ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG BỒ ĐỀ QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

ĐẶNG TUẤN KIÊN

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG BỒ ĐỀ QUẬN
LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

1


KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

ĐẶNG TUẤN KIÊN
LỚP: ĐH3QĐ1

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã ngành

: 52850103

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Th.S. Bùi Nguyễn Thu Hà

HÀ NỘI – 2017

Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất Phường Bồ Đề (tính đến ngày 31/12/2015)
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí Phường Bồ Đề năm 2015

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của chuyên đề
Đất đai là sản phẩm tự nhiên ban tặng cho con người, là tài sản vô giá đối với
mỗi quốc gia. Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội của đất nước. Từ đất có thể làm ra lương thực, thực phẩm để nuôi
sống con người. Đất đai còn là môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư,
các cơ sở sản xuất, an ninh quốc phòng... Như vậy, đất đai đã gắn liền với quá
trình tồn tại và phát triển của loài người.
Tuy nhiên, hiện nay nước ta đang bước vào công cuộc đổi mới, đất nước
đang ngay một chuyển mình, dân số ngày một tăng nhanh, kèm theo đó là sự phát
triển của các ngành kinh tế, đặc biệt là sự chuyển đổi từ khu vực nông nghiệp sang
khu vực công nghiệp và dịch vụ. Tất cả những vấn đề này đã làm nảy sinh nhiều
mâu thuẫn trong vấn đề quản lý và sử dụng đất. Các mâu thuẫn đó đang có chiều
hướng gia tăng đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội. Vì vậy, vấn đề
quản lý và sử dụng đất phải được đặt ra cho các nhà quản lý đất đai, nhằm bảo vệ
quyền sở hữu đất đai của Nhà nước và đảm bảo việc sử dụng đất có hiệu quả cao.
Đây là vấn đề xuyên suốt trong quá trình sử dụng đất là một vấn đề hết sức phức
tạp, không chỉ đặt ra cho ngành quản lý đất đai mà còn đòi hỏi sự phối hợp chặt
chẽ của các cấp, ngành, với các nhà quản lý đất đai và những người sử dụng đất.
Ngày nay vấn đề đất đai đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, thông qua
việc ban hành một loạt các văn bản pháp luật về đất đai như : Luật Đất đai 1993,


trên địa bàn Phường Bồ Đề.
2.2. Yêu cầu nghiên cứu
- Nắm vững 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
- Nắm vững những văn bản pháp luật liên quan tới tình hình quản lý và sử
dụng đất.

6


- Đánh giá đúng thực trạng quản lý và sử dụng đất ở địa phương trong giai
đoạn từ năm 2010 đến hết năm 2015
- Đưa ra những kiến nghị và đề xuất giải pháp có tính khả thi, phù hợp với
thực tế ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng đất trên
địa bàn Phường Bồ Đề.

7


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ

sở lý luận

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đất đai
a. Khái niệm đất đai:
Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời,
hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình,
thời gian. Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (ha, km 2)
và độ phì nhiêu, màu mỡ.

hoá- xã hội- an ninh quốc phòng.
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nó là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi
quốc gia. Đất đai được cố định về mặt số lượng và có vị trí không thay đổi trong
không gian, nó không mất đi mà chỉ có thể biến đổi từ dạng này sang dạng khác,
từ mục đích sử dụng này sang mục đích sử dụng khác theo nhu cầu của con người.
Chính đặc điểm này là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự khác biệt về giá trị giữa các
mảnh đất ở những vị trí khác nhau.
-

Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành

sản xuất nào để thực hiện mọi quá trình sản xuất, vừa là chỗ đứng, vừa là địa bàn
hoạt động cho tất cả các ngành, nhưng tùy thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai trò
của đất đai có sự khác nhau. Đối với công nghiệp chế tạo, chế biến và xây dựng,
đất chỉ đóng vai trò thụ động là cơ sở trung gian, là nền tảng, là vị trí để thực hiện
quá trình sản xuất, ở đây quá trình sản xuất và hình thành sản phẩm không phụ
thuộc vào tính chất và độ màu mỡ của đất. Trong ngành công nghiệp khai khoáng,
ngoài vai trò cơ sở trung gian, đất còn là kho tàng cung cấp các nguyên liệu quý
giá cho con người, nhưng ngay ở đây quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm
làm ra cũng không phụ thuộc vào chất lượng đất. Riêng trong nông nghiệp thì đất
có vai trò khác hẳn. Đất đai không chỉ là cơ sở không gian, không chỉ là điều kiện
vật chất cần thiết cho sự tồn tại của ngành mà đất còn là một yếu tố tích cực của
sản xuất, quá trình sản xuất nông nghiệp có liên quan chặt chẽ với đất, phụ thuộc

