá kèm. Lá ở cây con khác với cây
trưởng thành, thường là lá đơn nguyên hay xẻ, sau mới chuyển dần sang dạng
lá kép.
Cụm hoa chùm hình viên chuỳ, thường dài hơn lá, hoàn toàn nhẵn. Hoa
tạp tính hay đơn tính, màu trắng vàng nhạt, cuống có lá bắc dạng vảy, cuống
hoa dài 1,5-2 cm.
Quả hạch hình trứng, dài 3,5-4,5 cm, rộng 2-2,5 cm, khi chín màu đen
sẫm, thịt hồng. Hạt hoá gỗ rất cứng, 3 ô, mỗi ô có nhân hạt màu trắng và
nhiều dầu.
Hình dáng cây con thay đổi nhiều, từ lá xẻ thùy lên lá đơn, cuối cùng
mới sinh lá kép như cây trưởng thành [7].
2.1.4. Đặc điểm sinh thái
Cây Trám ưa đất sét hoặc sét pha, sâu ẩm và thoát nước, độ pH 4,5-5,5;
nhưng cũng gặp Trám đen phát triển tốt trên đất cát có nhiều phù sa ven sông.
Cây Trám phù hợp với nhiệt độ trung bình năm từ 21-25°C, lượng mưa
bình quân năm từ 1500-2000mm.
Là loài cây ưa sáng khi trưởng thành, nhưng hơi ưa bóng nhẹ khi còn
non. Từ 1 tuổi trở lên cây có thể mọc nơi ánh sáng hoàn toàn, vì vậy ít gặp
cây con tái sinh ở dưới tán rừng có độ phủ trên 0,6. Ở chiều cao khoảng 1m,
nếu không được mở sáng mạnh cây Trám con có thể bị chết. Trám đen tái


6

sinh mạnh ở nơi có độ tàn che 0,2-0,3, nơi bìa rừng, nơi rừng bị khai thác
mạnh hoặc rừng cây tiên phong định vị.
Cây trồng bằng hạt 5-6 năm bắt đầu ra hoa, nếu trồng bằng cây ghép thì
sau 2-3 năm sẽ cho hoa. Cây ra hoa vào tháng 2-3, quả chín vào tháng 7-9.
Thời gian ra quả kéo dài hàng trăm năm. Tuổi thọ của cây trám đen có thể

Nam Á đến Australia. Các loài trong chi Canarium phân bố từ phía nam
Nigeria đế phía đông Nadagasca, Martius, Ấn Độ, nam Trung Quốc, các nước
Đông Dương, Indonesia và Philippin. Chi này gồm những loài cây thân gỗ, có
thể cao đến 40 -50 m, lá kép lông chim mọc cách [28].
Theo Hầu Khoan Chiếu (1958)[25] thì ở Trung Quốc có Trám trắng và
Trám đen. Trám trắng có tên khoa học là Canarium album Raeusch. Trám
đen có tên khoa học là C. pimela Koenig. Trám đã được người dân trồng lấy
quả từ rất lâu đời.
Các tác giả Trung Quốc ở Hội thực vật chí (1976)[26] giới thiệu Trám
đen cho trồng rừng. Theo các tác giả thì Trám đen cao 10-25 m, đường kính
20-120 cm, có phân bố chủ yếu ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, một phần
của tỉnh Phúc Kiến và ở Đài Loan. Các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã có
những nghiên cứu về phân bố, hình thái, đặc tính sinh học, giá trị sử dụng, kỹ
thuật trồng rừng và phòng trừ sâu bệnh (chủ yếu là Sâu Anoplophora chinesis
hại cây con). Họ đã tìm được cây nhiều quả có thể đạt 200 kg quả, cá biệt có
thể đạt 400 kg quả.
Tuy vậy, theo công bố mới nhất thì ở Trung quốc có đến 7 loài Trám, trong
đó Trám trắng (Canarium album) và Trám đen (C. pimela hoặc C.tramdenum) là
những loài cây chủ yếu có giá trị kinh tế. Trám trắng quả hình trứng, có phân bố và
được trồng trên các sườn núi và thung lũng, ở độ cao 100 - 1300 m, tại các tỉnh
Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Tứ Xuyên, Đài Loan,
Vân Nam và Việt Nam. Trám đen quả hình trứng hẹp dài 3-4 cm, đường kính 1,7-2
cm, có phân bố ở độ cao 500-1300 m tại Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam,


