HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ THANH THUÝ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG
VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP
LUẬT
HÀ NỘI - 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ THANH THUÝ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG
VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 60380101
Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG MINH HỘI
HÀ NỘI - 2016
:
:
:
Chủ nghĩa xã hội
Đảng Cộng sản
Hội đồng nhân dân
Trung ương
Trung tâm văn hóa
Ủy ban nhân dân
Văn hóa và thông tin
Văn hóa thể thao và du lịch
Văn hóa thông tin tuyên truyền
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, xu thế hội nhập quốc tế không chỉ tác động tới
kinh tế, chính trị mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá. Trước những biến động
của những vấn đề chung mang tính toàn cầu ấy, văn hoá cùng với sức mạnh nội
sinh của mình được đề cao như một lực lượng tinh thần, là động lực của phát
triển xã hội.
Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do lao động của con
người sáng tạo ra nhằm đạt đến giá trị chân, thiện, mỹ. Văn hoá là những nét đặc
trưng mang tính phổ biến cho một cộng đồng người, là bản sắc khu biệt khi đối
sánh với những cộng đồng người khác.
kinh doanh các loại hình dịch vụ văn hoá. Chất lượng cuộc sống của nhân dân
được cải thiện cả về nhu cầu vật chất và đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu
hưởng thụ văn hoá trong nhân dân thể hiện vai trò của Đảng và Nhà nước đối với
sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và địa bàn Quận Nam
Từ Liêm nói riêng do quá trình đô thị hoá, đời sống kinh tế xã hội của nhân dân
ngày càng được nâng cao, hoạt động văn hoá như: kinh doanh karaoke, Internet,
băng đĩa nhạc; báo chí, quảng cáo… ngày càng phát triển. Bên cạnh những hiệu
quả kinh tế từ các hoạt động dịch vụ văn hoá đem lại cho xã hội, cũng đặt ra
những vấn đề tiêu cực, cần giải quyết, thậm chí có những loại hình hoạt động
dịch vụ văn hoá trở thành điểm nóng gây bức xúc trong dư luận xã hội. Trước
những hạn chế, bất cập đó, công tác quản lý văn hoá ngày càng được xác định là
nhiệm vụ quan trọng.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá là một
nhiệm vụ cấp thiết vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn trong đời sống
xã hội để phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt tiêu cực đáp ứng nhu cầu
hưởng thụ của nhân dân quận Nam Từ Liêm nói chung và nhân dân thành phố
Hà Nội nói chung. Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn
2
quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay” làm luận văn Thạc
sĩ Luật, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến chủ đề quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt
động văn hoá có nhiều công trình khoa học như:
- “Quản lý hoạt động văn hoá” - tác giả Phan Văn Tú, Nguyễn Văn Hy,
Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền NXB văn hoá - thông tin, HN năm 1998, đã nêu
nước về dịch vụ văn hoá trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đưa ra
các giải pháp quản dịch vụ văn hoá phù hợp với quá trình phát triển của địa
phương.
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tiến Toàn (2011), “Tăng cường quản lý
Nhà nước các dịch vụ văn hoá thông tin trên địa bàn huyện Đan Phượng Thành phố Hà Nội”, luận văn Thạc sỹ Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội,
đã góp phần sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu, hạn chế và đưa ra
các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý dịch vụ
văn hoá thông tin.
- Luận văn thạc sỹ của Bùi Thị Phương Dung (2013), “Nâng cao chất
lượng dịch vụ văn hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Học viện Hành chính
Quốc gia, Hà Nội, đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ văn
hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Luận văn thạc sỹ của Hồ Hải Đăng (2011), “Một số giải pháp tăng
cường quản lý nhà nước về văn hoá ở tỉnh Quảng Trị”, luận văn thạc sỹ trường
học viện hành chính quốc gia, đã đưa ra những đề xuất, kiến nghị, các giải pháp
nhằm hoàn thiện, tăng cường quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá ở tỉnh
Quảng Trị…
Nhìn một cách tổng quát về các công trình trên, chúng ta thấy các kết quả
nghiên cứu của các luận án, luận văn và đề tài khoa học đã nghiên cứu về mối
quan hệ giữa phát triển văn hoá và kinh tế thị trường trong điều kiện hiện nay
của đất nước, góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận của quản lý nhà nước
trên lĩnh vực văn hoá, bước đầu nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lý nhà
4
nước về văn hoá cấp cơ sở ở một số địa phương. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quản lý nhà nước bằng
pháp luật đối với các hoạt động văn hoá nói chung và trên địa bàn quận Nam Từ
Liêm trong giai đoạn hiện nay nói riêng. Các công trình khoa học trên đây có giá
doanh xuất bản phẩm, in ấn, photocopy… Đây là những hoạt động dịch vụ văn
hoá đang tồn tại và phát triển mạnh mẽ trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành
phố Hà Nội hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với
các hoạt động văn hoá trên địa bàn quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội từ năm
2010 đến năm 2015.
