Bước đầu nghiên cứu phương thức khai thác và sử dụng tài nguyên rừng của cộng đồng dân tộc vân kiều tại thôn tà lao, xã tà long thuộc khu bảo tồn thiên nhiên đakrong, tỉnh quảng trị - Pdf 43

Đại học Quốc gia Hà nội
Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trờng

Báo cáo tổng hợp
bớc đầu nghiên cứu phơng thức Khai thác và sử dụng tài nguyên
rừng của cộng đồng dân tộc vân kiều tại thôn Tà lao, xã tà long thuộc
vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng trị.

Mã số: 07.07
Đồng chủ trì : TS. Lê Thị Vân Huệ, CN. Lê Trọng Toán
Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trờng
Đại học Quốc gia Hà Nội

Hà Nội, 2007

1


Mở đầu
Hiện nay thế giới đang phải ủi mặt với những bin đổi hết sức phức tạp nh biến đổi khí hậu,
nhiệt độ trái đất đang nóng lên, mức nợc biển dâng lên, dân số tăng nhanh, các loài ngoại
lai xâm nhập ngày càng nhiều, các sinh cảnh ngày một bị co hẹp lại và phân cách nhau, tốc
độ mất các loài ngày càng gia tăng, ô nhiễm môi trờng ngày càng nghiêm trọng, sức ép của
công nghiệp hóa và thơng mại toàn cầu ngày càng lớn, sự cách biệt giàu nghèo trong từng
nớc và giữa các nớc ngày càng xa. Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hởng lớn đến
công cuộc phát triển của tất cả các nớc trên thế giới, trong ủú có Vit Nam.
Loài ngời đang phải đối mặt với thảm họa cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trờng
bị ô nhiễm, nhiều bệnh tật mới xuất hiện và phát triển, thiên tai ngày càng nặng nề, dân số
đang tăng nhanh, đã làm thay đổi các hệ sinh thái hết sức nhanh chóng trong khoảng 50
năm qua, nhanh hơn bất kỳ thời gian nào trớc đây. Diện tích đất hoang hóa đã đợc chuyển
đổi thành đất nông nghiệp chỉ tính từ năm 1945 đến nay đã lớn hơn cả hai thể kỷ 18 và thế kỷ

Trong khi tăng dân xố thờng đợc xem nh là nguyên nhân chính dẫn tới suy giảm diện tích
rừng trong một khoàng thời gian dài, thì các yếu tố định hớng việc suy giảm rừng nh chính
sách, phát triển kinh tế và du nhập công nghệ mới rất khó nhận biết. Một lý do đơn giản là
các yếu tố này thờng xuyên thay đổi. Thiếu các số liệu thực tế về diện tích rừng cũng nh
các số liệu cụ thể đã phần nào ngăn cản các nhà khoa học đa ra những kết luận cụ thể.
Từ những bất cập đó nghiên cứu dới đây nhằm mục đích tìm hiểu các góc khuất về việc khai
thác và quản lý tài nguyên trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, chúng tôi cũng hiểu rằng
nghiên cứu trên một phạm vi nhỏ sẽ không đủ sức thuyết phục cho một vùng địa lý rộng lớn,
nhng chúng tôi tin chắc rằng các số liệu qua nghiên cứu này sẽ đại diện đợc một phần nào
cho các tỉnh Miền Trung và giúp các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên
nhiên cũng nh các nhà hoạch định chính sách có một góc nhìn mới về phơng thức khai
thác và sử dụng tài nguyên của đồng bào dân tộc ít ngời ở vùng đệm của khu bảo tồn
Dakrông. Và chỉ khi đời sống của ngời dân ở khu vực này đợc cải thiện mới giảm đợc áp
lực lên tài nguyên và việc bảo tồn và quản lý tài nguyên mới đạt hiệu quả.
Điểm chúng tôi nghiên cứu là xã Tà Long huyện Đakrông một huyện Miền núi của tỉnh
Quảng Trị nằm dọc theo tuyến đờng Trờng Sơn - một phần quan trọng trong Vùng Sinh
thái Trờng Sơn (1 trong 200 vùng sinh thái quan trọng của Thế giới). Hiện nay, đời sống của
ngời dân còn nghèo , tỷ lệ đói nghèo cao, dân tộc Vân Kiều chiếm đa số, dân trí còn tơng
đối thấp, đời sống phụ thuộc nhiều vào khai thác lâm sản từ rừng. Trớc đây tài nguyên rừng
đợc khai thác bằng các phơng thức thủ công, nay do khoa học ngày càng tiên tiến nên
hiện tợng sử dụng công nghệ cao trong khai thác tài nguyên ngày càng phổ biến và do đó
nguồn tài nguyên suy thái ngày một nhanh chóng. Ngoài ra, áp lực từ bên ngoài de dọa lên
nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây ngày càng tăng kể từ khi đờng Trờng Sơn đi vào hoạt
động. Số vụ khai thác lâm sản phi pháp, săn bắt động vật hoang dã và xâm canh để sản
xuất nông nghiệp tại đây đang đe doạ nghiêm trọng đến đa dạng sinh học, mất cân bằng
sinh thái, hiện tợng lũ lụt, sạt lở xảy ra thờng xuyên nhất là về mùa ma. Do đó việc điều
tra và phân tích một cách cụ thể nhng điều bất cập trong bổi cảnh chung, dựa trên cơ sở đó
đa ra những giai pháp nhằm làm giảm bớt những áp lực nói trên là điều cần đợc quan tâm
và phải làm ngay.


