ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------
LÂM VĂN SÁNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CÂY TRÁM ĐEN ƯU VIỆT PHỤC VỤ
CHO CÔNG TÁC NHÂN GIỐNG vÀ CẢI TẠO VƯỜN TẠP BẰNG CÂY
GHÉP TẠI XÃ HÀ CHÂU, HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lý tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa
: 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------
LÂM VĂN SÁNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CÂY TRÁM ĐEN ƯU VIỆT PHỤC VỤ
CHO CÔNG TÁC NHÂN GIỐNG
vÀ CẢI TẠO VƯỜN TẠP BẰNG CÂY
GHÉP TẠI XÃ HÀ CHÂU, HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lý tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm nghiệp
Lớp
: K43 - QLTNR N02
Khóa
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn
Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm
ơ
Thái Nguyên - 2015
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1.
Kế hoạch sử dụng đất theo từng năm (theo quy hoạch) ............ 20
Bảng 4.1.
Nguồn gốc giống và kỹ thuật trồng Trám tại xã Hà Châu ......... 30
Bảng 4.2.
Kết quả điều tra về thời gian ra hoa và chất lượng quả.............. 32
Bảng 4.3.
Mô tả kết quả đánh giá chỉ tiêu chất lượng quả (quả đạt tiêu
chuẩn thu hoạch)......................................................................... 33
Bảng 4.4.
Thực trạng phát triển cây Trám đen trong cơ cấu cây trồng ở xã.......34
Bảng 4.5.
Điều tra sinh cây Trám đen tại tai hộ gia đình xã Hà Châu và
các vùng lân cận ......................................................................... 36
Bảng 4.6.
2.5.2. Mặt nước ............................................................................................... 20
2.5.3. Khoáng sản ............................................................................................ 21
2.5.4. Đánh giá sơ bộ về tiềm năng phái triển tài nguyên đất, nước với sản
xuât nông nghiệp, công nghiệp và phục vụ dân sinh. ..................................... 21
2.5.5. Đánh giá lợi thế phát triển dựa trên tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên
của xã............................................................................................................... 21
2.6. Nhân lực ................................................................................................... 22
2.7. Về kinh tế - xã hội .................................................................................... 22
2.7.1. Giao thông ............................................................................................. 22
2.7.2. Thủy lợi ................................................................................................. 23
2.7.3 Điện ........................................................................................................ 24
2.7.4 Trường học ............................................................................................. 24
2.7.5 Chợ nông thôn ........................................................................................ 24
2.8. Về văn hóa – xã hội – môi trường............................................................ 25
v
2.8.1. Giáo dục ................................................................................................ 25
2.8.2. Y tế ........................................................................................................ 25
2.8.3. Văn hóa ................................................................................................. 25
2.9. Hệ thống tổ chức chính trị xã hội ............................................................. 25
2.10. An ninh, trật tự xã hội ........................................................................... 26
2.11. Đánh giá chung ...................................................................................... 26
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU................................................................................................ 27
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 27
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 27
3.3. Nội dung nghiên cứu................................................................................ 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 27
3.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu ................................................................. 27
trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng là hơi thở
của sự sống, là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nó giữ một vai trò
rất quan trọng trong quá trình phát triển và sinh tồn của loài người. Rừng
còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển kinh tế như: cung
cấp nguồn gỗ, tre, nứa, đặc sản rừng, các loại động, thực vật có giá trị trong
nước và xuất khẩu, ngoài ra nó còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan
thiên nhiên và an ninh quốc phòng. Rừng bảo vệ đất, tăng độ phì nhiêu, bồi
dưỡng tiềm năng cho đất.
Trong các sản vật thiên nhiên ban tặng cho người dân Phú Bình thì
Trám đen một trong những đặc sản nổi tiếng của mảnh đất Hà Châu. Trám
đen là cây thân mộc, có thể sống trên một trăm năm, ra hoa vào tháng hai,
chín quả vào tháng bẩy, quả trám hình thoi, khi chín có màu đen, cùi trám
màu vàng, hạt trám nhọn hai đầu, nhân Trám trắng ngần. Theo người dân xã
Hà Châu, cây Trám đen được trồng bằng hạt tại Hà Châu từ hàng trăm năm
nay. Trung bình từ 7-8 năm cây Trám mới cho quả, tỷ lệ cây cái chỉ chiếm
khoảng 30%. Trên đồng đất Hà Châu, ở những diện tích đất đồi, đất soi bãi,
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và kết
quả trong khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng
để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông
tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Xác nhận của GVHD
tính ưu việt phục vụ cho công tác nhân giống.
