l
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
HỒ THỊ THU
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA
CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ QUỲNH VĂN,
HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
(THÍ ĐIỂM TẠI THÔN 16)
HÀ NỘI, 2017
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
HỒ THỊ THU
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA
CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ QUỲNH VĂN,
HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo trong
khoa Môi trường - trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, các bác, các
cô chú, các anh chị tại UBND xã Quỳnh Văn và thôn 16 cùng bố mẹ và bạn bè.
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến các thầy cô
giáo Khoa Môi trường và đặc biệt là cô giáo Th.S Nguyễn Thị Linh Giang – Giáo
viên hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
đồ án tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo và cán bộ môi trường tại Ủy
ban nhân dân xã Quỳnh Văn cùng Bác trưởng thôn 16, các bác tổ trưởng tổ dân cư
và các cô trong hội phụ nữ thôn 16 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ, động viên
và quan tâm trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Trong quá trình thực hiện, do điều kiện về thời gian, tài chính và trình độ
nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏi những
thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy
cô giáo và các bạn để Đồ án tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Hồ Thị Thu
4
MỤC LỤC
Thông tư
Thông tư liên tịch
Trung ương
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU
6
DANH MỤC HÌNH ẢNH
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội càng ngày càng phát triển, cùng theo đó là hàng loạt các vấn đề cần
giải quyết. Hiện nay vấn đề làm sao để bảo vệ môi trường được xem như là những
thách thức, bài toán khó cho các nhà quản lý không chỉ ở nước ta mà còn gây khó
khăn cho toàn thế giới.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì vấn đề môi trường ngày càng
nghiêm trọng. Hiện tượng ô nhiễm môi trường không chỉ diễn ra ở các nước phát
triển mà ở cả các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Hiện nay, ô nhiễm
môi trường đang ngày càng trầm trọng hơn không chỉ ô nhiễm về không khí mà còn
ô nhiễm về đất, nước và hậu quả mà chúng mang lại là ảnh hưởng rất nhiều về mọi
mặt đối với cuộc sống của con người. Các hiện tượng thời tiết đã và đang không
ngừng đe dọa nhân loại đó là “Biến đổi khí hậu”, là “Sóng thần”, “El nino”…
Vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành một trong những vấn đề
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề và xuất phát từ yêu cầu thực tế cùng
với sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Linh Giang, tôi thực hiện đề tài: “Xây
dựng Hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại
xã Quỳnh Văn,huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An ( Thí điểm tại thôn 16)”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được hương ước, quy ước về bảo vệ môi trường với sự tham gia
của cộng đồng tại thôn 16, xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
3. Nội dung nghiên cứu
• Đánh giá hiện trạng môi trường trên địa bàn thôn 16, xã Quỳnh Văn, huyện
Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
• Đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ môi trường tại thôn 16, xã
Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
• Xây dựng Hương ước, quy ước bảo vệ môi trường gắn liền với người dân
tại thôn 16, xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Tổng quan các vấn đề về hương ước, quy ước
1.1.1. Cơ sở pháp lý xây dựng hương ước, quy ước về bảo vệ môi trường với sự tham
gia của cộng đồng
Khi nói đến Hương ước, Quy ước là đề cập đến một thành tố quan trọng
trong xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, quản lý xã hội ở nông thôn và là một
công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho luật pháp có hiệu quả cao khi thực hiện. Việc xây dựng
Hương ước, Quy ước đã được xây dựng trên nền tảng các cơ sở pháp lý như:
+ Thông tư liên tịch 04/2001/TTLT sửa đổi, bổ sung thông tư liên tịch số 03.