triệu ha rừng tự nhiên đã đợc khai thác trong nửa thể kỷ qua tại Việt Nam, nhng phần lớn
các khoản lợi nhuận này lại thuộc về ngân khố quốc gia. Trong khi đó ngời dân nghèo
không thể tiếp cận đợc với nguồn gỗ này. Cũng có ý kiến cho rằng ngời dân địa phơng
hầu nh không liên quan đến việc khai thác gỗ theo quy mô thơng mại. Nhà nớc hay các
doanh nghiệp khai thác gỗ thờng cho rằng các cây gỗ to là tài sản của họ không phải của
ngời dân sống trong hoặc gần rừng, do vậy nguồn tài nguyên bị tổn thất nặng nề cho đến
khi cuộc kháng chiến chống pháp băt đầu nổ ra thì chính phủ đã ra lệnh cấm các hoạt động
thơng mại về vật phẩm từ rừng nhằm tích trữ cho chiến tranh và từ đó nhiều dân tộc thiếu số

4


phải chịu tổn thất nghiêm trọng từ sự ngăn cấm này (Nguyễn Văn Đẳng, 2001).
Ngoài hai vấn đề trên thì việc khai thác ủỏnh bt đng vật hoang dã cũng đã tác động đến đa
dạng sinh học và hệ sinh thái một cách nghiêm trọng. Theo Peter Bille Larsen và Trần Chí
Trung trong Kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên và xóa đói giảm nghèo: các khía cạnh xã hội
trong chính sách buôn bán động thực vật hoang dã ở việt nam đã cho rằng buôn bán động,
thực vật hoang dã là một trong những nguyên nhân chính đe dọa tới đa dạng sinh học. Nó
bao gồm các hoạt động về sinh kế và liên quan chặt chẽ tới động lực về kinh tế xã hội. Một
trong những phơng thức gây mất cân bằng trong hệ sinh thái và làm cho một lợng tài
nguyên suy giảm mạnh từ hoạt động này.
Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những cải cách kinh tế trong thời kỳ đổi mới, tuy mang lại
nhiều cơ hội kinh tế, nhng không phải cho toàn thể cộng đồng. Theo Lê (2004) những thay
đổi nhanh chóng trong việc giao quyền thuê đất cho t nhân ở vùng ven biển và luật hóa
doanh nghiệp t nhân khai thác những tài nguyên này, và các thể chế về tài nguyên rừng
ngập mặn và thủy sản khác đã tớc mất sinh kế của nhiều hộ nghèo. Việc chuyển đổi sang
cơ chế t nhân hoá không nhất thiết làm tăng tính bền vững. Trên thực tế, thị trờng đã
khuyến khích ngời dân khai thác nhiều tài nguyên hơn và một nhóm dân c đã sử dụng các
công cụ đánh bắt hủy diệt. Điều này gây hại cho các bãi đẻ trứng và nuôi dỡng các loài sinh
vật ở cửa sông ven biển, và làm suy giảm sản lợng đánh bắt của ngời dân có sinh kế và


Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
1. Phơng pháp luận:
Theo phơng pháp phân tích hệ thống nguồn tài nguyên rừng đợc xem nh một nhân tố
nằm trong một hệ thống sinh thái nhân văn chi phối bởi 3 mặt của sự phát triển: Tăng trởng
kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trờng trong tất các các nhân tố cấu tạo nên một hệ
thống trong đó gồm các nhân tố nh điều kiện xã hội, điều kiện tự nhiên, cở sở hạ tầng, dân
số, nghèo đói, học vấn, văn hoá truyền thống, ảnh hởng qua lại lẫn nhau, tác động lên quá
trình phát triển kinh tế, xã hội và môi trờng mà trong đó bất cứ một tác động xấu nào cũng
gây nên hiệu quả tiêu cực đến các nhân tố khác, hoặc ngợc lại, bất cứ nhân tố nào phát
triển cũng có tác động tích cực lên tất cả các nhân tố khác. Đây là những thông tin đợc tự
khuyếch đại trong hệ thống thông tin phản hồi. Một hệ thống nh vậy sẽ vận hành theo
đờng phát triển xoẳn ốc có thể thay đổi đi lên (hình xoắn ốc tốt) hoặc đi xuống (đờng
xoắn ốc xấu), phụ thuộc và sự cân bằng tiêu cực hay tích cực của bản thân những yếu tố
mà tác động qua lại của các yếu tố với nhau (Lê Trọng Cúc, 2007)
Những điều nêu trên về ba nhân tố, môi trờng là điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát
triển bền vững về môi trờng của xã hội. Thiếu một trong cả ba điều kiện thì môi trờng sẽ
đứng trớc nguy cơ không bền vững. Cũng nh vậy, sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
toàn cầu, của một quốc gia, một địa phơng, hay một cộng đồng chỉ có thể bền vững nếu
đồng thời đáp ứng cả ba yêu cầu: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về
môi trờng. Sự thiếu bền vững về một mặt sẽ phá vỡ tính bền vững của tổng thể.
Nh một thành phần của thế giới tự nhiên, con ngời luôn tác động tới hoặc biến đổi hệ sinh
thái bằng nhiều cách khác nhau để tận dụng những sản phẩm và dịch vụ do hệ sinh thái
mang lạị. Phát triển bền vững nhằm đạt đợc sự hài hòa giữa lợi ích thu đợc từ tài nguyên
thiên nhiên của các thành phần và quá trình của Hệ sinh thái trong khi vẫn duy trì đợc khả
năng của hệ sinh thái để cung cấp đợc những lợi ích đó ở mức độ bền vững. Hoạt động của
con ngời trong xã hội nên đợc coi là trung tâm của quản lý dựa trên hệ sinh thái (ecoystem
- based management), thông qua (i) điều chỉnh điều kiện hoá học, (ii) điều tiết thông số vật
lý, (iii) thay đổi mối tơng tác sinh học, (iv) kiểm soát việc sử dụng sản phẩm sinh học, và (v)