- Cải tạo vườn tạp quy mô hộ gia đình bằng cách trồng bổ sung cây
ghép và ghép tại gốc một số cây Trám hạt sẵn có.
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong lựa chọn cây mẹ và cải
tạo vườn tạp bằng cây ghép cấp hộ gia đình.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Sự thành công của đề tài này là làm quen với công tác nghiên cứu
khoa học gắn liền với giữa lý thuyết và thực hành. Đồng thời sẽ đánh giá
được mức độ thành công trong việc lựa chon cây mẹ lấy cành và kỹ thuật cải
tạo bằng cây ghép. Mặt khác đề tài là tư liệu để tiếp tục theo dõi, nghiên cứu,
đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây
4
Trám ghép. Từ đó làm cơ sở khoa học đưa ra quy trình kỹ thuật chọn cây mẹ
và cải tạo vườn tạp.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Nghiên cứu đánh giá thực tế tình hình sinh trưởng của cây Trám ghép,
từ đó áp dụng những tiến bộ kỹ thuật để làm tài liệu cũng như truyền đạt
thông tin đến cho người dân.
5
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan cây Trám đen
2.1.1. Tổng quan đối tượng nghiên cứu
Cây ưa sáng mọc nhanh, ưa đất sét pha, tầng đất dày, độ ẩm trung
bình, mọc nhiều ở những nơi độ dốc thấp, cá biệt có thể sống được cả trên đất
sỏi. Khả năng tái sinh hạt mạnh dưới tán rừng có tàn che 0,3-0,4. Ra hoa
tháng 4-5. Quả chín tháng 10-12 [6].
2.1.3. Đặc điểm hình thái
Cây gỗ lớn, cao 25-30m, đường kính tới 90cm. Thân thẳng, phân cành
cao. Vỏ màu nâu nhạt khi đẽo ra có mủ màu đen. Toàn thân có mùi thơm hắc.
Gỗ nhẹ, mềm, màu xám trắng.
Lá kép lông chim 1 lần lẻ, không có lá kèm. Lá chét hình thuôn trái
xoan, dài 6-12cm, rộng 3-6cm, phiến cứng, giòn, mặt trên bóng, mặt dưới sẫm
hơn, đầu và đuôi lá hơi lệch. Gân bên 8-10 đuôi. Cuống lá chét dài 0,5cm.
Hoa tự chùm hình viên thuỳ, thường dài hơn lá, hoàn toàn nhẵn. Hoa
màu trắng vàng nhạt, cuống lá bắc dạng vảy, cuống hoa dài 1,5-2cm.
Quả hạch hình trứng dài, dài 3,5-4,5cm, rộng 2-2,5cm, nhân 3 ô không
đều. Khi chín màu tím đen. Hình dáng lá cây con thay đổi nhiều, từ lá xẻ thuỳ
lên lá đơn, cuối cùng mới sinh lá kép như cây trưởng thành.
2.1.4. Đặc điểm sinh thái
Cây Trám phù hợp với hầu hết các loại đất có nguồn gốc đá mẹ khác
nhau, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, mùn còn khá, tầng đất dầy
trên 50cm, thoát nước và còn tính chất đất rừng. Độ pH thích hợp 4-5. Trong
tự nhiên Trám thường xuất hiện ở những nơi ven sông suối.
Cây Trám phù hợp với nhiệt độ trung bình năm 21 - 250, lượng mưa
bình quân năm 1500-2000mm.
Cây Trám là loài cây mọc nhanh, ưa sáng, mọc tốt khi xen kẽ với các
loài cây (Hu đay, Đom đóm...). Trong rừng tự nhiên thường chiếm ở tầng trên
nhưng trong giai đoạn 2 năm đầu cần phải che bóng, sau đó hoàn toàn ưa
sáng, là loài cây chịu nhiệt kém, thoát hơi nước mạnh.
Cây trồng 5 - 6 năm bắt đầu ra hoa, nếu trồng bằng cây ghép thì sau 3
năm có thể sẽ ra hoa. Cây ra hoa vào tháng 2- 3, quả chín vào tháng 9-10.
Trám là cây đa mục đích được chọn làm cây trồng trong các vườn rừng,
trại rừng và các khu rừng phòng hộ đầu nguồn. Là cây trồng bóng mát, vườn
rừng, nông lâm kết hợp, làm giàu rừng và phục hồi rừng tự nhiên. Nếu Trám
8
trồng làm giàu rừng trong các loại hình phục hồi rừng hoặc trong các vườn
rừng với số lượng 50 cây/ha sau 8-10 năm có thể thu hoạch 20-25kg
quả/cây/năm và 10- 15kg nhựa/cây/năm. Với thời giá hiện nay có thể cho
tổng thu nhập là 5 - 6,75 triệu đồng/ha/năm.
