Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng đất trên địa bàn xã liên bạt, huyện ứng hòa, thành phố hà nội - Pdf 35

MỞ ĐẦU
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban
tặng cho con người. Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các
hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu
sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông
nghiệp, đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất
nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực
thực phẩm nuôi sống con người với giá thành thấp nhất, là một nhân tố quan
trọng của môi trường sống và trong nhiều trường hợp lại chi phối sự phát triển
hay hủy diệt các nhân tố khác của môi trường. Chính vì vậy, sử dụng đất có
hiệu quả và bền vững trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy
trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai.
Xã hội phát triển,dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng
tăng về lương thực và thực phẩm,chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã
hội. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thảo mãn những
nhu cầu ngày càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có
hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên
nhiên và sự thiếu ý thức ủa con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa
kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang
diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do
vậy,việc đánh giá hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và
phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được
các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước có nền kinh tế
nông nghiệp chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

1


Xã Liên Bạt là xã ngoại thành của thành phố Hà Nội, cách trung tâm
thành phố khoảng 21km về phía Nam, có tổng diện tích tự nhiên là 775.38 ha,

nhiên kinh tế xã hội và môi trường của xã.
3. Yêu cầu của đề tài
- Thu thập chính xác số liệu về các loại hình sử dụng đất trên địa bàn
xã.
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã.
- Đề xuất hướng sử dụng đất hiệu quả.
4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
- Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến
thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của
sinh viên trong quá trình làm đề tài.
- Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất của đất sản xuất nông
nghiệp từ đó đề xuất được những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao.

3


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đất đai và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm đất
Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để
sinh tồn. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái
niệm về đất.
Nhà bác học Đôcutraiep (1846-1903) người đặt nền móng đầu tiên cho
khoa học đất cho rằng. Đất là một vật thể có lịch sử tự nhiên hoàn toàn độc
lập, nó là sản phẩm tổng hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và thời
gian. Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến sự tác động của các yếu tố khác
tồn tại trong môi trường xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ
sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người

1.1.2.Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất
trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nói về tầm
quan trọng của đất C.Mac viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, kho tàng
cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư,là nền tảng của tập
thể” (C.Mac 1949). Đối với nông nghiệp: đất đai là yếu tố tích cực của quá
trình sản xuất là điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu
tác động trong quá trình sản xuất như: cầy, bừa, xới, xáo,…) và là tư liệu sản
xuất hay công cụ lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi…). Quá trình sản
xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự
nhiên của đất.
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và
phát triển của mọi nền văn minh,các thành tựu khoa học công nghệ đều được

5


xây dụng trên nền tảng cơ bản - sử dụng đất. Trong nông nghiệp ngoài vai trò
là cơ sở không gian đất còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng:
+ Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình
sản xuất.
+ Tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng
nước, muối khoáng, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng
sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Như vậy, đất trở thành công cụ sản
xuất. Năng suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất.
Trong tất cả các loại tư liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp chỉ có đất mới
có chức năng này. Chính vì vậy có thể nói rằng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu
và đặc biệt trong nông nghiệp.
1.2. Sử dụng đất và những quan điểm sử dụng đất
1.2.1.1. Sử dụng đất là gì

Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I. Theo
N.Borlang - người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các nước phát
triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ
thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ
phì của đất.
Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất
nông nghiệp. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng
những yếu tố đầu vào không kinh tế, thuận lợi để tạo ra nông sản hàng hoá với giá
rẻ.
Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt
trời dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác.
• Yếu tố khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và
phát triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ,
7


không khí, nước và dinh dưỡng. Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và
độ ẩm không khí chính là các yếu tố khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một
trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản
lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về
vĩ độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ
nét theo từng vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,5 0C, lượng mưa
trung bình từ 1.500 - 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm.
Trong khi đó, ở miền nam, khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung
bình 22,6 - 27,50C, lượng mưa trung bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000
giờ/năm.
Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam có 7 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên
chúng ta có thể đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi. Chính vì thế, sử