từ giai đoạn đầu-giai đoạn hoạch định các chính sách phát triển.
Từ năm 1992 đến nay, những chính sách vĩ mô về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đã
đợc bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với những đờng lối đổi mới góp phần tích cực đẩy
mạnh quá trình hội nhập quốc tế. Hàng loạt các chính sách đã nhanh chóng đợc thể chế
hoá, bớc đầu tạo môi trờng pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu t, các loại hình doanh
nghiệp. Các thể chế, chính sách đảm bảo tính bền vững cho sự phát triển của Việt Nam đã
phát huy tác dụng, làm cho quá trình phát triển kinh tế diễn ra nhanh, tốc độ tăng trởng cao,

7


thời gian duy trì tăng trởng kéo dài, đồng bộ với sự phát triển bền vững vì môi trờng, dấu
hiệu suy thoái môi trờng, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên bớc đầu đợc ngăn chặn. Nguyên
lý không phải sản xuất ít đi để đảm bảo bền vững, mà sản xuất khác đi để vừa đảm bảo tăng
trởng, vừa đảm bảo tính bền vững của phát triển đã đợc kiểm nghiệm thực tế.
Có thể dẫn ra đây một số dẫn chứng về tác động của chính sách vĩ mô đối với phát triển kinh
tế - xã hội đến môi trờng: những thay đổi về diện tích che phủ rừng rất nhạy cảm với thay
đổi chính sách đợc chứng minh qua sự phát triển diện tích phủ rừng sau khi giảm bớt các
hoạt động khai thác gỗ ở các lâm trờng quốc doanh từ năm 1997 và tác động của chơng
trình 327 và 661. Rõ ràng, ảnh hởng của các chính sách vĩ mô đến những vấn đề môi
trờng là rất to lớn, giảm sức ép đáng kể lên các nguồn tài nguyên và cải thiện đáng kể chất
lợng môi trờng, đặc biệt là môi trờng rừng.

2. Phơng pháp nghiên cứu

a. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu đợc lựa chọn là cộng đồng ngời dân tộc bản địa sống ở vùng đệm
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đa-Krông, Quảng Trị. Thôn Tà Lao, xã Tà Long là thôn gần tuyệt
đối thuần nhất ngời Vân Kiều, có cuộc sống gắn bó với núi rừng từ rất lâu đời, và có các nét
văn hoá, phong tục tập quán riêng biệt, có phơng thức canh tác nơng rẫy rất phố biến.

Phỏng vấn sâu các thông tin viên chủ chốt nh trởng bản, hội trởng phụ nữ, bí th đoàn
thanh niên, công an viên thôn, lâm tặc , khách tạm trú tại thôn, nhằm mục đích hiểu sâu hơn
về vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên dới các khía cạnh của các nhóm thông tin.
PRA các nhóm mục tiêu: nhóm những ngời khai thác gỗ, nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo,
nhóm phụ nữ và nam giới, dùng phơng pháp này để phân loại các nhóm hộ: khá, trung bình,
và nghèo theo tiêu chí của ngời dân địa phơng. Phơng pháp này cũng nhằm giúp đề tài
đánh giá đợc những đối tợng nào là hay khai thác tài nguyên nhất và nguồn thu nhập
chính của họ là từ đâu, và sự phân công lao động trong việc khai thác và sử dụng này.

