BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
---------------------------
HUỲNH VĂN THẮNG
TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA NGƯỜI GIÀ
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG:
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ VAI TRÒ CỦA
CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ BẰNG TIỀN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
ĐÀ NẴNG – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
---------------------------
HUỲNH VĂN THẮNG
TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA NGƯỜI GIÀ
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG:
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ VAI TRÒ
CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ BẰNG TIỀN
Ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 62.31.01.05
Ngành cũ: Kinh tế công nghiệp
Mã số: 62.31.09.01
MỞ ĐẦU................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ..................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ..........................................................................3
2.1. Mục tiêu chung ..........................................................................3
2.2. Mục tiêu cụ thể ..........................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................4
4. Phạm vi nghiên cứu............................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................5
5.1. Phương pháp rà soát, hồi cứu thông tin .....................................5
5.2. Phương pháp phân tích, đánh giá định lượng và định tính ........5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu ...........................6
7. Kết cấu của luận án ............................................................................7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.........................................................8
1.1. Những vấn đề chung về nghèo .......................................................8
1.1.1. Quan niệm về nghèo ...............................................................8
1.1.2. Chuẩn nghèo ........................................................................11
1.2. Quan niệm về người cao tuổi và già hoá dân số ............................15
1.2.1. Người cao tuổi .....................................................................15
1.2.2. Già hoá dân số......................................................................15
1.3. Nghèo của người cao tuổi ..............................................................16
1.4. Các yếu tố tác động đến nghèo của người cao tuổi ........................18
1.4.1. Về đặc trưng cá nhân và hộ gia đình NCT ..........................18
1.4.2. Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ................................21
iii
1.5. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan ......27
1.5.1. Các nghiên cứu về nghèo và tác động của trợ giúp bằng tiền
tới giảm nghèo cho NCT ở một số nước đang phát triển ....27
CHƯƠNG 4: CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH ....................................98
4.1. Bối cảnh công tác giảm nghèo cho NCT ở Đà Nẵng ......................98
4.3. Các hàm ý chính sách .................................................................103
KẾT LUẬN .......................................................................................112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN CỦA TÁC GIẢ
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH
An sinh xã hội
CLB
Câu lạc bộ
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
CSYT
Cơ sở y tế
CBYT
MoLISA
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
NCT
Người cao tuổi
OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
TCDS & KHHGĐ
Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình
TCTK
Tổng cục Thống kê
UBND
Ủy ban Nhân dân
UBQG NCT
Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi
UNESCAP
Bảng 3-3. Dân số phân theo tuổi ở Đà Nẵng giai đoạn 2010-2015 ...........61
Bảng 3-4. Dự báo các chỉ tiêu chủ yếu của Đà Nẵng ................................62
Bảng 3-5. Tỷ số phụ nữ/nam giới cao tuổi ở Đà Nẵng, 2009-2034 ..........64
Bảng 3-6. Tỷ lệ nghèo của NCT giai đoạn 2006-2014 (%) .......................64
Bảng 3-7. Phân bố dân số cao tuổi Đà Nẵng giai đoạn 2006-2014 ...........65
Bảng 3-8. Tình hình hộ nghèo có NCT phân theo địa bàn ........................83
Bảng 3-9. Kết quả thực hiện các đề án giảm nghèo ở Đà Nẵng ................70
Bảng 3-10. Kinh phí hỗ trợ cho hộ gia đình có NCT giai 2013-2016 .......75
Bảng 3-11. Kết quả chăm sóc sức khỏe và đời sống cho NCT ở Đà Nẵng
2015 ........................................................................................................77
Bảng 3-12. Mức chi chúc thọ mừng thọ cho NCT Đà Nẵng…................76
Bảng 3-13. Kết quả ước lượng các yếu tố tác động đến nghèo của người
cao tuổi ở Đà Nẵng 2010-2014 ..............................................................79
Bảng 3-14. Ước lượng tác động biên của các yếu tố quyết định tới tình
trạng nghèo của hộ gia đình có người cao tuổi, giai đoạn 2010-2014...81
Bảng 4-1. Chi phí cho các chương trình trợ cấp tiền phổ cập theo tuổi cho
người cao tuổi ở Đà Nẵng, 2014-2034...................................................93
vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1-1. Khung lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng tình trạng nghèo của
NCT ...........................................................................................................41
Hình 1-2. Khung nghiên cứu tác động của chương trình hỗ trợ bằng tiền tới
giảm nghèo của NCT.................................................................................42
Hình 3-1. Biến đổi cơ cấu tuổi dân số ở Đà Nẵng, 2009-2034....................63
Hình 4-1. Dự báo dân số theo tuổi của Đà Nẵng, 2014-2034....................101
2
nước cùng phải trải qua hàng thập niên, thậm chí hàng thế kỷ nhưng Việt Nam
chỉ mất 16 đến 18 năm đã bước sang giai đoạn dân số già.