đất cao.
• Yếu tố cây trồng
Trong sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng là yếu tố trung tâm. Con
người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng. Những sản phẩm
này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người
và cho xuất khẩu.
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất đem lại những
giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và môi trường đất.
Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không
những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất.
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học,
kỹ thuật, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian
sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều. Sản xuất nông nghiệp hàng hoá
phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất. Vì vậy, những tiến bộ trong
công tác giống cây trồng đã tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng hoá.
9


b, Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội
• Yếu tố con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi
dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp
còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất
nông nghiệp được đảm bảo. Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo
theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều,
triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật sinh thái
và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn . Việc đảm
bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết.
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói
riêng, dân số vừa là thị trường cầu của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là

đất nông nghiệp của những người nông dân.
Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá,
người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường,
thông tin thị trường, sức mua... Hơn nữa, các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản
xuất nông nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa
bãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ... có tác động tiêu cực đến môi
trường, nguồn nước, không khí và đất. Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng
các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng
dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực
trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp.
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo
ổn định và lâu dài. Trong những năm qua, Chính phủ đã không ngừng ban
hành sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục
đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn. Luật đất đai sửa
11


đổi (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2003) đã thể chế hoá và nới rộng
quyền của người sử dụng đất. Đây là một chính sách khuyến khích người
nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát
triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả. Mặc dù đất đai thuộc sở hữu
toàn dân nhưng pháp luật công nhận quyền sử dụng lâu dài đối với đất. Người
sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền thừa
kế những đầu tư trên đất. Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát
triển nông nghiệp. Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử
dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế
so sánh của từng vùng, từng miền. Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai
thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như
thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử

hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
một cách bền vững. Thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất nông nghiệp như giống cây trồng vật nuôi mới, các quy trình kỹ
thuật trong canh tác, trong chế biến bảo quản… làm tăng năng suất, chất
lượng cây trồng vật nuôi, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực như đất đai, lao
động, vốn.
Lựa chọn các tác động khoa học kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách
sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật sẽ đạt
được mục tiêu đề ra.
1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới :
Hiện nay toàn bộ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp của thế giới
khoảng 3,3 tỷ ha, chiếm 22% tổng diện tích đất liền (Vũ Ngọc Tuyên, 1994).
Dân số thế giới vẫn tăng đều đặn trong khi đó diện tích đất trồng trọt đang thu
hẹp dần. Đối với các quốc gia đang phát triển sẽ không có khả năng đáp ứng
lương thực cho sự tăng dân số trong tương lai nếu như không áp dụng các

13


biện pháp thâm canh, sử dụng và bảo vệ tốt tài nguyên đất. Do đó sự gia tăng
dân số đang là một áp lực lớn trong quản lý và sử dụng đất đai.
Bảng 1.1. Tình hình diễn biến về dự báo đất canh tác và dân số thế
giới
Dân số

Diện tích đất canh

Diện tích đất canh


2000

6200

1540

0,25

2025

8300

1650

0,20

Năm

Nguồn: Luận án tiến sĩ - Đỗ Nguyên Hải [1999]
Như vậy, qua bảng 2.4 ta thấy rằng diện tích đất canh tác/người giảm
dần theo thời gian. Diện tích đất canh tác bình quân là 0,46 ha/người vào
năm 1965, thì đến năm 2000 chỉ còn là 0,25 ha/người, và dự báo đến năm
2025 chỉ còn là 0,20 ha/người mà nguyên nhân chính là do sự gia tăng dân
số thế giới.
Mặt khác, sự phân bố diện tích đất nông nghiệp trên thế giới lại không
đều, chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ (35%), châu Á (26%), và châu Phi
(20%). Tuy chiếm tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp cao nhưng châu Á lại tập
trung phần lớn dân số thế giới, do đó đất nông nghiệp ở châu lục này đang
phải chịu những áp lực lớn của sự gia tăng dân số để đảm bảo an toàn lương
thực. Ngoài ra diện tích đất canh tác còn bị thu hẹp lại do quá trình đô thị hóa,