8

Vân Nam và các nước khác như Việt Nam, Lào, Canpuchia (Flore of China,
2008) [24].
Nghiên cứu tính chất gỗ của các loài cây nhiệt đới đã thấy các loài trám có

Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình (Vũ Văn Dũng và
cộng sự, 2009) [9].
Trám đen trồng 5-6 năm bắt đầu ra hoa, cây ra hoa vào tháng 4-5, thu
hái quả tháng 9-11. Khi quả chín vỏ thường có mầu tím đen. Số lượng quả
Trám đen trong 1 kg là 200-300, số lượng hạt là 350-400 hạt/kg (Công ty
giống và phục vụ trồng rừng, 1995) [7].
Trám đen là cây ưa sáng mọc nhanh, ưa đất thịt pha, tầng đất dày, độ
ẩm trung 14 bình, mọc nhiều ở những nơi độ dốc thấp, cá biệt có thể sống trên
cả đất sỏi và có thể trồng theo phương thức nông lâm kết hợp: 2-3 năm đầu có
thể xen cây nông nghiệp như Lạc, Lúa, Đỗ, Sắn... (Cục Lâm nghiệp, 2007)
[8]. Đây là cây đa tác dụng, quả sau khi ngâm (om qua nước nóng) ăn rất
ngon. Quả tươi giã lấy nước uống giải độc do ăn phải cá nóc hoặc cá thối,
chữa hóc xương cá. Quả khô tán bột, rắc chữa nứt nẻ da, lở miệng và trị sâu
răng... (Võ Văn Chi, 1997) [6].Vì thế quả Trám đen được tiêu thụ ở nhiều thị
trường trong nước chủ yếu là ở dạng thực phẩm ăn tươi. Nhu cầu thị trường
về quả Trám đen rất lớn, trong khi lượng quả bán ra chưa nhiều nên quả tươi
Trám đen có giá cao hơn Trám trắng, khoảng 10.000-12.000 đ/kg quả tươi,
trong khi giá quả tươi Trám trắng là 6.000-8.000 đ/kg (Triệu Văn Hùng,
2007) [15].
* Tình hình nghiên cứu về Trám ghép và mô hình trồng Trám ghép
Có nhiều nghiên cứu liên quan đến kỹ thuật ghép Trám và trồng Trám
bằng cây ghép, các nghiên cứu này là cơ sở quan trọng cho các hoạt động sản
xuất thực tiễn, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
Kết quả nghiên cứu trồng rừng Trám trắng (Canarium album Raeusch)
làm nguyên liệu gỗ dán của Phạm Đình Tam (2004) [21], đã xác định được cơ