9


rất nhiều vào độ phì nhiêu của đất, phụ thuộc vào các quá trình sinh học tự nhiên.
Như vậy, đất đai là một tư liệu sản xuất cực kỳ quan trọng đối với con người. Sự
quan tâm đúng mức trong quản lý và sử dụng đất đai sẽ làm cho sản lượng thu

hơn, vừa là không gian và địa bàn sản xuất. Điều này có nghĩa đất đai đã cung cấp
cho con người tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều
kiện cần thiết về hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại. Mục
đích sử dụng đất nêu trên được biểu lộ càng rõ nét trong các khu vực kinh tế phát
triển.
Kinh tế xã hội phát triển mạnh,cùng với sự tăng dân số nhanh đã làm cho
mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng những sai lầm liên tục của
con người trong quá trình sử dụng đất đã dẫn đến huỷ hoại mội trường đất, một số
công năng nào đó của đất đai bị yếu đi, vấn đề sử dụng đất đai càng trở nên quan
trọng và mang tính toàn cầu.
1.1.2 Quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản
của đất đai nhằm nắm chắc về số lượng, chất lượng từng loại đất ở từng vùng,
từng địa phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp để thống nhất về quy hoạch, kế
hoạch, sử dụng khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên đất đai trong cả nước
từ Trung ương tới địa phương làm cho người sử dụng đất hiểu được Pháp luật và
thực hiện nghiêm túc, đúng pháp luật về đất đai.
Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và
các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp Luật đất đai và pháp
luật liên quan đến đất đai. Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước xác định
một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; tập trung và
phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của lĩnh vực công và
tư nhân; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức địa chính, quản lý
nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp về chuyên gia tư vấn và
kỹ thuật; hợp tác quốc tế.

11


Tại điều 22 Luật đất đai 2013 cũng đã quy định rõ 15 nội dung quản lý Nhà



Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.



Thống kê, kiểm kê đất đai.



Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.



Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.



Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.



Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp
luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.



Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.


Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013
Như vậy, Luật Đất đai 2013 là công cụ hỗ trợ đắc lực cho Nhà nước trong
công tác quản lý nguồn tài nguyên đất đai. Cùng với Luật Đất đai, Nhà nước cũng
ban hành một loạt các văn bản pháp luật khác tạo ra một hành lang pháp lý cho
công tác quản lý và sử dụng đất.
-

Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Nghị định 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 về sửa đổi bổ sung một số
điều của Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền
sử dụng đất.
Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài Chính về
hướng dẫn thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

13


-

Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và

Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử
dụng đất.
1.3 Cơ sở thực tiễn

gian tư nhân. Không gian công cộng gồm đất đai, tài sản trên đất thuộc sở hữu
Nhà nước và tập thể địa phương. Tài sản công cộng được đảm bảo lợi ích công
cộng có đặc điểm là không thể chuyển nhượng, tức là không mua, bán được.
Không gian công cộng gồm các công sở, trường học, bệnh viện, nhà văn hoá, bảo
tàng ...
Không gian tư nhân song song tồn tại với không gian công cộng và đảm bảo
lợi ích song hành. Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng,
không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình. Chỉ có
lợi ích công cộng mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường chỗ và trong trường
hợp đó, lợi ích công cộng phải thực hiện bồi thường một cách công bằng và tiên
quyết với lợi ích tư nhân.
Ở Pháp, chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm bảo sản
xuất nông nghiệp bền vững và tuân thủ việc phân vùng sản xuất. Sử dụng đất
nông nghiệp, luật pháp quy định một số điểm cơ bản sau:
Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở cũng phải
xin phép chính quyền cấp xã quyết định. Nghiêm cấm việc xây dựng nhà trên đất
canh tác để bán cho người khác.
Thực hiện chính sách miễn giảm thuế, được hưởng quy chế ưu tiên đối với
một số đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng, đất mới
dành cho ươm cây trồng.
Khuyến khích việc tích tụ đất nông nghiệp bằng cách tạo điều kiện thuận lợi
để các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau có thể đàm phán với nhau
nhằm tiến hành chuyển đổi ruộng đất, tạo điều kiện tập trung các thửa đất nhỏ
thành các thửa đất lớn.