60
74

12
247
7
92
72
97

18
191
24
30
51
33

10
58
7
17
27
14

trồng

còn lại

(tr. ha)


số thấp như Lào thì diện tích đất nông nghiệp chưa khai thác chiếm tới 86%
tổng diện tích đất nông nghiệp có khả năng trồng trọt, ngược lại đối với Việt
Nam có dân số đông thì diện tích đất nông nghiệp chưa khai thác chiếm tỷ lệ
thấp hơn. Từ kết quả đánh giá này các nước có thể có những quyết định đúng
trong sản xuất nông nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
1.2.2.2.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và định hướng sử dụng đất
nông nghiệp theo hướng bền vững ở Việt Nam.
1.2.2.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam :
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du
15


miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca. Để đảm bảo đủ dinh
dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung
thường xuyên. Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử
dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện
tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh
dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu. Trong điều kiện nền kinh tế
kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã
gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết
của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường. Tadon
H.L.S chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện
thoái hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải
thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường”.
a.Đất nông nghiệp càng thu hẹp.
Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp năm 2012 của cả nước so với
năm 2005 tăng 1.277.600 ha, trong đó tăng chủ yếu ở loại đất sản xuất nông
nghiệp, đất lâm nghiệp, tình hình tăng giảm các loại đất nông nghiệp được thể
hiện cụ thể qua bảng 1.3 như sau:

2.3
3
4
5

26.100.160
10.117.893
6.437.293
4.127.731
3.680.600
15.249.025
7.389.462
5.719.339
2.140.225
690.218
17.562
25.462

Năm 2005
(ha)
24.822.560
9.415.568
6.370.029
4.165.277
3.045.539
14.677.409
5.434.856
7.173.689
2.068.864
700.061

thời các thảm hoạ thiên cũng là một trong những nguyên nhân làm cho diện
tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp ở nước ta hiện nay.
b. Quy hoạch ruộng đất manh mún
Hiện tượng manh mún biểu hiện có quá nhiều mảnh ruộng với kích
thước quá nhỏ của các mảnh ruộng này không đáp ứng được yêu cầu của sản
17


xuất và sự manh mún thể hiện trên quy mô về đất đai của các đơn vị sản xuất,
số lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các
yếu tố sản xuất khác, dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp, gây
nên những khó khăn trong quy hoạch sản xuất và sử dụng có hiệu quả nguồn
tài nguyên đất đai. Sự manh mún ruộng đất ở nước ta thể hiện rõ nhất và tập
trung nhất là ở đồng bằng sông Hồng. Mức độ manh mún thể hiện cụ thể tiêu
biểu ở những địa phương qua bảng 1.4 như sau:
Bảng 1.4 : Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh Bắc Bộ
Tổng số thửa ruộng/hộ
STT

Tỉnh

1

Hải Phòng

Ít nhất
5

Nhiều nhất


1

19

5

5

Hà Nam

7

37

8

6

Ninh Bình

3,3

24

8

( Nguồn: Viện Quy hoạch và thiết kế (2006), Bộ NN & PT )
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất trên là do sự
phức tạp của trong địa hình địa mạo đất đai ở mỗi địa phương, tâm lí tiểu
nông của các hộ sản xuất nhỏ. Sự manh mún đất đai mang lại những thuận lợi

nhiều biện pháp để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng bến vững, song
đến nay , nông nghiệp Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất manh
mún, nhỏ lẻ, phân tán. Do vậy, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc hoạch định
chiến lược cho sự phát triển bền vững.
Thêm vào đó, một vấn đề lớn mà không ngành hàng xuất khẩu nào
không lo ngại trong bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn, các quốc gia, thị
trường đều tìm cách áp dụng những quy định về hàng rào thuế quan cũng như
chính sách bảo hộ phi thuế quan để giới hạn với các sản phẩm nhập ngoại.

19


Trong khi đó, các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam vẫn đang trong tình trạng
thiếu lợi thế cạnh tranh do những hạn chế trong năng lực sản xuất, chế biến và
tạo dựng thương hiệu uy tín của từng mặt hàng cụ thể.
Nhiều yếu tố đầu vào khác trong sản xuất nông nghiệp cũng không
ngừng tăng lên và theo dự báo tới đây mức tăng sẽ càng lớn, cộng thêm chênh
lệch tỷ giá giữa đồng USD và đồng Việt Nam cũng là lý do khiến cho giá
thành sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam bị đẩy lên, hiệu quả sản xuất thấp
đi và tính cạnh tranh của sản phẩm càng trở nên bấp bênh.
Ngành nông nghiệp đã đề ra mục tiêu là đẩy mạnh sản xuất nhằm khôi
phục đà tăng trưởng, góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô.
Do đó, vấn đề lớn nhất của ngành nông nghiệp hiện nay là thay đổi tập
quán sản xuất từ nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất chuyên nghiệp hơn, nếu
không nông dân sẽ chịu nhiều thiệt thòi hơn và sản phẩm làm ra không được
thị trường ưu chuộng.
Hoạch định hướng đi bền vững,để tạo đà cho nông nghiệp Việt Nam
tiếp tục phát triển ổn định, bền vững trong sản xuất, tạo được sự chuyển biến
mạnh mẽ về năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm, hiệu quả và sức cạnh
tranh cao, góp phần tích cực vào ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô, bảo