2.2. Cơ sở khoa học về cây ghép
Ngày nay nhân giống vô tính đang rất phát triển và được áp dụng nhiều
trong công tác nhân giống cây trồng nông lâm nghiệp. Ghép là một phương
pháp nhân giống vô tính, được thực hiện bằng sự kết hợp của một bộ phận của
của cây này với một bộ phận của cây khác, để tạo thành một tổ hợp ghép cùng
sinh trưởng và phát triển như một cây thống nhất. Khi ghép, một bộ phận của
cây giống (mắt ghép, cành ghép) được gắn vào gốc của cây khác (gốc ghép)
để tạo nên một cây mới mà vẫn giữ được đặc tính của cây lấy cành ghép ban
đầu. Do sự tiếp xúc chặt chẽ giữa tượng tầng của gốc ghép và cành ghép,
đồng thời có sự hoạt động và tái sinh của mô phân sinh tượng tầng làm cho
gốc ghép và cành ghép gắn liền với nhau. Cây ghép sẽ phát triển thành một
thể thống nhất.
* Cây ghép thường có những ưu điểm sau:
- Khả năng duy trì giống tốt: Những cây ăn quả được trồng từ hạt
thường không giữ được các đặc tính tốt của cây mẹ. Vì những cây trồng từ hạt
là những cây được nhân giống hữu tính, khi nở hoa, thụ phấn hay bị lai tạp.
Hạt của những quả bị lai tạp khi đem trồng sẽ mọc thành cây con với những
đặc tính khác xa dần cây mẹ, thậm trí có những cây bị thái hoá giống thì còn
cho năng xuất và chất lượng giảm. Ngược lại, cây ghép là kết quả của quá
loại cây không có khả năng hoặc khó ra rễ khi giâm cành.
2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ lâu trên thế giới, việc áp dụng các phương pháp nhân giống vô tính
cây trồng nói chung và cây lâm nghiệp nói riêng đã và đang được áp dụng
rộng rãi, đặc biệt là nhân giống cho các loài cây ăn quả. Đã có nhiều nhà khoa
học đi sâu vào nghiên cứu các phương pháp ghép cũng như thời vụ ghép, vị
trí lấy cành ghép thích hợp cho nhiều loài cây khác nhau. Điều đó đã góp
10
phần đáng kể vào việc tăng năng suất giống cây trồng, tạo ra nguồn giống có
chất lượng và độ tuổi đồng đều.
Có nhiều dẫn liệu cho thấy người Trung Quốc đã biết ghép cây từ hàng
ngàn năm trước công nguyên Aristote (384 - 322 TCN) đã nói về ghép trong
tác phẩm của mình. Thời kỳ phục hưng (1350 - 1600) người ta chú ý đến ứng
dụng thực tiễn của ghép. Nhiều loại cây được đưa vào Châu Âu và duy trì
bằng phương pháp ghép. Vào thế kỷ thứ XVI - XVII ghép được áp dụng rộng
rãi ở nước Anh trong nghề làm vườn và đã nhận thấy vai trò của lớp tượng
tầng tuy chưa rõ bản chất của nó. Đầu thế kỷ XVIII, Stephen Hales trong tác
phẩm nghiên cứu về “Tuần hoàn của nhựa” trong cây đã nhận thấy sự tồn tại
của phần giữa cây và vai trò của nó trong vận chuyển các chất từ rễ lên trên.
Cũng trong khoảng thời gian này, Duhamel đã nghiên cứu sự hình thành tổ
hợp ghép, sự vận chuyển của nhựa qua chỗ ghép. Năm 1821, Thourin đã mô
tả 119 phương pháp ghép và những biến đổi do ghép cây gây ra [dẫn theo 19].
Vào năm 1840 một người Pháp tên là Marier de Boissdyver ở vùng
rừng Phôngtennơblô đã ghép trên 10.000 cây Thông đen xuất xứ Korzica
(Pinus nigra sp. Lariciot) lên gốc ghép Thông đen non trẻ nhằm nhân rộng
xuất xứ số giá trị và để sản xuất hạt giống phục vụ trồng rừng.
công tới 98% (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [14].
Những nghiên cứu khác ở nhiều nước như: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn
Độ, Mỹ... đều cho thấy khi dùng giống Xoài địa phương làm gốc ghép cho
giống Xoài mới tuyển chọn và nhập nội từ nơi khác đến, bao giờ cũng có hiệu
quả hơn (Trần Như Ý và cs, 2000) [20].