10

sở khoa học để đề xuất các giải pháp lâm sinh phù hợp gây trồng và phát triển

hoặc dùng thuốc sữa DDT 5% nồng độ 1/150 phun ướt búp ngọn trám (Trần
Đình Hạnh,1965) [10].
Ong Thế Quảng đã nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí lấy cành ghép đến
sinh trưởng của cây Trám ghép đã rút ra kết luận cây Trám ghép bằng cành
ngọn có tỷ lệ sống đạt 84% cao hơn so với ghép cành sát ngọn chỉ đạt 80%
(Ong Thế Quảng, 2006) [19].
Kết quả nghiên cứu của Trần Đức Mạnh (2004-2007) [18] đã lựa chọn
được mười cây mẹ có năng suất quả vượt trội hơn cây trung bình từ 120%200% ở các xuất xứ khác nhau như Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Thái
Nguyên và Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy Trám đen là cây rừng có
thể nhân giống bằng phương pháp ghép. Tỷ lệ thành công đạt trung bình 50%,
phương pháp ghép áp bên thân và phương pháp ghép nêm là hai phương pháp
đạt kết quả cao nhất. Thời vụ ghép tốt nhất là vụ xuân (tháng 3,4) và vụ Thu
(tháng 9,10). Kết quả nghiên cứu cho thấy phương thức trồng rừng bằng cây
con gieo từ hạt và trồng toàn diện có cây phù trợ giai đoạn đầu tỏ ra phù hợp
với sinh trưởng quần thể của cây Trám đen đáp ứng mục tiêu trồng rừng lấy
gỗ. Trong giai đoạn rừng 1-4 tuổi Trám đen cần có cây che phủ hỗ trợ cho cây
sinh trưởng và phát triển. Cây che phủ hỗ trợ phù hợp là cây Cốt khí và cây
Keo. Phương thức trồng rừng dùng cây phù trợ cần có biện pháp kỹ thuật tác
động như tỉa cành hoặc tỉa thưa keo từ năm thứ 3 trở đi, điều chỉnh độ tàn che
của cây phù trợ đối với cây Trám. Còn đối với phương thức trồng rừng bằng
cây ghép và trồng theo phương thức nông lâm kết hợp thì sẽ đáp ứng được
mục tiêu trồng rừng lấy quả. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã thực xây dựng
được 8,5 ha mô hình rừng trồng Trám đen phục vụ mục tiêu lấy gỗ và lấy quả.
Các mô hình sau khi trồng năm đầu tiên đều đạt trên 90%, sau đó 3 năm tỷ lệ
tồn tại trong các mô hình thí nghiệm còn tương đối cao 82% và 86% ở Nghệ
An và 90% ở Hòa Bình. Điều này cho thấy môi trường ở đây phù hợp cho cây


12


và thử nghiệm xây dựng mô hình trồng Trám phân tán theo quy mô hộ gia đình.
Tại xã Hà Châu, huyện Phú Bình (2005-2010)[23] đã có các đánh giá
tiềm năng và năng suất cây Trám đen phục vụ đề án xây dựng phát triển cây
Trám đen đạt hiệu quả kinh tế cao tại xã Hà Châu, đề án đã sử dụng phương
pháp điều tra thực tế về diện tích, phân bố cây Trám đen và kinh nghiệm bản
địa trong cách nhân giống, phân biệt cây cái và kỹ thuật sơ chế, bảo quản. Nội
dung nghiên cứu tập trung theo hướng nhân giống Trám bằng 2 cách gieo hạt
và ghép và thử nghiệm sơ chế một số sản phẩm hàng hóa từ Trám, tuy nhiên
nghiên cứu giai đoạn đó không thành công.
Qua đó ta thấy trước đây và hiện nay việc nghiên cứu và áp dụng các
phương pháp ghép đã được áp dụng từ lâu nhưng chủ yếu là đối với đối tượng
cây ăn quả, cây công nghiệp, đối tượng cây lâm nghiệp cũng đã và đang được
áp dụng nhưng chưa nhiều. Đối với cây lâm nghiệp thì phương pháp nhân
giống bằng hom, bằng hạt... đã có rất nhiều nghiên cứu khác nhau, song
nghiên cứu về Trám còn hạn chế, các nghiên cứu đã tập chung nhiều hơn vào
đối tượng cây Trám trắng, cây Trám đen nói chung và Trám đen tại xã Hà
Châu, huyện Phú Bình nói riêng các nghiên cứu còn ít ỏi và tản mạn, do vậy
chưa phát huy được thế mạnh của loài cây này tại khu vực nghiên cứu, vì vậy
đề tài được đề xuất thực hiện.
2.4. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên, nhân lực
2.4.1. Đặc điểm tự nhiên:
- Vị trí địa lý:
Xã Hà Châu là 1 trong 21 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn huyện Phú
Bình, là một xã nhỏ nằm sát con sông Cầu thuộc vùng tung du Bắc bộ ở phía
tây nam của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.