Sản xuất trong nông nghiệp ngày càng đa dạng hơn để đáp ứng nhu cầu thị
trường.
* Trồng trọt
- Trong những năm vừa qua trồng trọt vẫn giữ vị trí chủ đạo trong sản
xuất nông nghiệp, trong đó sản xuất lúa chiếm ưu thế .Các cây trồng vụ đông
được phát triển tích cực với đa dạng các chủng loại cây trồng. Một số vùng đã
chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại rau màu và
hoa, cây cảnh có giá trị cao, mở ra hướng mới trong chuyển đổi kinh tế nông
nghiệp nông thôn.

21


- Tăng cường sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp trên địa bàn xã.Trong thời gian tới xã tiếp tục đẩy mạnh việc trồng
trọt, đưa những giống mới năng suất cao vào sản xuất, tăng cường phát triển
các vùng chuyên canh hoa, cây cảnh. Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa, ưu tiên phát triển các loại hình sử dụng đất mang lại
giá trị kinh tế cao, sử dụng bền vững và đảm bảo an toàn lương thực.
* Chăn nuôi
- Tăng cường đẩy mạnh phát triển chăn nuôi. Hiện nay, chăn nuôi được
tiến hành phát triển theo hướng quy mô trang trại gia đình, mở rộng trang trại
chăn nuôi ra xa khu gia đình, đảm bảo vấn đề vệ sinh môi trường.
- Mục tiêu trong tương lai của xã là mở rộng và phát triển nhiều mô
hình chăn nuôi, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi với tốc độ cao. Phát
triển mô hình trang trại chăn nuôi gà công nghiệp hướng trứng, thịt, phát triển
đàn lợn theo hướng giống lợn siêu nạc,…
* Nuôi trồng thủy sản
- Diện tích nuôi trồng thủy sản có xu hướng ngày càng tăng. Diện tích
nuôi cá nước ngọt được phát triển với đa dạng các loại cá đặc sản, cá giá trị

loại cây trồng chưa? Đôi khi việc sử dụng phân bón không hợp lý còn làm
giảm độ phì đất hoặc chưa ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của việc sử dụng
đất đó.
Để trả lời được những vấn đề trên, cần phải có những mô tả chi tiết hơn
trong việc sử dụng đất, vì vậy một khái niệm “Loại hình sử dụng đất” (LUT)
được đề cập đến trong LE.
* Loại hình sử dụng sử dụng đất (Land Use Type – LUT): Là loại hình
đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định. Theo
H.Hulzing (1993) các thuộc tính đó bao gồm:
- Thuộc tính sinh học: các sản phẩm và lợi ích khác;
- Thuộc tính kinh tế - xã hội: định hướng thị trường; khả năng vốn; khả

23


năng lao động; kĩ thuật, kiến thức và quan điểm;
- Thuộc tính kỹ thuật và quản lý: sở hữu đất đai và quy mô quản lý đất; sức
kéo/cơ giới hóa; các đặc điểm trồng trọt; đầu tư vật tư; công nghệ được sử dụng;
năng suất và sản lượng; thông tin kinh tế có liên quan đến đầu vào và đầu ra;
- Thuộc tính về cơ sở hạ tầng: các yêu cầu về hạ tầng cơ sở.
Không phải tất cả các thuộc tính trên đều được đề cập đến như nhau
trong trong các dự án LE mà việc lựa chọn các thuộc tính và mức độ mô tả
chi tiết phụ thuộc vào tình hình sử dụng đất của địa phương cũng như cấp độ,
yêu cầu chi tiết và mục tiêu của mỗi dự án LE khác.
1.3.2. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất :
Đất nông nghiệp là một tài nguyên quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của mỗi quốc gia. Muốn quy hoạch và sử dụng nguồn tài nguyên đất này
một cách hiệu quả, cần đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất để tìm ra lời
giải cho các vấn đề như: Diện tích các loại đất nông nghiệp bằng bao nhiêu?
Cơ cấu mỗi loại đất như thế nào? Đất nông nghiệp đang được sử dụng ra sao?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status