Kết quả và thảo luận
A. Điều kiện tự nhiện
1.Vị trí địa lý
Xã Tà Long là xã miền núi nằm cách thị trấn Krông Klang - Trung tâm huyện Đkrông là 30
km về phía Tây Nam, phía Bắc giáp xã Ba Lòng, Triệu Nguyên, Mò ó. Phía Nam giáp xã A
Vao, Húc Nghì, phái Đông giám xã Hải Phúc, phía Tây giáp xã Ba Nang và nớc CHDCND
Lào.
Đặc điểm về lợi thế làm nằm trên trục chính đờng mòn HCM một giao thông huyết mạch
của huyện Đakrông nói riêng và tỉnh Quảng trị nói chung. Vì vậy, rất thuật tiện cho việc giao
lu phát triển kinh tế xã hội với các vùng lân cận khác. đặc biệt là rất thuận tiện cho việc
buôn bán các loại lâm sản và động vật hoang dã đợc khai thác từ lào về. Nhìn sơ đồ sau:

9


Hình: 1 Bản đồ Vị trí của điểm nghiên cứu

2. Điều kiện khí hậu:
Điều kiện khí hậu và thời tiết, xã Tà Long chịu ảnh hởng của khí hậu Tây Trờng Sơn, thể
hiện rõ tính chất nhiệt đới nóng ẩm với nền nhiện độ cao.
Nhiệt độ trung bình hàng năm 25,3 oC, nhiệt độ cao nhất trung bình 28 oC vào tháng t và

Mục đích sử

Tổng diện

Đất nông

Đất phi nông

Đất cha sử

dụng

tích

nghiệp

nghiệp

dụng

Diện tích

18615,71

11195,13

238,85

7181,73



10664,5

2,7

4,7

95.276

0,024

Tỷ lệ %

thuỷ sản

Nguồn: Tài liệu thống kê của xã Tà Long
Xã Tà Long là một xã thuần nông, thu nhập chủ yếu của ngời dân ở đây là sản xuất nông
nghiệp nhng diện tích nông nghiệp chiểm tỷ lệ nhỏ so với diện tích tự nhiên, Tổng diện tích

11


nông nghiệp là 527,93 chiểm 2,59% trong sản xuất nông thì ngành trồng trọt là quan trọng
nhất chú yếu là trồng cấy lúa nớc và lúa rẫy, chiếm tỷ lệ cao trong có cấu giá trị sản xuất
ngành nông nghiệp.

2. dân số
Theo thống kê của xã thì tổng dân số toàn xã cho đến nay là 582 hộ và có 2537 khẩu hầu
hết là dân tộc Vân Kiều chiếm 85% trên toàn xã. trong đó thôn tà Lao là 56 hộ, 272 khẩu
chiếm 8,8% so với toàn xã. Trong toàn xã có 1324 ngời trong độ tuổi lao động chiếm


tiền, thiếu ăn thì buộc họ phải vào rừng để đào củ mài, săn bắn, hoặc khai thác các lâm sản
để kiếm sống qua ngày và dẫn đến tài nguyên rừng suy giảm.

4. Giáo dục và đào tạo:
Nhìn chung về giáo dục và đào tạo tại toàn xã nói chung tại thôn Tà Lao nói riêng là rất thấp
hầu nh là mù chữ, tỷ lệ mù chữ tại thôn chiếm rất cao, hầu nh phần lớn là phụ nữ thất học,
vì trên địa bàn của xã duy nhất chỉ có một trờng phố thông cơ sở nằm trên địa bàn thôn Pa
Hy, cũng có nhiều lý do khác nữa nhng chủ yếu là họ không quan tâm mấy đến chuyện học
hành, riêng phụ nữ thì họ chi biết lớn lên là đi làm rẫy, lấy chồng và sinh con, phọng tục của
họ là phụ nữ lấy chồng rất sớm do đó cơ hội để họ học hành là không có, đây cũng là một
bất cập cho việc bảo vệ môi trờng và khai thác tài nguyên, vì trình độ hiểu biết của ngời
dân ở đây là rất thấp, cụ thể khi hỏi họ về tài nguyên rừng có quan trọng nh thế nào đối với
ngời dân thì hầu nh ngời dân ở đây trả lời là không biết, chỉ một ít số ngời có tham gia
vào việc xã hội nh làm cán bộ đoàn thanh nhiên hoặc là cán bộ phụ nữ mới biết trả lời là tài
nguyên rừng có vai trò quan trọng trong việc giữ nguồn nớc, cản gió bão chứ họ không biết
nguyên nhân là vì sao. điều đó có nghĩa là sự hiểu biết của ngời dân ở đây rất sơ sài cần
phải có biện pháp nâng cao sự hiểu biết về tầm quan trọng của tài nguyên rừng đến đời sống
của ngời dân là hết sức to lớn, đây là một vấn đề lớn cần có một chính sách đồng bộ từ
Trung Ương tới ngời dân mới hy vọng bảo vệ đợc nguồn tài nguyên quý giá và phát triển
kinh tế cho những nhóm ngời dân tộc thiếu số vùng sâu vùng xa này nh ở Tà Long Long là
Một ví dụ.