1.1.2. Khái niệm, vai trò, nội dung và hình thức của hương ước, quy ước
a. Khái niệm hương ước, quy ước
Khái niệm hương ước, quy ước được gọi chung là hương ước và được hướng
dẫn tại Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT như sau: “Hương ước là văn bản quy
phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng
thỏa thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân
nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn
hóa trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc
quản lý nhà nước bằng pháp luật”. [1]
Hương ước là thuật ngữ gốc Hán, khi du nhập vào Việt Nam nó vẫn giữ
nguyên nghĩa. Hương ước xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XV, là bản pháp lí đầu
tiên, ghi nhận các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc đối với các thành viên
trong làng xã, nhằm góp phần điều hòa các mối quan hệ xã hội cộng đồng vốn phức
tạp. Các điều lệ này được hình thành trong lịch sử, được bổ sung điều chỉnh mỗi khi
cần thiết. Hương ước là văn bản pháp lý của mỗi làng, trong đó bao gồm các điều
ước về dân sự, hình sự các điều ước về giữ gìn đạo lý, phong tục tập quán…Hương
ước là hệ thống luật tục tồn tại song song với pháp luật mà cơ bản không đối lập với
pháp luật. Hương ước do các vị chức sắc của làng soạn thảo trên cơ sở thống nhất
với dân làng. [4]
b. Vai trò của hương ước, quy ước
Hương ước, quy ước có vai trò quan trọng trong đời sống và sinh hoạt cộng
đồng dân cư, giúp người dân trên địa bàn tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã
hội, bảo đảm và phát huy quyền tự do, dân chủ của nhân dân; động viên và tạo điều
kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ công dân;
Ngoài ra Hương ước, quy ước còn bảo đảm giữ gìn và phát huy thuần
phong, mỹ tục, thực hiện nếp sống văn minh trong ứng xử, giao tiếp, ăn, ở, đi lại,
xoá bỏ hủ tục, phát triển các hoạt động văn hoá lành mạnh, xây dựng và phát huy
tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân, tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong
khác do cộng đồng tự thoả thuận hoặc đề nghị các cấp chính quyền khen thưởng
theo quy định chung của Nhà nước.
Ngoài ra Hương ước có thể đề ra các biện pháp nhằm góp phần giáo dục
những người có hành vi vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
12
phường, thị trấn; giáo dục, cảm hoá, giúp đỡ người phạm tội sau khi ra tù trở thành
những người lương thiện, có ích cho xã hội…. [1]
d. Hình thức thể hiện
Hương ước có thể có lời nói đầu ghi nhận truyền thống, văn hóa của từng
làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư và mục đích của việc xây dựng hương ước. Nội
dung của hương ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản, điểm. Các quy
định cụ thể của hương ước cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các thành viên
trong cộng đồng. Các biện pháp thưởng, phạt có thể quy định ngay tại các điều
khoản cụ thể.
Tên gọi có thể gọi chung là Hương ước hoặc quy ước (làng, thôn, ấp, cụm
dân cư, phường, xã, …). Các quy định của Hương ước cần ngắn gọn, cụ thể, thiết
thực, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hiện.
1.1.3. Quy trình xây dựng hương ước, quy ước
a. Đối tượng của việc xây dựng hương ước, quy ước
Đối tượng của việc xây dựng hương ước, quy ước là cộng đồng dân cư sinh
sống trên địa bàn (làng, xã, thôn, ấp, phường, …)
b. Thủ tục soạn thảo, thông qua, phê duyệt, tổ chức thực hiện và sửa đổi bổ sung
b.1. Hương ước phải được xây dựng một cách thực sự dân chủ, công khai,
phù hợp với các quy định của pháp luật, được chia theo các bước cơ bản như sau:
Bước 1. Thành lập Nhóm soạn thảo và tổ chức soạn thảo hương ước
Trưởng thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư (sau đây gọi chung là Trưởng thôn)
chủ trì cùng Bí thư chi bộ, Trưởng Ban công tác Mặt trận thống nhất các nội dung
cơ bản cần soạn thảo, đồng thời chỉ định các thành viên Nhóm soạn thảo. Thành
Bước 3. Thảo luận
thông
quađịnh
hương
ước:
đồngvà
hoặc
quyết
của Uỷ
ban nhân dân cấp xã.
Trên cơ sở những ý kiến đóng góp trên, Nhóm soạn thảo chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo
và gửi các thành viên sẽ được dự kiến mời tham gia Hội nghị để thảo luận và thông
qua hương ước.
Dự thảo hương ước phải được thảo luận kỹ, thực sự dân chủ và thông qua tại Hội
nghị cử tri hoặc Hội nghị đại biểu hộ gia đình ở làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư. Đại
biểu hộ gia đình là chủ hộ hoặc người có năng lực hành vi dân sự được chủ hộ uỷ
quyền. Hội nghị này chỉ tiến hành khi có ít nhất là hai phần ba tổng số thành phần cử
tri hoặc đại biểu hộ gia đình tham dự. Hương ước được thông qua khi có ít nhất quá
nửa số4.người
dự họp
tán thành.
Bước
Phê duyệt
hương
ước: Trưởng thôn phối hợp với Ban công tác Mặt trận chủ
trì Hội
biểuban
quyết
quaxã
hương
Hội nghị.
Hương ước gửi lên Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phải có Công văn đề nghị
của Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, phê duyệt hương ước trong thời hạn
30 ngày, kể từ ngày nhận được bản hương ước và Công văn đề nghị phê duyệt.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra quyết định phê duyệt hương ước. Hương
ước đã được duyệt phải có dấu giáp lai.