Gốc ghép có ảnh hưởng đến khả năng chống chịu hạn, chịu úng, chịu
rét và chịu bệnh của cây ghép. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Cam Halim ghép
trên gốc Cam sần có khả năng chịu hạn cao hơn nhiều so với khi ghép trên
gốc cây Cam Ngọt. Cây Na Xiêm ghép trên gốc Bình Bát có khả năng chịu
úng tốt (Trần Như Ý và CS, 2000) [11].
Phương pháp ghép khác nhau cho tỷ lệ sống khác nhau, Banik (1991)
đã nghiên cứu về ghép cây Tếch ở Băng La Đét cho thấy: Ghép áp cành: Tỷ lệ
ii
LỜI CẢM ƠN
Thực tập có vai trò rất quan trọng đối với mỗi sinh viên sau khi thực
hiện một khóa học. Đây là thời gian để sinh viên làm quen cọ xát với những
công việc thực tế mà sau này mình ra trường sẽ tiếp xúc, đồng thời giúp cho
sinh viên hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào quá trình
nghiên cứu lám đề tài, giúp nâng cao phát huy khả năng tri thức sáng tạo của
bản thân nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường
và khao Lâm Nghiệp, em được về xã Hà Châu - Phú Bình - Thái Nguyên để
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn cây Trám đen ưu việt phục vụ cho
công tác nhân giống và cải tạo vườn tạp bằng cây ghép tại xã Hà Châu,
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
Qua thời gian tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá thực tế em đã hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp. Để đạt được kết quả này em xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn, cùng toàn thể
thông Ba lá (Pinus kesiya), thông Đuôi Ngựa (Pinus massoniana), ghép là một
biện pháp chủ yếu để tạo cây ghép có chất lượng cao xây dựng vườn giống
dòng vô tính như đã áp dụng ở viện Khoa học Lâm nghiệp, Công ty Lâm
nghiệp Trung ương và một số đơn vị khác, kỹ thuật ghép đã được hoàn chỉnh
trong nhiều năm nên tỷ lệ sống đạt khá cao, khoảng 70% cho thông Nhựa
(dẫn theo Lê Đình Khả, 1990) [12].
Tỷ lệ sống của mắt ghép, sinh trưởng của cây sau khi ghép phụ thuộc
vào điều kiện thời tiết và khí hậu của địa phương, đặc tính sinh lý của giống
loài cũng như đặc tính sinh lý, tình hình sinh trưởng của gốc ghép và cành
ghép. Khi nghiên cứu về thời vụ ghép, các nhà khoa học ở Viện Cây ăn quả
đã đưa ra kết luận: Ở các tỉnh phía Bắc có hai thời vụ ghép chính: Vụ Thu
Đông: Có thể bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 12. Vụ Xuân: Từ tháng 2 đến
tháng 4. Riêng đối với cây Hồng, Táo, Mơ, Mận có thể ghép từ tháng 7 (Trần
Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, 2000) [19].
14
Cây Điều (Anacardium occidentale) là loài cây lấy quả có giá trị, vì
nhân Điều là mặt hàng xuất khẩu mang lại thu nhập cao cho người nông dân.
Để phục vụ cho việc xây dựng vườn giống và đưa cây giống vào gây trồng.
Các tác giả đã áp dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật ghép khác nhau. Người
ta đã thử nghiệm lấy cành ghép của 174 cây mẹ để ghép cho 12.778 cây
(Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [14].
Bác Nguyễn Trần Cảnh (ở thôn La Khê, xã Văn Khê, TX Hà Đông,
tỉnh Hà Tây) đã dùng phương pháp ghép để tao ra hàng loạt cây Khế mini
nhưng đầy quả và ra vào dịp tết (Theo báo Nông nghiệp Việt Nam số ra ngày
30/06/2006) [3]. Tại xí nghiệp Giống cây lâm nghiệp vùng Đông Bắc (ở 246
Trần Quang Khải, TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn) đã ghép thành công cây Sấu.
Cây ghép chỉ sau 2 - 3 năm đã cho quả (Theo báo Nông nghiệp Việt Nam số
người dân chấp nhận. Ngoài ra các dự án trồng rừng của nước ngoài đang
thực hiện tại Việt Nam cũng chọn cây Trám làm đối tượng trồng chủ yếu,
điển hình là dự án trồng rừng của Đức hiện đang được thực hiện tại Thanh
Hóa và Nghệ An [4].