5. Giao thông:
Xã Tà Long có một con đờng duy nhất là đờng Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14) nằm trên địa bàn
có chiều dài 19 km từ km 10 đến km 29 là đờng nhựa mặt rộng 8 mét có chất lợng tốt.
Riêng đờng đi vào thôn Tà lao thì chỉ có một đờng cấp phối duy nhất có chiều dài 5 km có
chia cắt bới một con suối. Nếu muốn đi vào thôn thì đều phải đi qua con suối này, điều này
gây không ít khó khăn cho ngời dân ở đây về cơ hội hiểu biết các thông tin ở bên ngoài, đến
nay thì nhờ có dự án 135 giúp đỡ và xây dựng đợc cây cầu qua con suối này gọi là cầu Tà


Tổng diện tích tự nhiên

17933.5 18615.51 18615.5 18615.51 18615.5

Diện tích có rừng
Rừng tự nhiên
Rừng trồng
Đất không rừng quy hoạch cho Lâm
nghiệp

10138.9
9973.8
165.1
7321.7

10138.9 10556.2
9973.8 10391.1
165.1
165.1
7321.7
6904.4

11346.7 11654,7
11181.6 11358.7
165.1
296,4
5927.2
5540.5


nguồn tài nguyên này đang có xu hớng giảm sút rõ rệt và nghiêm trọng. Do vậy cần có biện
pháp bảo vệ chặt chẽ và xử phạt nghiêm những kẻ cố tình xâm phạm nguồn tài nguyên quý
giá này

14


7. văn hoá truyền thống

a. Một số nét Văn hoá của cộng đồng dân tộc Bru-Vân Kiều
Về cơ bản họ là cộng đồng sinh sống chủ yếu bằng trồng trọt nơng rẫy, săn bắt và hái
lợm. Một vài nơi họ có làm ruộng nớc, nhng số này rất ít, hầu nh không đáng kể. Hiện tại
họ vẫn đang trong tình trạng quảng canh, bán định canh. Phơng pháp canh tác chủ yếu của
họ vẫn là: phát - đốt - chọc lỗ tra hạt, với các công cụ thô sơ cổ truyền nh dao phát (pơpia),
rìu (a chặt), gậy chọc lỗ (roa), v.v..
Chăn nuôi và thủ công gia đình cha phát triển, vì thế mà hoạt động kinh tế mang tính chiếm
đoạt tự nhiên của họ là một bộ phận quan trọng, nó có vai trò hỗ trợ đắc lực cho trồng trọt.
Rừng núi không những chỉ cung cấp cho họ thực phẩm mà còn giải quyết phần lớn nhu cầu
rau xanh, thuốc chữa bệnh, củi đốt, và các loại bột thay gạo, ngô, khoai, sắn, v.v... ăn trong
những khi đói kém.
Hiện nay tuy tình trạng quảng canh đã giảm đợc phần nào đó, cơ cấu cây trồng đã đa dạng
hơn đôi chút, chăn nuôi đã đợc chú ý hỗ trợ, v.v. nhng tất cả cũng chỉ mới là bắt đầu, hiệu
quả kinh tế cha là bao. Lao động sản xuất của cộng đồng Bru - Vân Kiều vẫn trong tình
trạng rất giản đơn và hoàn toàn mang ý nghĩa kiếm cái để ăn. Tình trạng đói nghèo vẫn
thờng trực trong 70-90% số hộ ngời Bru - Vân Kiều ở khu vực này. (Khổng Diễn: 2003)

b. Văn hoá vật chất
Làng (palu) của ngời Bru - Vân Kiều thờng có vài ba chục nóc nhà, đợc thành lập trên
sờn dốc, bên cạnh những con suối hoặc khe nớc. làng có ranh giới, có nghĩa địa riêng,
nguồn nớc sinh hoạt và sản xuất riêng. Trong làng các ngôi nhà ở thờng quay mặt về ngôi

thác, phát huy hợp lý.
Ngời Vân Kiều có những phong tục tập quán lâu đời nhằm giữ gìn một số vùng đất quan
trọng cho thôn bản. Những tập quán này góp phần giữ gìn các vùng đất đầu nguồn nớc, hay
những nơi rừng tốt khỏi việc khai thác một cách bừa bãi. Ví dụ, các bản Vân Kiều đều có các
khu rừng cấm đợc gọi là cà nịa. Rừng này do trởng bản hay già làng quản lý nhằm giữ
gìn để yên ổn làm ăn. Tại các cà nịa ngời dân bản chỉ có thể vào chứ không đợc động
chạm vào cây rừng vì họ quan niệm rằng trong cây đa (tiếng địa phơng là suri) có thần hay
cây xoài rừng có Ma lai, nếu chạm phải sẽ bị đau. Các sản phẩm hoa quả trong đó ai thấy có
thể hái ăn tại chỗ chứ không đợc mang về.