Trong trường hợp hương ước không được phê duyệt thì Phòng Tư pháp chủ trì phối
hợp với Phòng Văn hoá - Thông tin hướng dẫn để cơ sở chỉnh lý, hoàn thiện các
hương ước đó để trình lại.
14
b.2. Tổ chức thực hiện và sửa đổi, bổ sung hương ước.
Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chuyển hương ước đã được phê
duyệt để Trưởng thôn niêm yết, tuyên truyền, phổ biến đến từng thành viên trong
cộng đồng dân cư và tổ chức thực hiện hương ước.
Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội ở cơ sở chỉ đạo, đôn đốc việc thực hiện nghiêm chỉnh các
nội dung của hương ước; kiểm tra, phát hiện và kịp thời chấn chỉnh những sai trái,
lệch lạc, tiêu cực trong việc thực hiện hương ước, định kỳ báo cáo Uỷ ban nhân dân
cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp việc thực hiện hương ước ở địa phương.
Hàng năm, cần tổ chức kiểm điểm việc thực hiện hương ước. Trong trường
hợp cần sửa đổi, bổ sung thì do Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị đại biểu hộ gia đình
thảo luận. Việc sửa đổi, bổ sung hương ước cũng phải tuân theo trình tự, thủ tục như
khi soạn thảo hương ước mới. Không được tuỳ tiện sửa đổi, bổ sung hương ước sau
khi đã được phê duyệt. [1]
c. Các bước triển khai xây dựng Hương ước, Quy ước bảo vệ môi trường
Từ những quy định hướng dẫn theo Thông tư liên tịch
Trình bày một số bản hương ước mẫu của địa phương khác để nói rõ hơn
về vai trò, tác dụng trong thực tiễn.
Đề xuất các phương pháp và công cụ sử dụng để có sự tham gia của cộng
đồng trong bảo vệ môi trường.
Bước 3: Thu thập thông tin, tài liệu
Phương pháp để thu thập thông tin đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả là
thu thập ý kiến cộng đồng thông qua phiếu điều tra. Phiếu điều tra sẽ có 02 mẫu,
01 mẫu dành cho cán bộ quản lý và 01 mẫu dành cho cộng đồng dân cư.
Quá trình điều tra, tham vấn cần thực hiện nghiêm túc để đạt hiểu quả tốt
nhất.
Nội dung phiếu điều tra xoay quanh các vấn đề về môi trường của địa bàn
Thôn: Môi trường không khí (Bụi,…), môi trường nước, nước thải, rác thải, các
khoản chi phí liên quan,…
Bước 4: Tổ chức họp dân
Sau khi tiến hành điều tra, thu thập đầy đủ các thông tin và soạn thảo bản
dự thảo Hương ước, quy ước về bảo vệ môi trường, tiến hành cuộc họp toàn dân
trong thôn 16 với sự có mặt của chính quyền địa phương.
Tại cuộc họp này, đưa ra các thông tin rõ ràng về các vấn đề môi trường
hiện nay mà thôn 16 đang đối mặt, các mặt đạt được và tồn tại. Đưa ra bản dự
thảo hương ước để lấy ý kiến sửa đổi bổ sung, sau đó đi đến thống nhất về bản
hương ước, quy ước về bảo vệ môi trường thông qua biểu quyết nhất trí.
16
Bước 5: Phê duyệt hương ước
Bản hương ước được sửa đổi theo những ý kiến đóng góp từ buổi họp dân,
sau đó trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (UBND xã Quỳnh Văn). Cơ
quan xem xét và ban hành quyết định phê duyệt phù hợp với những quy định của
pháp luật Việt Nam.
Bước 6: Ký cam kết
Nam. Việc xây dựng bản hương ước về bảo vệ môi trường còn giúp cộng đồng tăng
cường vai trò và nhận thức trong việc thực hiện, tuân thủ các quy định của pháp luật
về bảo vệ môi trường tại địa phương. Những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã có
nhiều sự quan tâm, phổ biến nhiều chủ trường và chính sách trong việc xây dựng và
thực hiện hương ước, quy ước về bảo vệ môi trường cho cộng đồng.
Khi nói đến hương ước, quy ước là đề cập đến một thành tố quan trọng trong
thể chế quản lý nông thôn, đề cao tính tự quản, tự trị của thôn, làng, ấp, bản, là một
nét văn hóa quản lý truyền thống có tính phổ biến ở khu vực Đông Nam Á, trong đó
có Việt Nam.