Kết quả thí nghiệm ghép Trám của Phạm Đình Tam và cs [17] cho thấy
Phương pháp ghép nêm và ghép áp đều cho kết quả khả quan, tỷ lệ sống ở
thời vụ thuận lợi có thể đạt trên 70%, trong đó phương pháp ghép áp cho kết
quả tốt nhất; về thời vụ ghép chỉ nên ghép vào vụ xuân (tháng 3) và vụ thu
(tháng 10), ghép vào thời kỳ này tỷ lệ sống có thể đạt tới 65-70%.
Theo Phạm Đình Tam [18], khi xây dựng mô hình trồng rừng lấy gỗ
trong 3 mô hình tại 3 địa điểm khác nhau thì Trám trắng ở Kỳ Sơn và Tân
Lạc, Hoà Bình tốt hơn ở Đại Lải- Vĩnh Phúc. Điều này một lần nữa khẳng
định Trám trắng không nên trồng ở nơi đất xấu, tầng đất mỏng, các chỉ tiêu
hoá tính đất ở mức dưới trung bình (Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 24-2001).
Phương thức trồng có cây cốt khí và keo phù trợ và trồng trong rạch đều cho
thấy sinh trưởng của Trám trắng khá tốt, trong đó công thức dùng cốt khí phù
trợ vẫn tốt nhất. Xây dựng mô hình trồng cây lấy quả: để tạo được rừng trám
lấy quả thì phương pháp trồng bằng cây ghép là phù hợp ở nơi đất tốt, điều
kiện chăm sóc đầy đủ cây trám ghép trồng sau 3 năm đã bắt đầu có quả.
16
Kết quả nghiên cứu trồng rừng trám trắng (Canarium album Raeusch)
làm nguyên liệu gỗ dán của Phạm Đình Tam (2004)[17], đã xác định được cơ
sở khoa học để đề xuất các giải pháp lâm sinh phù hợp gây trồng và phát triển
cây trám trắng. Đề xuất biện pháp kỹ thuật để trồng rừng trám trắng phục vụ
mục tiêu cung cấp gỗ cho công nghiệp gỗ dán. Xây dựng cơ sở khoa học cho
việc xây dựng quy trình, quy phạm trồng rừng trám trắng.
Kết quả nghiên cứu của Trần Đức Mạnh (2004-2007)[15] đã lựa chọn
cây Trám ghép lấy quả ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Thanh Hoá”
(Phạm Đình Tam, Trần Đức Mạnh, Phạm Đình Sâm - TT ứng dụng KHKT
lâm nghiệp). Dự án do chính phủ Hà Lan tài trợ và được thực hiện trong thời
gian 5 năm (2002 - 2007) tại 5 tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị. Dự án đã chọn đối tượng là cây Trám ghép và cây Ba kích
làm cây trồng xóa đói giảm nghèo cho người dân. Sau hơn hai năm triển khai
dự án đã thu được những kết quả ban đầu [22][23].
Trong những năm gần đây một số huyện của tỉnh Thái Nguyên như:
Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ... đã và đang tiến hành trồng cây Trám ghép.
Hiện cây đang sinh trưởng tốt và một số hộ, cây bắt đầu cho thu hoạch quả
với năng suất cao hơn Trám trồng hạt, bước đầu đáp ứng được yêu cầu trồng
rừng.
Huyện Lục Nam đã trồng được trên 20 ha Trám ghép tại hai xã
Trường Sơn và Lục Sơn và đang được trồng mở rộng trên diện tích rừng kinh
tế, dần thay thế những cây trồng kém hiệu quả (Bản tin, nông thôn đổi
mới)[24].
Ngoài ra, các nghiên cứu của Lương Thị Anh (2008) (2010) đã có các
nghiên cứu khá chi tiết phương pháp ghép và xây dựng quy trình ghép Trám
trắng tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Nghiên
cứu
của
Nguyễn
Thị
vào đối tượng cây Trám trắng, cây Trám đen nói chung và Trám đen tại xã Hà
Châu, huyện Phú Bình nói riêng các nghiên cứu còn ít ỏi và tản mạn, do vậy
chưa phát huy được thế mạnh của loài cây này tại khu vực nghiên cứu, vì vậy
đề tài được đề xuất thực hiện.
2.4. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên nhân lực
2.4.1. Đặc điểm tự nhiên:
- Vị trí địa lý.
Xã Hà Châu là 1 trong 21 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn huyện phú
Bình, là một xã nhỏ nằm sát con sông Cầu thuộc vùng trung du Bắc bộ ở phía
tây nam của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Phía đông giáp Đông Tân Huyện Hiệp Hòa của tỉnh Bắc Giang.
- Phía tây, phía Nam giáp xã Tiền Phong huyện Phổ Yên.
- Phía bắc giáp xã Nga My huyện Phú Bình.