- Về chủ thể: Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối các hoạt động văn hóa
trên địa bàn quận Nam Từ Liêm,thành phố Hà Nội do nhiều tổ chức thực hiện
như như HĐND quận, UBND và cơ quan chuyên môn, HĐND và UBND cấp
xã; ngoài ra còn cơ các cơ quan khác thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước bằng
pháp luật đối với các hoạt động văn hóa trên địa bàn như Công An, quản lý thị
trường…Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này và dưới góc độ lý luận Nhà
nước và pháp luật tác giả chỉ tập trung đánh giá, phân tích thực trạng quản lý
Nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hóa trên địa bàn của UBND
huyện Nam Từ Liêm và cơ quan chuyên môn.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển nền
văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Việc nghiên cứu dựa trên cơ sở áp dụng phương pháp
luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của
Chủ nghĩa Mác - Lê nin.
6
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo trong việc
hoạch định đường lối chính sách, pháp luật về quản lý nhà nước đối với các hoạt
động văn hoá.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được bố cục thành 3 chương, 7 tiết.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ Ở CẤP HUYỆN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP
LUẬT ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ Ở CẤP HUYỆN
1.1.1. Khái niệm hoạt động văn hóa và quản lý nhà nước bằng pháp
luật đối với các hoạt động văn hoá trên địa bàn cấp huyện
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa và hoạt động văn hóa
- Khái niệm văn hóa
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hoá cả trong quan niệm của
phương Đông và phương Tây, nhưng ở đây chỉ xét văn hoá là một hoạt động
trong lĩnh vực tinh thần, giáo dục khai mở tinh thần cho con người, làm cho con
người trở thành người. Theo quan điểm Mác xít: “Căn cứ vào mức độ tự nhiên
được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên của con người
khai thác, cải tạo thì có thể xét được trình độ văn hoá chung của con người” [33,
tr.111]. Văn hoá luôn gắn liền với con người và hoạt động lao động sáng tạo của
con người.
Định nghĩa “Văn hóa” được cộng đồng thế giới sử dụng phổ biến theo định
sự sinh tồn của loài người, đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người.
Tư tưởng ấy đã trở thành đường lối, thành chính sách văn hóa của Đảng.
Có thể thấy, đối với lĩnh vực văn hóa, việc xác lập các quan điểm cơ bản về mối
quan hệ với đời sống, chính trị cách mạng là cực kỳ cần thiết, nhưng chưa đủ.
Văn hóa có quy luật phát triển riêng của nó. Qui luật này đòi hỏi phải giải quyết
tốt các mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, nhân loại, giữa bản sắc dân tộc với
nội dung xã hội chủ nghĩa.
Từ trước đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định: Văn hóa là
một bộ phận khăng khít của sự nghiệp cách mạng. Sự nghiệp cách mạng không
chỉ có chính trị mà phải bao gồm cả văn hóa. Văn hóa là một trong ba mặt trận
then chốt: Kinh tế - chính trị - văn hóa. Nhiệm vụ của văn hóa là phục vụ sự
nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội mà
10
nay là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh. Với
đặc thù của mình, văn hóa có nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam về trí tuệ,
đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững
vàng, ngang tầm với sự nghiệp đổi mới.
Nhìn tổng quát, có thể thấy rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trước sau
đều luôn xem văn hóa văn nghệ là bộ phận khăng khít của sự nghiệp cách mạng
do Đảng lãnh đạo, coi văn hóa văn nghệ là một mặt trận và văn nghệ sĩ là chiến
sĩ trên mặt trận ấy; luôn luôn nhất quán trong xây dựng một nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc, luôn coi trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phong
trào văn hóa quần chúng.
Từ phân tích trên, có thể thấy rằng: Văn hóa là sản phẩm của loài người,
được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội; tham
gia vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xa hội. Văn hóa
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn
Khác với các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, hoạt động văn hóa mang
một sự khác biệt với những đặc điểm như:
- Hoạt động văn hóa là hoạt động tinh thần, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến
tư tưởng, tình cảm của con người.
- Sản phẩm của hoạt động văn hóa là các giá trị tinh thần mà cá nhân hay
cộng đồng sáng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người.