Cơ cấu tuổi trong dân số ở Việt Nam hiện nay đang thay đổi lớn và mạnh
mẽ. Tỷ suất sinh và chết đều giảm, tuổi thọ bình quân tăng, dẫn tới sự tăng
nhanh dân số già (cao tuổi) cả về số lượng và tỉ lệ so với tổng dân số. Báo cáo
của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2016) đã phân tích quá trình già hóa dân
số và đã chỉ ra được nhiều thách thức của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam.
Đầu năm 2016, số dân từ 65 tuổi trở lên của Việt Nam mới là 6,5 triệu người,
nhưng con số này được dự báo là sẽ tăng gấp ba lần, đạt 18,4 triệu vào năm
2040. Theo dự báo của Liên hợp quốc (2015), dân số nước ta tăng dần trong giai
đoạn từ nay đến năm 2060 và giảm dần từ 2060 đến 2100. Cụ thể, dân số Việt
Nam sẽ là 98,15 triệu người vào năm 2020; 109,925 triệu người vào năm 2040;
113,233 triệu người vào năm 2060; 109,677 triệu người vào 2080; và 105,076
triệu người vào 2100. Các con số trên cho thấy nước ta sẽ đối mặt với nguy cơ
“già trước khi giàu” khi tốc độ già hóa dân số tiếp tục tăng cao nhưng thu nhập
bình quân đầu người mới chỉ đạt ở mức trung bình thấp, khoảng 1.300 đô-la
Mỹ/người vào năm 2011, 2.000 đô-la Mỹ/người vào năm 2014 và 2.300 đô-la
Mỹ/người vào năm 2015 (Tổng cục Thống kê, 2016). Đây thực sự là một thách
thức rất lớn cho các nhà hoạch định chính sách.
Cùng với xu hướng chung của cả nước, Đà Nẵng đang đối mặt với già hóa
dân số và có tốc độ tăng rất nhanh so với cả nước. Theo số liệu dự báo của Tổng
Cục Thống kê (2011), NCT ở Đà Nẵng chiếm tỉ lệ 7,9% tổng dân số vào năm
2014 và sẽ tăng lên 16,8% vào năm 2034. Già hóa dân số đặt ra vấn đề cấp thiết
về an sinh xã hội đối với NCT Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng, đặc
biệt là giải quyết vấn đề nghèo của NCT khi độ bao phủ của hệ thống an sinh xã
hội còn ở mức thấp.
Nghiên cứu về tình trạng nghèo nói chung ở trong và ngoài nước hết sức
phong phú, đa dạng và ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu
chương trình hỗ trợ bằng tiền đến giảm nghèo của NCT. Đây sẽ là cơ sở vững
chắc cho việc triển khai tốt các mục tiêu tiếp theo;
2) Đánh giá tình trạng nghèo của hộ gia đình có NCT và nêu lên một số
4
vấn đề trong chính sách hỗ trợ bằng tiền cho NCT ở Đà Nẵng;
3) Phân tích, đánh giá nguyên nhân nghèo của NCT ở Đà Nẵng thông qua
việc phân tích tác động của một số nhân tố ảnh hưởng tới xác suất bị nghèo của
hộ gia đình có NCT;
4) Đánh giá tác động của chương trình hỗ trợ bằng tiền đến giảm nghèo
cho hộ gia đình có NCT;
5) Đề xuất một số chính sách có tính khả thi hướng đến mục tiêu giảm
nghèo cho NCT ở Đà Nẵng, trong đó chú trọng đến chính sách trợ cấp của nhà
nước thông qua các chương trình hỗ trợ trực tiếp bằng tiền.
3. Đối tượng nghiên cứu
Luận án này tập trung chủ yếu vào các đối tượng nghiên cứu sau:
1) Thực trạng nghèo của hộ gia đình có NCT ở Đà Nẵng.
2) Các yếu tố tác động chủ yếu đến khả năng bị nghèo của hộ gia đình có
NCT.