c. Rừng Ma:
Mỗi thôn tuỳ dân c nhiều hay ít mà chọn 1 đến 2 khu rừng để làm nghĩa địa chôn cất
ngời chết, việc chôn cất của ngời Vân Kiều hết sức sơ xài khi ngời nhà mất họ sẽ đem
vào rừng ma và chôn ngay lập tức và coi nh là xong từ đó về sau không bao giờ quay lại. Do
những ý nghĩ về sợ ma bắt, nỗi sợ hãi này khiến cho họ không giám quay lại và thậm chí
cũng không biết nơi chôn cất ngời quá cố. Khu rừng này đợc chọn không gần mà cũng
không quá xa nơi sinh sống, diện tích vào khoảng 5 - 7 ha và có thể chọn những khu rừng tự
nhiên có diện tích lên đến 10 -15 ha. Do đó họ không cho ngời ngoài biết rõ vị trí rừng ma
này, chỉ có những ngời trong thôn mới đợc biết. Đây cũng là một hình thức quảng lý tài

16


nguyên tốt nếu chúng ta biết các giữ gìn và bào tồn bản sắc văn hoá này áp dụng trong việc
quảng lý tài nguyên rừng là một đáng đợc ghi nhận.

d. Các quy định ngời Vân Kiều trong việc quản lý tài nguyên rừng
Ngời Vân Kiều quản lý các kiểu rừng ma này với các quy định: Không đợc ai vi phạm từ
chặt một cây con đến một cây gỗ trong rừng ma, nếu vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định
của thôn. Ngời xử là già làng, mức xử tuỳ theo nặng nhẹ, nhẹ là một chai rợu và một con

Do đặc điểm của phơng thức canh tác này ngày càng xa nơi ở, ngời sản xuất buộc phải di
chuyển theo để đến địa điểm gần canh tác nh vậy canh tác theo lối du canh hậu quả dẫn tới
du c.
Canh tác theo phơng thức du canh vẫn còn tồn tại ở một số nhóm đồng bào dân tộc ít ngời
ở các tỉnh miền núi phía bắc nớc ta nơi có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất. Mà hậu quả của
phơng thức canh tác du canh này là đời sống của ngời dân ngày càng khó khăn. diện tích
rừng ngày càng bị giảm và để lại vùng đất trống đồi núi trọc ngày càng lớn. Do vậy chính phủ
và nhà nớc đã kiên quyết can thiệp và đẩy mạnh công tác quản lý đất lâm nghiệp cụ thể
theo nghị quyết của trung ơng về giao đất giao rừng. Đến năm 1993 thì chính sách đất đai
đợc áp dụng do vậy mà ngời dân chỉ đợc luân canh trên một vùng đất nhất định là 5 ha
do vậy chu kỳ bỏ hóa giảm dẫn đến đất xấu. Mặt khác do trình độ dân trí ở những vùng dân
tộc miền núi đang rất thấp nên cha áp dụng đợc kỹ thuật tiên tiến mà vẫn theo hình thức
canh tác cũ nên không cho năng suất cây trồng và dẫn đến sự nghèo đói gia tăng. Do vậy
ngời dân phải dựa vào tài nguyên rừng và hậu quả là nguồn tài nguyên tại đây cạn kiệt. Còn
ngời dân Vân Kiều ở xã Tà Long thì mặc dù đã biết phát triển về lúa nớc vào những năm
rất sớm kể từ năm 1975 sau ngày giải phóng Miền Nam. Nhng tỷ lệ canh tác nơng rẫy của
thôn Tà Lao vẫn đang là một vấn đề đáng để lu tâm. mặc dù nhà nớc đang nỗ lực định
canh định c để ổn định cuộc sống của họ đồng thời nhằm mục đích giảm bớt áp lực lên tài
nguyên rừng do các hoạt động đốt nơng làm rẫy, nhng trên thực tế mực dù đã hạn chế
đợc việc du canh du c nhng còn việc hạn chế đốt nơng làm rẫy thì không hề giảm, theo
số liệu của đợi điều tra thực địa vào tháng 11/ 2007 chúng tôi thấy diện tích đất nơng rẫy tại
thôn này chiếm khá cao 35.5% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Điều này có thể thấy
đợc ở thôn Tà Lao là ngời dân ở đây vẫn muốn canh tác theo phong trục truyền thống
không muốn thay đổi sang các phơng thức canh tác khác nh canh tác lúa nớc mặc dù
cũng có một số hộ đã cho họ thấy đợc về mặt kinh tế là đang khích lệ cụ thể nhng nhà anh
Lê Xuân Hải là ngời vào đầu tiên và khai hoang nhiều ruộng lúa nhất bây giờ nhà anh ấy có
tới 5 mẫu ruộng, gia đình anh này thuộc gia đình khá giá nhất nhì trong thôn. Vấn đề đặt ra ơ
đây là tại sao những ngời khác không làm theo nh anh Hai? Mà mọi ngời vẫn làm theo
phơng thức canh tác cũ đến khi chúng tôi có điều kiện tiếp xúc với vợ của anh Hải chúng tôi
mới biết rằng để có 5 mẫu ruộng này anh ta phải bỏ ra bao nhiêu công sức và tìên bạc để

Bảng: Tình hình vi phạm về khai thác lâm sản trên phạm vi Huyện Đakrong tỉnh Quảng trị