Các hoạt động văn hóa rất phong phú và đa dạng. Có thể chia hoạt động
văn hóa ra thành hoạt động của những lĩnh vực, cấp độ khác nhau. Theo từng
lĩnh vực thì hoạt động văn hóa được chia thành các nhóm sau:
- Các hoạt động thuộc lĩnh vực báo chí, xuất bản, internet, quảng cáo.
- Các hoạt động thuộc lĩnh vực điện ảnh
- Các hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn
- Các hoạt động thuộc lĩnh vực mỹ thuật
- Các hoạt động thuộc linh vực thư viện, bảo tồn, bảo tàng
- Các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa các dân tộc thiểu số
- Các hoạt động thuộc lĩnh vực tổ chức bộ máy quản lý văn hóa
- Các hoạt động thuộc lĩnh vực đào tạo…
12
Nếu xét đến các hoạt động văn hóa ở cấp cơ sở thì chúng ta có thể phân
loại các hoạt động văn hóa như:
- Hoạt động thông tin, tuyên truyền cổ động
- Hoạt động vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
- Hoạt động trong lĩnh vực di tích, bảo tồn
- Hoạt động dịch vụ văn hóa
- Hoạt động văn hóa - văn nghệ và hoạt động câu lạc bộ.
Vậy trên địa bàn cấp quận, huyện các hoạt động văn hóa thường là: hoạt
động kinh doanh dịch vụ karaoke, Internet, quảng cáo, kinh doanh xuất bản
cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có
nhạc trưởng [33, tr.109].
Lê-nin cũng đã từng khẳng định vấn đề này, Người viết: Muốn quản lý tốt
mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà còn phải biết tổ chức về mặt
thực tiễn nữa. Quan điểm trên đây của các nhà mác xít có thể áp dụng với mọi
hoạt động liên quan đến quản lý xã hội ở mọi lĩnh vực của con người trong đời
sống xã hội.
Thuật ngữ “Quản lý” ban đầu có nghĩa management (tiếng Italia) - bàn
tay, các hoạt động liên quan đến bàn tay. Trong hình ảnh này bao hàm nghĩa nắm
giữ, tác động tới một đối tượng nào đó ngoài mình. Khi sử dụng với nghĩa "quản
lý", nó mang nghĩa tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Quản lý
xã hội chính vì thế là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, cả khoa
học tự nhiên và khoa học xã hội. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ
góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa về quản lý. Theo Điều khiển học thì
quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những
quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy
vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã
định trước. Định nghĩa này thích hợp với tất cả mọi trường hợp từ sự vận động
của một cơ thể sống, một vật thể cơ giới một thiết bị tự động hoá đến hoạt động
của một tổ chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan nhà nước.
14
Dù có sự khác nhau nhất định trong quan niệm về quản lý, nhưng tựu
trung lại thì mọi hoạt động quản lý đều phải do các yếu tố cấu thành:
- Chủ thể quản lý (do ai quản lý);
- Khách thể quản lý (quản lý cái gì);
- Mục đích quản lý (quản lý vì cái gì);
- Môi trường và điều kiện tổ chức (quản lý trong hoàn cảnh nào);
pháp theo quy định của pháp luật.
Đối tượng quản lý: Đối tượng của quản lý nhà nước bao gồm tất cả các cá
nhân, các tổ chức sinh sống, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi lãnh
thổ quốc gia.
Các lĩnh vực quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước có tính toàn diện, bao
gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh quốc phòng,...
Công cụ quản lý nhà nước: Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý chủ
yếu là pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội.
Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang
quyền lực nhà nước (chủ yếu bằng pháp luật) tới các đối tượng quản lý nhằm
thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Tất cả các cơ quan nhà
nước đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Pháp luật là công cụ chủ yếu để
quản lý nhà nước. Bằng pháp luật nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức xã
hội hoặc cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước;
điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu
hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Hệ thống thể chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hoá là công cụ để
nhà nước quản lý lĩnh vực văn hoá nói riêng và quản lý xã hội nói chung. Trong
quản lý nhà nước thì quản lý về văn hoá được coi là một dạng quản lý đặc biệt
quan trọng.
- Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động văn hóa
Quản lý nhà nước bằng pháp luật về văn hoá với tư cách là quản lý một
lĩnh vực của đời sống xã hội, vậy nên phân biệt phạm vi quan niệm văn hoá theo
nghĩa là lĩnh vực sáng tạo tinh thần. Như vậy, để chỉ lĩnh vực hoạt động sáng tạo,
16
17
yếu. Văn hoá là lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến đời sống tinh thần dân tộc, cần
được quản lý bằng pháp luật.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về văn hoá được thể hiện trong hoạt
động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành hoạt động, phát triển văn
hoá, được thể hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ - Bộ Văn hoá). Theo nghĩa
này, quản lý nhà nước về văn hoá được quan niệm là quản lý hành chính về văn
hoá, quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá.
* Nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật về văn hoá:
Quản lý nhà nước về văn hoá thực chất là quản lý toàn bộ các hoạt động
văn hoá diễn ra trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia bằng quyền lực của nhà
nước thông qua hiến pháp, pháp luật, và cơ chế chính sách, tạo điều kiện để thúc
đẩy nền văn hoá phát triển. Nhà nước đóng vai trò điều tiết các cơ quan văn hoá
do nhà nước thành lập để điều tiết toàn bộ các hoạt động văn hoá của xã hội. Vì
vậy, đối tượng quản lý là hoạt động văn hoá do các tổ chức, cá nhân và các thành
phần kinh tế tham gia trên lĩnh vực kinh tế. Trong điều kiện đó, nhà nước chuyển
việc phân bổ vốn đầu tư, phê duyệt các dự án, xác định các chỉ tiêu sang xây
dựng các quy hoạch, các chiến lược phát triển văn hoá và các chính sách văn
hoá.
Quản lý nhà nước về văn hoá mang tính tổ chức chặt chẽ thông qua chính
sách và pháp luật của Nhà nước để đảm bảo cho nền văn hoá phát triển. Khi
quản lý văn hoá, nhà nước chú trọng đến khía cạnh kinh tế trong văn hoá và văn
hoá trong kinh tế. Quản lý văn hoá trong cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, nhà nước phải tạo lập hành lang pháp lý vừa đảm bảo thông thoáng
nhưng giữ vững lập trường chính trị đúng đắn để các chủ thể phát huy vai trò
sáng tạo tích cực cho nền văn hoá dân tộc.
Quy trình, nội dung quản lý nhà nước văn hoá có thể hình dung với các
khâu như [9, tr.111 ]: lập kế hoạch, xây dựng thể chế, chính sách văn hoá, hướng
vấn đề của thực tiễn đặt ra. Xây dựng kế hoạch văn hoá là thiết lập hệ thống các
mục tiêu, tiêu chí để đạt được chúng. Đó cũng là cơ sở để thực hiện chức năng
kiểm soát, đánh giá các hoạt động sau này.
19
b. Xây dựng thể chế, chính sách văn hoá
Đối với quản lý văn hoá, chính sách văn hoá được đánh giá là đặc biệt
quan trọng. Chính sách văn hoá được hiểu là tổng thể những nguyên tắc thể hiện
tư tưởng chủ đạo của nhà nước về đường lối, phương hướng xây dựng và phát
triển nền văn hoá. Chính sách văn hoá đặt ra các nguyên tắc chung của sự nghiệp
phát triển văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước. Chính
sách phát triển văn hoá của Đảng ta đã được cụ thể hoá thành Chương trình mục
tiêu quốc gia về văn hoá trong Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg ngày 31/7/2007 của
Thủ tướng Chính phủ. Quyết định này xác định rõ mục tiêu tổng quát về phát
triển văn hoá Việt Nam là: tăng cường vấn đề nhận thức của toàn dân, các ngành,
các cấp; huy động sức mạnh toàn xã hội vào phát triển văn hoá để văn hoá trở
thành nền tảng tinh thần, là động lực là nhân tố góp phần thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp quá đất nước. Bảo tồn và phát huy giá trị di tích, thắng cảnh và văn
hoá phi vật thể nhằm phục vụ giáo dục truyền thống, phục vụ nhu cầu sinh hoạt
của toàn xã hội và phát triển du lịch. Quan tâm tới phát triển văn hoá vùng sâu,
vùng xa, vùng núi, hải đảo biên giới, vùng dân tộc thiểu số về mọi lĩnh vực của
đời sống tinh thần . . .
Chính sách văn hoá đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước về
văn hoá song chính sách văn hoá không thể thay thế pháp luật. Nhằm mục đích
quản lý tốt hoạt động văn hoá, nhà nước phải coi xây dựng thể chế văn hoá là cơ
sở, công cụ để quản lý. Thể chế văn hoá gồm hệ thống pháp luật và chính sách
văn hoá của nhà nước và các phong tục quy ước văn hoá của cộng đồng. Nói như
vậy không có nghĩa là pháp luật sẽ triệt tiêu mọi khuôn mẫu xã hội khác mà