15


Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người mua,
muốn bán đất phải xin phép cơ quan giám sát việc mua bán. Việc bán đất nông

lợi và đất mặt nước nuôi trồng.
- Đất xây dựng gồm đất xây dựng nhà ở đô thị và nông thôn, đất dùng cho
mục đích công cộng, đất dùng cho khu công nghiệp, công nghệ, khoáng sản và đất
dùng cho công trình quốc phòng.
- Đất chưa sử dụng là đất không thuộc hai loại đất trên
Ở Trung Quốc hiện có 250 triệu hộ nông dân sử dụng trên 100 triệu ha đất
canh tác, bình quân khoảng 0,4ha/hộ gia đình. Vì vậy Nhà nước có chế độ bảo hộ
đặc biệt đất canh tác.
Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường đối với đất bị trưng dụng theo mục
đích sử dụng đất trưng dụng. Tiền bồi thường đối với đất canh tác bằng 6 đến 10
lần sản lượng bình quân hàng năm của 3 năm liên tiếp trước đó khi bị trưng dụng.
Tiêu chuẩn hỗ trợ định cư cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp bằng từ 4 đến 6 lần giá
trị sản lượng bình quân của đất canh tác/đầu người thuộc đất bị trưng dụng, cao
nhất không vượt quá 15 lần sản lượng bình quân của đất bị trưng dụng 3 năm
trước đó. Đồng thời nghiêm cấm tuyệt đối việc xâm phạm, lạm dụng tiền đề bù
đất trưng dụng và các loại tiền khác liên quan đến đất bị trưng dụng để sử dụng
vào mục đích khác.
Nguồn: Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách đất đai
và sử dụng hợp lý quỹ đất đai – TS. Chu Văn Thỉnh
1.3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất tại Việt Nam
1.3.2.1. Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.
Trải qua các thời kỳ, Việt Nam đã ban hành một hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về đất đai tương đối chi tiết và đầy đủ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc
triển khai đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới người sử
dụng đất.

17





hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai đo đạc bản đồ giải thửa
nhằm nắm lại quỹ đất toàn quốc. Hệ thống bản đồ địa hình cơ bản tỷ lệ 1:50.000
phủ trên cả nước và phủ trùm các vùng kinh tế trọng điểm đã hoàn thành trên 50%
khối lượng theo công nghệ số, hệ quy chiếu quốc gia VN-2000, hệ thống các điểm
toạ độ, độ cao Nhà nước đã được ban hành và Chính phủ ra quyết định đưa vào sử
dụng. Công tác đo đạc, hệ thống ảnh hàng không, ảnh vệ tinh phủ trùm cả nước đã
thực hiện được trên 80% diện tích. Đo đạc bản đồ địa hình đáy biển đã từng bước
phát triển, chuẩn bị đủ cơ sở vật chất để triển khai trên diện rộng trong thời gian
tới.
1.3.2.4. Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được quan tâm và đi trước một
bước. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Thành phố đến năm 2020; kế hoạch
sử dụng đất 5 năm 2015-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và điều
chỉnh hàng năm làm căn cứ để giao đất , cho thuế đất, chuyển mục đích sử dụng
đất theo quy định. Tất cả các xã ngoài thành đã hoàn thành công tác lập quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2020 phục vụ trực tiếp cho công tác giao đất nông nghiệp,
đất ở, đất xây dựng hạ tầng khu dân cư nông thôn, quản lý quỹ đất công ích…
Quy hoạch chi tiết phát triển đô thị đến năm 2020 của tất cả các quận, huyện đã
được Thành phố phê duyệt.
Việc lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2015 - 2020) của Thành phố
đã và đang được triển khai nhằm phục vụ cho công tác quản lý và sử dụng đất
theo đúng quy định của pháp luật.
1.3.2.5. Công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển
mục đích sử dụng đất
Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất là một nội
dung quan trọng trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Nó phản ánh cụ
thể chính sách của Nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ đất đai trong thời