Hng Mc

Thi gian
VT

1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

Cháy rừng

vụ

2

0

0

0

1

1

1

0

4


221

240 106

41

91

136

60

65

33

38

Vi phạm ĐVHD

vụ

0

0

0

0


0

0

0

Vi Phạm khác

vụ

32

0

69

124

96

87

84

61

50

56

là do sự tác động của những ngời ở đồng bằng lên giao lu buôn bán, những hoạt động này
đợc chúng tôi đã phát hiện ra tại những ngời dân tại thôn Tà Lao qua phóng vấn thực địa
và họ cho biết họ là những nạn nhân của những ngời buôn bán là những ngời đồng bằng
hay những ngời Kinh lên làm. Những ngời này đã lợi dụng những ngời dân bản địa thiếu
hiểu biết, thiếu thông tin, do vậy những ngời đồng bằng đã mang nhiều sản vật mang đến
đổi lấy gỗ mục đích của hộ là dùng ngời dân để khai thác gỗ cho họ, họ mang các sản vật
nh tôn, tấm lợp proximăng vào đem bán cho ngời dân ở đây để lợp nhà với giá rất đắt đỏ,
giá trị của các sản vật này thờng đắt gấp đôi thậm chỉ là gấp ba khi đến đợc với ngời dân.
Nhng vì ngời dân không đủ điều kiện để tự đi mua, tự vận chuyển nên đành phải chịu sự
ép giá này, nhng ngời dân ở đây đã không thể làm khác đợc vì đây là sinh kế duy nhất
của ngời dân vùng này, vì vậy ngời dân miền xuôi đã tận dụng một cách triệt để điểm yếu
này nhằm mang lại lợi nhất cho họ, thậm chỉ họ còn trang bị thiết bị hiện đại nh ca máy và
thuê ngời dân ở đây đi khai thác gỗ cho họ, một điều hiển nhiên là ngời miền xuôi đã biến
ngời dân ở thành ngời làm thuê cho họ và đợc trả một khoản tiền rẻ mạt. Theo điều tra
của chúng tôi đã cho thấy mỗi lần đi lấy gỗ, hoặc vác gỗ thì họ thu đợc một khoản tiền là
30.000 đồng cho mỗi lần đi làm mà mỗi lần dùng cả trâu nữa thì kéo đợc 3-4 tấc gỗ tơng
đơng 0,3-0,4 m3. các vụ vi phạm này đợc giảm dần cho đến nay vì lý do là rừng đã cạn kiệt
thêm nữa lại có các dự án nh dự án ADB về phát triển giảm nghèo đã trợ giúp cho ngời
dân ở đây có một con đờng đi qua thôn đợc tốt hơn vì vậy có điều kiện để cho xe cơ giới
đợc vào thuận tiện hơn, điều này giúp cho cho các nhà lái buôn càng thuận tiện hơn trong
việc thu mua các loại gỗ. Mặt khác nhìn vào bảng thì ta thấy các vụ vi phạm phần lớn là do
mua bán và vận chuyển, nh vậy ta có thể khẳng định rằng áp lực tài nguyên ở vùng này là
do ngời ở ngoài vào mua bán vận chuyển theo phơng thức đổi sản vật lấy lâm sản là có cơ
sở

20


c. Tình hình khai thác lâm sản ngoài gỗ
Các lâm sản ngoài gỗ rất quan trọng đối với sinh kế của ngời dân vùng núi, nh sử dụng củi

sản phẩm tiêu dùng và chuyển đến ngời tiêu dùng hoặc xuất khẩu ra nớc ngoài cụ thể
sang Châu Âu và Trung Quốc.
Đấy mới chỉ là hoạt động khai thác cây mây còn việc khai thác lâm sản ngoài gỗ còn nhiều
loại khác nữa nh khai thác lá cọ, rễ hoàng đằng, than, vỏ bời lời v.v..(theo bảng phụ lục 1,2)
và sự khai thác tài nguyên lâm sản này thờng đợc khai thác tuỳ theo từng mùa trong năm
(xem bảng phụ lục 3) nguồn thu nhập qua hoạt động này từ 8 trăm -1 triệu đồng, nếu chúng
ta biết khai thác lợng tài nguyên này có hệ thống và chọn lọc nhng trên thực tế đã nảy sinh
ra nhiều mặt trái của vấn đề không những giúp cho ngời dân tại đây đợc cuộc sống ổn
định mà làm cho lợng tài nguyên mây này ngày càng cạn kiệt một cách nhanh chóng. Qua
đợt thực địa vào tháng 11 năm 2007 chúng tôi đợc biết qua một số ngời dân chuyên thu
mua mây kể lại rằng cách đây khoảng 4-5 năm những ngời thu mua này gom mây chỉ trong

22


vòng từ 10-15 ngày là có thể thu đợc một xe mây khoảng 12 tấn nhng đến nay thi phải thu
gom từ 1 2 tháng mới đợc một xe 12 tấn điều này chứng tỏ rằng lợng tài nguyên mây này
đã giảm đi 1/3 so với cánh đây 5 năm và xu hớng ngày càng giảm hơn nữa. đến bây giờ thì
hoạt động khai thác mây đã lan sang nớc bạn lào vì nguồn tài nguyên tại đây đã bị cạn kiệt
một cách nghiêm trọng.