14

- Phía đông giáp Đông Tân huyện Hiệp Hòa của tỉnh Bắc Giang.

nghiệp 132 ha trong đó đất ở 30,76 ha, đất chuyên dùng 48,6 ha, đất tôn giáo
1,44 ha, đất nghĩa trang nghĩa địa 4,95 ha, đất sông suối 36,3 ha, đất chưa sử
dụng 10,84 ha.
Phân các vùng sản xuất đặc trưng: Vùng trồng lúa
Vùng 1: thuộc địa phận xóm Chảy
Vùng 2: thuộc địa phận xóm Sau
Vùng 3: thuộc địa phận xóm Chùa
Vùng 4: thuộc địa phận xóm Núi
Vùng 5,6,7: thuộc địa phận các xóm Mới, Trầm Hương.
Vùng 8: Thuộc địa phận xóm Trầm Hương.
Vùng 9: Thuộc xóm Đắc Trung, Thùa Gia.
Vùng 10: Thuộc đơn vị xóm Đồng.
Vùng 11: Thuộc đơn vị xóm Củ.
2.5.2. Đánh giá lợi thế phát triển dựa trên tiềm năng, thế mạnh về tài
nguyên của xã
Xã Hà Châu là xã có địa hình, khí hậu và đất đai có thể phù hợp với
việc thành lập các các trang trại vườn đồi, nông lâm ngư nghiệp kết hợp. Thế
mạnh của xã Hà Châu chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, là then chốt để xây
dựng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của xã trong giai đoạn 2012-2015 và
những năm tiếp theo phù hợp với lợi thế của địa phương.
Song song với nền kinh tế nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ, tiểu thủ
công nghiệp là lợi thế rất lớn mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho địa
phương.


16

Xét về đất đai, xã Hà Châu còn nhiều tiềm năng để phát triển nông lâm
nghiệp kể cả việc thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cây trồng và khai hoang mở
rộng diện tích, trước tiên phải nói đến quy mô diện tích.

+ Đường xã, liên xã tổng số: 13,377km, số km nhựa hóa hoặc bê tông
hóa đạt chuẩn là 5,86km đạt 43,81% so với tổng số.
+ Đường thôn xóm: 2,9km.
+ Đường ngõ xóm: tổng số 7,83km, số km làm sạch không lầy lội vào
mùa mưa là: 1,62km đạt 25% so với tổng số cứng hóa.
+ Đường trục chính nội đồng: tổng số 7,83km, số km đường cứng hóa,
xe cơ giới đi lại thuận tiện là: 0,31km đạt 4,09% so với tổng số.
Hệ thống các tuyến đường giao thông như: đường trục xã, đường trục
thôn, đường ngõ xóm,và đường chính nội đồng của xã hầu hết là đường đất,
đã xuống cấp nghiêm trọng, nhiều điểm bị sạt lở do thiên tai, việc tu bổ chưa
được thường xuyên, đường nhỏ hẹp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến giao
thông đi lại phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế của người dân trên đại bàn
toàn xã.
2.7.2. Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi của xã Hà Châu gồm các ao hồ, hệ thống kênh
mương nội đồng khá phong phú và đa dạng. Được các cấp ngành quan
tâm, việc đầu tư cho các công trình thủy lợi, kênh mương được xây dựng
khá hoàn thiện, phần nào đã đáp ứng cho nhu cầu tưới tiêu trên địa bàn
toàn xã Hà Châu.
Trong những năm qua Hà châu đã huy động hàng nghìn ngày công để
nạo vét tu sửa kênh mương nội đồng, quản lý và bảo vệ an toàn các tuyến đê,
kênh mương để phục vụ sản xuất. Tuy nhiên Hà Châu vẫn còn một số kênh
mương nội đồng chưa được đầu tư xây dựng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới
việc sản xuất nông nghiệp của nhân dân. Là địa phương nằm trong hệ thống
kênh mương của Hồ Núi Cốc, nhưng nằm ở cuối kênh, hệ thống kênh mương



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status