của Trung tâm phát triển quỹ đất bước đầu đã phát huy hiệu quả tốt, góp phần

20


đáp ứng nhu cầu "đất sạch" để thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án đầu
tư nhằm mục đích công cộng
1.3.2.7. Công tác đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất.
Công tác đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là biện pháp Nhà nước nhằm theo dõi tình hình sử dụng
và biến động thường xuyên của đất đai, đồng thời thiết lập quyền sử dụng đất hợp
pháp của người sử dụng đất, tạo cơ sở pháp lý cần thiết để người sử dụng đất và
cơ quan quản lý đất đai thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Công
tác đăng ký quyền sử dụng đất được tiến hành đối với toàn bộ các chủ sử dụng đất
trên địa bàn, không phân biệt chủ sử dụng, mục đích và nguồn gốc sử dụng đất.
Nội dung công tác nhằm thống kê và quản lý toàn bộ quỹ đất hiện đang được sử
dụng của địa phương.
Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là một thủ tục pháp lý trong lĩnh vực quản lý đất đai,
nhằm thiết lập quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất, tạo cơ sở pháp
lý cần thiết để người sử dụng đất và cơ quan quản lý đất đai thực hiện đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ của mình.
Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì nhìn chung việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện chậm, không đạt được tiến độ theo
mục tiêu đề ra. Trong đó vướng mắc và yếu kém nhất hiện nay là việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất có nhà ở tại đô thị. Nguyên nhân của
những bức xúc trong lĩnh vực này cũng được chỉ ra, đó là nhiều địa phương hiểu
không đúng và không đầy đủ những quy định của luật đất đai năm 2003 và các

Quản lý tài chính về đất đai được thực hiện theo nguyên tắc tài chính của
Nhà nước.

22


.
Thuế chuyển quyền sử dụng đất là loại thuế trực thu nhằm huy động vào
ngân sách Nhà nước một phần thu nhập của người sử dụng đất khi chuyển quyền
sử dụng đất.
Lệ phí trước bạ là khoản tiền mà người có nhu cầu xin trước bạ nộp cho cơ
quan thuế để được Nhà nước đảm bảo về mặt pháp lý quyền sở hữu một tài sản.
Tiền sử dụng đất là một khoản tiền mà người sử dụng đất phải nộp khi được
Nhà nước giao đất để làm nhà ở, đầu tư xây dựng nhà để bán, cho thuê; xây dựng
kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê; người đang sử dụng đất được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng từ các loại đất
sản xuất nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng; đất chuyên
dùng và các loại đất khác trước đây khi được Nhà nước giao đất không phải nộp
tiền sử dụng đất; người được mua nhà ở đang thuê, nhà thanh lý, nhà hoá giá
thuộc sở hữu Nhà nước
Lệ phí địa chính là một khoản tiền người sử dụng đất phải trả khi được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức được uỷ quyền giải quyết các công
việc về địa chính như: cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng nhận đăng
ký biến động đất đai, trích lục bản đồ hoặc các văn bản cần thiết trong hồ sơ địa
chính, xác nhận tính pháp lý của các giấy tờ nhà đất.
1.3.2.11. Công tác quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất
Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là
một nội dung mới trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật đất đai
năm 2013 so với những năm trước đây. Đây là một nội dung nhằm xem xét việc

1.3.2.13. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
Nhìn chung nhận thức của người dân cả nước về chính sách đất đai không
đồng đều, ý thức của người sử dụng đất chưa được cao, chưa chấp hành nghiêm
luật đất đai. Trong quá trình sử dụng đất một số tổ chức, doanh nghiệp còn coi
nhẹ việc bảo vệ cảnh quan môi trường dẫn đến ô nhiễm môi trường đất. Chính vì

24


vậy công tác phổ biến, giáo dục luật về đất đai đang từng bước được tuyên truyền
sâu rộng và đặc biệt quan tâm trong cả nước.
Tại địa phương, 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã triển khai công tác
phổ biến Luật Đất đai và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đến các tổ
chức, cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau. Nhiều địa phương đã triển khai
cụ thể đến cả các đối tượng là cán bộ cấp huyện, cấp xã.
Nhìn chung, công tác tuyên truyền pháp luật đất đai đã được triển khai rộng
rãi đến mọi đối tượng với những nội dung thiết thực và hình thức phù hợp được
các Bộ, ngành, các địa phương và được dư luận nhân dân đánh giá cao. Qua đó
đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật đất đai của các tổ
chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất.
1.3.2.14. Công tác giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong quản lý và sử dụng đất đai
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, nó gắn liền với quyền lợi và lợi ích
kinh tế của người sử dụng đất. Đặc biệt cùng với cơ chế thị trường và sự phát triển
của nền kinh tế, đất đai trở nên có giá trị hơn. Do vậy, vấn đề tranh chấp đất đai
xảy ra thường xuyên, phức tạp và quyết liệt; không giải quyết được sẽ gây ra sự
mất ổn định trong xã hội.
Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
trong việc quản lý và sử dụng đất đai: là biện pháp nhằm điều chỉnh các quan hệ
đất đai theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ sử dụng đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status