3) Đánh giá tác động của chương trình hỗ trợ bằng tiền đối với giảm
nghèo cho hộ gia đình có NCT ở Đà Nẵng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu chính là dân số Đà Nẵng trong giai đoạn 2016-2035
lấy từ dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2011), trong đó tập trung vào các
hộ gia đình có NCT. Các khách thể khác gồm hệ thống các chính sách có liên
Được sử dụng phổ biến trong việc mô tả tổng thể nghiên cứu và thực trạng
nghèo của NCT ở Đà Nẵng. Các chỉ tiêu thống kê chủ yếu được sử dụng là quy
mô, mức trung bình, tần suất, tỷ trọng và tốc độ thay đổi theo thời gian.
Phương pháp hồi quy:
Để đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của
hộ gia đình NCT, luận án áp dụng phương pháp hồi quy đa biến với mô hình xác
suất probit có biến phụ thuộc là tình trạng nghèo của hộ gia đình NCT ở Đà
Nẵng và các biến giải thích gồm có các biến thể hiện đặc trưng cá nhân (như
tuổi, giới tính, trình độ học vấn, công việc...) và đặc trưng gia đình (như nơi sinh
sống, giới tính và trình độ của chủ hộ gia đình, số lượng NCT trong hộ gia
6
đình...).
Phương pháp mô phỏng vi mô (đánh giá sự khác biệt trước và sau khi
có một chương trình/chính sách tác động theo giả định):
Trong đánh giá tác động của chương trình trợ cấp bằng tiền, luận án sử
dụng phương pháp mô phỏng vi mô để xem tác động giảm nghèo cho hộ gia
đình có NCT được hưởng trợ cấp như thế nào bằng cách so sánh tỉ lệ nghèo
trước khi và sau khi nhận được hỗ trợ. Bên cạnh đó, để đưa ra các khuyến nghị
chính sách cụ thể, luận án cũng dự báo chi phí để mở rộng chính sách trợ cấp
bằng tiền tới các đối tượng NCT khác nhau cũng như hướng tới một hệ thống
phổ cập cho toàn bộ NCT ở Đà Nẵng.
Phương pháp phân tích dữ liệu định tính dựa trên điều tra thực địa:
Để minh họa cụ thể hơn cho các nhận định từ các phương pháp định
lượng, luận án bổ sung cơ sở cho các lập luận đó bằng khai thác thông tin từ các
cuộc điều tra thực địa (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm) tại một số địa điểm
của TP. Đà Nẵng (cấp thành phố, cấp huyện và cấp xã) với đối tượng được khảo
sát (gồm có NCT được hưởng và không được hưởng trợ cấp và các cán bộ lãnh
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Trong Chương này, luận án mô tả phương pháp tính toán và mô hình kinh
tế lượng cùng với dữ liệu thứ cấp. Cùng đó, Luận án mô tả cách triển khai điều
tra thực địa bổ sung thông tin cho các phân tích định lượng.
Chương 3: Kết quả và phân tích
Chương này cung cấp phân tích kết quả định lượng về thực trạng, các yếu
tố có thể tác động đến tình trạng nghèo của hộ gia đình NCT ở Đà Nẵng; phân tích
định lượng và định tính tác động của chương trình hỗ trợ bằng tiền đến tình trạng
nghèo của NCT ở Đà Nẵng cũng như một số tác động có liên quan khác.
Chương 4: Các hàm ý chính sách
Dựa vào kết quả phân tích từ Chương 3, Chương này sẽ bàn luận và đề
xuất một số chính sách liên quan nhằm giảm nghèo cho hộ gia đình có NCT một
cách bền vững hơn, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Những vấn đề chung về nghèo
1.1.1. Quan niệm về nghèo
Một trong những vấn đề nổi lên hàng đầu hiện nay và được cả thế giới quan
tâm đó là nghèo. Nghèo đã và đang diễn ra trên khắp thế giới và gây nên nhiều
hậu quả lớn. Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến những người rơi vào cảnh
khốn khó mà còn ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội, môi
trường sinh thái và sự phồn vinh của quốc gia. Chính vì thế mà giảm nghèo đang
là vấn đề thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng quốc tế, là mục tiêu hàng đầu của
mỗi quốc gia. Tuy nhiên, muốn giảm nghèo thì phải hiểu rõ về bản chất của nghèo
và những vấn đề liên quan đến nghèo đã được cả thế giới mổ xẻ trong nhiều thập
niên qua.