Thực tế xây dựng và phát triển nông thôn ở nước ta trong những năm qua đã
chứng mỉnh rằng, nếu chỉ sử dụng thuần túy pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã
hội – dân sự ở nông thôn thô chưa đầy đủ và không đạt hiệu quả. Việc xóa bỏ hương
ước, quy ước, xóa bỏ vai trò của nó với tư cách là một công cụ quan trọng góp phần
quản lý xã hội ở nông thôn là đã bỏ qua một nét văn hóa truyền thống, hạn chế sự
phát triển thuần phong mỹ tục, để lại những khoảng trống mà pháp luật cho dù có
hoàn thiện đến mấy cũng không thể nào bao quát hết được.
Từ nghị quyết số 05-NQ/HNTW Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa VII ngày 10 tháng 6 năm 1993 về tiếp tục đổi mới và phát triển
kinh tế - xã hội ở nông thôn, hương ước, quy ước được thừa nhận trở lại. Chứng tỏ
sự tồn tại bất diệt của nó và đang trở thành một công cụ hữu hiệu trong thể chế quản
lý ở nông thôn. Chủ trương “khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước,
các quy chế về nếp sống văn minh ở các thôn, xóm” mà Hội nghị lần này đặt ra đã
trở thành nền móng vững chắc cho việc xây dựng hệ thống thể chế về hương ước,
quy ước và phong trào xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước ở nhiều địa phương
trong cả nước. Cũng tại Hội nghị, trong bài phát biểu nhan đề “Tiếp tục đổi mới và
phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội nông thôn” của Tổng bí thư Đỗ Mười có đoạn :
“Nhà nước cần sớm nghiên cứu đề ra quy chế thích hợp với chức năng, vai trò của
xã, thôn, xóm, làng, bản trong tình hình mới, trong khuôn khổ pháp luật và dựa vào
những quy định này có thể xây dựng hương ước”
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nếu: “thực hiện
Đồng thời, đã bước đầu nghiên cứu đưa được nhiều nội dung tốt đẹp, tiến bộ của
phong tục, tập quán vào hương ước, quy ước, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát
huy tinh thần đoàn kết, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân
trong việc xây dựng cuộc sống mới tại địa bàn này.
Tuy nhiên, nội dung của hương ước, quy ước ở nhiều thôn còn sơ sài, rập
khuôn, sao chụp, hình thức còn thể hiện nhiều hạn chế về kỹ thuật soạn thảo, câu
chữ; thủ tục xây dựng, soạn thảo, thông qua hương ước, quy ước ở một số nơi còn
1.3.
chưa theo đúng quy định, chưa đảm bảo tính dân chủ, còn mang tính áp đặt.
Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại thôn 16 xã Quỳnh Văn
19
1.3.1.
-
Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
Thôn 16 là một thôn trọng điểm của xã Quỳnh Văn, một phần kéo dài theo
đường QL1A và một phần thôn ở sâu hẳn phía trên mặt đường. Thôn 16 nằm về
phía Bắc của xã. Địa giới hành chính:
+ Phía Bắc giáp thôn 17
+ Phía Nam giáp thôn 6
+ Phía Đông giáp thôn 18 và thôn 20
+ Phía Tây giáp thôn 8 và thôn 15.
Thôn 16 nằm ở vị trí gần như là trung tâm của xã Quỳnh Văn và có ưu thế về
mặt phát triển kinh tế, dịch vụ, giao thông thuận lợi.
Hình 1.1 Bản đồ vị trí địa lý thôn 16
+ Độ ẩm – nắng
* Độ ẩm :
Độ ẩm không khí trung bình là 83%, tháng có độ ẩm tương đối trung bình
cao nhất là tháng 2, 3 ( độ ẩm là 89%), tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất là tháng
9, độ ẩm là 77 %.
* Nắng:
Tổng số giờ nắng trung bình trong giai đoạn 2005 đến 2015 là 1.677
giờ/năm.
Số giờ nắng cao nhất ghi nhận được trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến
tháng 7
Số giờ nắng thấp nhất ghi nhận được khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 2.
+ Thủy văn:
Chảy qua thôn 16 có 1 con kênh, cung cấp nước cho hệ thống thủy lợi của
thôn. Ngoài ra, đây là nguồn nước để người dân trên địa bàn sử dụng với nhiều mục
đích khác nhau: Rửa cỏ cho gia súc, trâu bò đằm tắm, tưới rau,... Bên cạnh đó,
1.3.2.
-
những xưởng mộc còn sử dụng kênh làm nơi để ngâm gỗ.