d. Săn bắt động vật hoang dã
Từ thời xã xa loài ngời nguyên thuỷ đã biết săn bắt các động vật để làm thức ăn nuôi sống
con ngời cho đến ngày nay các loài động vật hoang dã đã trở thành những món ăn đặc sản
cho các chủ nhà hàng ở thành phố và đô thị để kiểm lời đã làm quần thể các loài động vật
hoang dã ngày càng giảm sút.
Ngày nay việc săn bắn các loài nh nai, lợn rừng, nhím, rắn và thú ăn thịt nhỏ vì mục đích
buôn bán thực phẩm tiêu thụ tại các nhà hàng đặc sản thay vì mục đích tự cung tự cấp trớc
đây do ảnh hởng của giá cả thị trờng tăng cao, nhu cầu của các tầng lớp trung lu ở các
thị trấn huyện và đô thị lớn nh Vinh, Hà Nội. Các cán bộ nhà nớc chiếm tỷ lệ lớn trong số

kiểm tra kiểm soát hành vi săn bắt động vật hoang dã đợc phát hiện và xử lý: Năm 2003: Số
vụ vi phạm về vận chuyển buôn bán động vật hoang dã là 3 vụ. Khối lợng là 45,5kg, Năm
2004, số vụ vi phạm về vận chuyển trái phép động vật hoang dã là 2 vụ. Sản phẩm động vật
hoang dã tịch thu và xử lý là: Động vật rừng tính theo trọng lợng: 09kg, Sản phẩm động vật
rừng tính theo trọng lợng: 33kg, 6 tháng đầu năm 2005: số vụ vi phạm không có, đến năm
2006 thi số vụ vi phạm tăng lên 20 vô và thu đợc 361 kg. (theo thống kê của chi cục kiểm
Lâm huyện Đakrong)
Khi nghiên cứu tiến hành phỏng vấn các hộ là họ có hành nghề săn bắt động hoang dã ở
rừng thì họ trả lời là không, nhng thực tế ở các thôn Tà Lao phần lớn các hộ đều có sẵn bẫy
để trong nhà. Họ nói là dùng bẩy để bảo vệ rẫy của họ? Mỗi hộ bình quân có 50 bẫy, hộ có
số bẫy nhiều nhất là 150 bẫy.
ở đây hoạt động săn bắt động vật rừng vẫn đợc coi là một tập tục, một thói quen cố hữu,
nguồn động viên cho ngời dân chăm đi nơng rẫy. Đây là áp lực lớn đe doạ đến việc bảo vệ
nguồn tài nguyên động vật hoang dã ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, việc xoá bỏ đợc
tập tục đối với bà con ngời dân tộc cha thể làm đợc ngày một ngày hai mà đòi hỏi cả một
quá trình giáo dục lâu dài kể cả vận dụng các biện pháp xử lý cứng rắn mới mong hạn chế
đợc.

9. Tác động của đờng mòn HCM
Tuyến đờng mòn Hồ Chí Minh là tuyến đờng gia thông huyết mạch và chạy dọc theo
Trung tâm Xã Tà Long do vậy đây là một tuyến đờng rất thuận lợi cho việc giao thơng với
các tỉnh bạn trong việc phát triển kinh tế tại địa phơng. con đờng này bắt đầu có từ năm
1976 cho đến năm 2003 thi đợc tu sửa lại thành quốc lộ chính đi qua xã, theo điều tra của
nhóm nghiên cứu thì từ khi có còn đờng này ngời ngoài (hay nói theo tiếng địa phơng là
dân đồng bằng) vào khai thác các loại lâm sản tăng lên rõ rệt. Trớc đây khi đờng mòn Hồ
Chí Minh cha đợc tu sửa và nâng cấp thì việc khai thác tài nguyên rừng của họ phần lớn là
dựa vào phơng thức khai thác thủ công và mục đích của họ là đề làm nhà vì nhà của ngời

24


kinh doanh t nhân, theo luật định, là bất hợp pháp và đợc Nhà nớc quản lý tơng đối
nghiêm ngặt. Thay vào đó, nhà nớc độc quyền tất cả các hoạt động của ba lĩnh vực kinh tế
này. Trong lĩnh vực sản xuất, đầu vào và đầu ra của tất cả các loại hàng hóa, từ hàng hóa
công nghiệp đến đồ tiêu dùng hàng ngày đợc quản lý bởi hệ thống đinh mức, trong đó
các nhà máy, xí nghiệp, và hợp tác xã đợc cung cấp một số lợng nguyên vật liệu nhất định
để sản xuất, và sản phẩm không đợc sản xuất quá số lợng cho phép. Các sản phẩm sau
đó đợc phân phối thông qua hệ thống tem phiếu. Mỗi một công dân đợc phân phát một số

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status