GINI là hệ số đo lường mức bất bình đẳng về thu nhập và mức sống giữa các
tầng lớp dân cư [13,tr.17].
Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP, 1997) đã đưa ra những
định nghĩa về nghèo với ba yếu tố, gồm có: sự nghèo khổ của con người (đó là
thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi
dưỡng tạm đủ); sự nghèo khổ về tiền (tức là thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và
khả năng chi tiêu tối thiểu); và sự nghèo khổ chung (tức là mức độ nghèo kém
nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu
lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định
khác nhau ở nước này hay nước khác).
Ngoài ra, nghèo còn được xác định theo tình trạng đời sống, tức là ngoài
khía cạnh thu nhập thì nghèo còn được chú ý đến các khía cạnh khác như mức
sống, cơ hội được học tập, quyền tự quyết định, khả năng ảnh hưởng đến những
quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác. Trong “Báo cáo Phát triển Thế giới
năm 2000”, Ngân hàng Thế giới (1999) đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyết định
khách quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng.
Hiện nay, quan điểm về nghèo đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và có thể có
10
nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ngân hàng Thế giới (2013) quan niệm nghèo là
một khái niệm đa chiều chứ không chỉ là túng thiếu về vật chất nên nghèo không
chỉ bao gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan
đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương,
không có quyền phát ngôn và không có quyền lực.
Như vậy, nghèo đói là khái niệm mang tính chất tương đối cả về không
gian và thời gian. Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ảnh tình trạng một bộ phận dân
cư không được thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của con người như ăn, mặc, ở, đi
lại… Nhu cầu này cũng có sự thay đổi và khác biệt đối với từng quốc gia khác
tiêu chí là chuẩn nghèo. Các tổ chức khác nhau thì sử dụng các tiêu chuẩn khác
nhau để đánh giá giàu nghèo.
Ngân hàng Thế giới (2012) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu,
nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu
người trong một năm với hai cách tính, gồm có (i) Phương pháp Atlas tính theo
tỷ giá hối đoái và tính theo đô-la Mỹ và (ii) Phương pháp ngang bằng sức mua
(PPP – Purchasing Power Parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương
và cũng tính bằng đô-la Mỹ . Theo cách tính PPP, Ngân hàng Thế giới (2012)
muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới. Trên cơ sở điều tra
thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hóa, thực hiện phương pháp
tính “rổ hàng hóa” sức mua tương đương để tính được mức thu nhập dân cư giữa
các quốc gia có thể so sánh. Ngân hàng Thế giới (2012) đã tính mức năng lượng
tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.100 calo/ngày. Với mức giá chung
của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cần khoảng 01 đô la
Mỹ/người/ngày. Với chuẩn nghèo này thì ước tính có khoảng 1,2 tỷ người nghèo
trên toàn thế giới vào thời điểm đó.
Tuy nhiên, do đặc điểm kinh tế và xã hội khác nhau cũng như sức mua
của mỗi đồng tiền ở các quốc gia khác nhau nên chuẩn nghèo theo thu nhập (tính
theo đô-la Mỹ) cũng khác nhau ở mỗi quốc gia. Chẳng hạn, theo tiêu chuẩn của
Mỹ, một người trưởng thành độc thân được coi là nghèo nếu thu nhập trước thuế
hàng năm dưới 10.991 đô-la Mỹ, trong khi đó thu nhập năm của gia đình có hai
người là dưới 14.051 đô-la Mỹ và của gia đình có ba người là dưới 17.163 đô-la
12
Mỹ. Còn đối với một gia đình có bốn thành viên thì ngưỡng nghèo là 24.008 đôla Mỹ. Trong năm những năm gần đây, số người nghèo ở Mỹ đã tăng nhanh.
Theo báo cáo thường niên công bố ngày 16/9/2015 của Cơ quan Thống kê Liên
bang Mỹ cho biết, năm 2014 có tới 46,7 triệu người Mỹ thuộc diện nghèo và
mức này tăng cao so với những năm trước. Tỉ lệ người nghèo tại nền kinh tế số
mức sống hộ gia đình Việt Nam. Hiện nay, phần lớn các báo cáo kinh tế và xã hội
sử dụng chuẩn nghèo do Bộ LĐ-TB&XH đưa ra. Chuẩn nghèo này được tính toán
dựa vào nhu cầu chi tiêu cơ bản của lương thực, thực phẩm (nhu cầu ăn hàng
ngày) và nhu cầu chi tiêu phi lương thực, thực phẩm (mặc, nhà ở, y tế, giáo dục,
văn hoá, đi lại, giao tiếp xã hội).
Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã qua sau lần điều chỉnh chuẩn nghèo
đói của từng giai đoạn. Các hộ thuộc diện nghèo của từng giai đoạn cụ thể như
trong Bảng 1-1.
Bảng 1-1. Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn
Mức thu nhập bình quân người/tháng
Nông thôn
Giai đoạn
Thành thị
1993-1995 (Mức thu nhập
quy ra gạo)
1996-1997 (Mức thu nhập
quy ra gạo)
1998-2000 (Mức thu nhập
quy ra gạo tương đương với
số tiền)
2001-2005 (Mức thu nhập
tính bằng tiền)
2006-2010 (Mức thu nhập
tính bằng tiền)
2011-2015 (Mức thu nhập
tính bằng tiền)
2016-2020 (Mức thu nhập
Dưới 80.000
đồng
Dưới 100.000
đồng
Dưới 260.000 đồng
Dưới 200.000 đồng
Dưới 500.000 đồng
Dưới 400.000 đồng
Dưới 900.000 đồng
Từ 900.0001.300.000 đồng và
thiếu hụt 03 chỉ số
Dưới 700.000 đồng
Từ 700.000-1.000.000 đồng và thiếu
hụt 03 chỉ số
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Bộ LĐ TB&XH
Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo từng bước thỏa mãn nhu cầu
của con người (ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa...) và mức chuẩn được điều
14
tạo ra một bộ phận lớn người dân thuộc nhóm cận nghèo thu nhập hoặc chưa
được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ xã hội cơ bản, đang đối mặt với nhiều rủi ro
khiến họ có thể rơi vào tình trạng nghèo, đói.
1.2. Quan niệm về người cao tuổi và già hoá dân số
1.2.1. Người cao tuổi
Người cao tuổi (hay người già) là một thuật ngữ dùng để chỉ những người
nhìn chung đã có nhiều tuổi. Lâu nay các nước trên thế giới người ta vẫn hay
dùng khái niệm “người già”. Theo Từ điển Việt Nam, già tức là “ở vào tuổi có
những hiện tượng sinh lý suy yếu dần trong giai đoạn cuối của quá trình sống tự
nhiên” [12,tr.14]. Như vậy, về mặt thuật ngữ, “người già” hay “người cao tuổi”
cũng chỉ là hai cách nói khác nhau mang cùng một nội dung chỉ “người đã rất
nhiều tuổi so với tuổi đời trung bình”. Vì thế, hai thuật ngữ “người già” và
“người cao tuổi” là giống nhau.
Trong luận án này, tác giả sử dụng thuật ngữ “người cao tuổi” theo Điều 2,
Luật Người cao tuổi năm 2009, đó là: “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ
đủ 60 tuổi trở lên”. Tuy nhiên, trong một số phân tích so sánh với các nước về
biến đổi nhân khẩu học cũng như hàm ý chính sách, luận án sử dụng định nghĩa
NCT là người từ 65 tuổi trở lên.
1.2.2. Già hoá dân số
Theo UNFPA (2010) và Tổ chức Hỗ trợ NCT Quốc tế (2012), già hóa dân
số là một trong những xu hướng có ý nghĩa nhất của thế kỷ XXI, có tác động đến
toàn bộ các khía cạnh của đời sống xã hội của thế giới và từng quốc gia. Dân số
già nghĩa là tuổi thọ dân cư tăng lên và đó là hệ quả tích cực của phát triển kinh
tế, chăm sóc y tế và phúc lợi xã hội.
Khái niệm già hóa dân số chỉ quá trình già của dân số, khi trong cơ cấu
dân số có NCT chiếm tỉ lệ ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, tỉ lệ NCT trong tổng
của họ trong sự khốn khổ về vật chất và thờ ơ về tình cảm. Các nghiên cứu chỉ ra
rằng, sự hỗ trợ của người trẻ đối với người già có thể phụ thuộc vào khả năng
của NCT trong việc đóng góp vào nguồn lực - nền tảng của người trẻ - thông qua
đầu tư vào giáo dục, việc làm và các tài sản được truyền qua các thế hệ.