Điều kiện kinh tế - xã hội
Đất đai:
Tổng diện tích đất tự nhiên theo địa giới hành chính là: 15,289 ha. Trong đó,
đất nông nghiệp là 6,47 ha (chiếm 42,32%); đất phi nông nghiệp là: 8,819 (chiếm
57,68%). Địa bàn thôn vòng theo hình cánh cung, bao trọn đất nông nghiệp vào
phía trong. Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do người dân
bỏ nghề trồng lúa khá nhiều, thay vào đó là sự phát triển về xây dựng cơ sở hạ tầng
phục vụ cho nền kinh tế của thôn, xã. Trên địa bàn thôn hiện nay, đặc biệt là dọc
tuyến QL1A mọc lên khá nhiều tòa nhà cao tầng với mục đích kinh doanh dịch vụ.
21
Hiện nay, trên địa bàn thôn nhất là dọc theo QL1A, ngành thương mại dịch
vụ đã trở thành thế mạnh của thôn 16 so với toàn xã Quỳnh Văn. Các hộ kinh doanh
các mặt hàng như hàng tiêu dùng, hàng tạp hóa, may mặc, đồ nội thất mỹ nghệ…
Ngoài ra còn có các hộ kinh doanh nhà hàng như khách sạn, quán ăn, quán café,
quán karaoke…các hộ kinh doanh dịch vụ sinh hoạt và sữa chữa. Tính tới thời điểm
hiện tại, trên địa bàn thôn có 1 khách sạn, 3 quán café, karaoke lớn, 3 đại lý lớn
22
hàng tiêu dùng, hàng tạp hóa, 2 đại lý đồ nội thất, 1 công ty chuyên cung cấp vật
liệu xây dựng, cơ khí: Công ty TNHH thương mại Sơn Thanh…. Sự phát triển này
đã đưa nền kinh tế của Thôn 16 nói riêng và toàn xã Quỳnh Văn nói chung ngày
-
càng lớn mạnh.
Giao thông vận tải:
Địa bàn thôn 16 có trục đường chính là đường QL1A dài hơn 3km, ngoài ra
có các tuyến đường liên xã, thôn. Thực hiện theo chỉ đạo của Chính Phủ về việc xây
dựng nông thôn mới, xã Quỳnh Văn đã cho xây dựng mới các tuyến đường liên
thôn. Tại thôn 16, các trục chính dẫn từ QL1A vào sâu trong thôn đều được bê tông
hóa, mở rộng bề mặt đường thoáng mát.
Riêng đoạn QL1A, năm 2015 đã tiến hành GPMB 2 bên đường, mở rộng và
nâng cấp tuyến đường giúp cho các phương tiện giao thông di chuyển thuận lợi hơn,
giảm thiểu được tai nạn giao thông.
Qua địa bàn thôn 16 là các phương tiện giao thông lưu thông từ Bắc vào
Nam, các tuyến bus như Đông Bắc, Sự Chuyên, … Đặc biệt là các loại xe Tải
thường xuyên lưu thông trên các tuyến đường liên thôn từ QL1A lên khu vực khai
thác đá và ngược lại. Điều này làm suy giảm chất lượng đường liên thôn tại địa bàn.
Hình 1.3 Tuyến đường QL1A
2.2. Phạm vi nghiên cứu
24
- Thời gian: Từ ngày 15/03/2017 đến ngày 15/05/2017
- Không gian: Thôn 16, xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu
Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu là một trong những phương pháp
tiền đề, cơ bản đối với bất cứ nghiên cứu nào. Các tài liệu cần thu thập gồm các đề
tài nghiên cứu và các thông tin, tài liệu liên quan tới khu vực nghiên cứu. Việc thu
thập đầy đủ các số liệu không chỉ là cơ sở lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh
giả thuyết cho việc tiến hành nghiên cứu được thuận lợi mà còn giúp người nghiên
cứu định hướng rõ ràng những nội dung cần làm rõ về đề tài. Công việc này được
tiến hành trong giai đoạn đầu tiên của luận văn và có thể được bổ sung trong suốt
quá trình nghiên cứu.
Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu là một công việc quan trọng trong
nghiên cứu khoa học. Mục đích của thu thập tài liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa
học, có trước, từ quan sát và thực hiện thí nghiệm) là để làm cơ sở lý luận khoa học
hay luận cứ chứng minh giả thuyết hay tìm ra vấn đề cần nghiên cứu. Sau khi thực
hiện xong việc thu thập tài liệu, ta cần tổng hợp lại tài liệu và sử dụng tài liệu một
-
cách hợp lý.
Để thực hiện đề tài, tôi đã tiến hành thu thập một số tài liệu liên quan như:
Các tài liệu liên quan đến đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội xã Quỳnh Văn và của
-