Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng đất trên địa bàn xã liên bạt, huyện ứng hòa, thành phố hà nội - Pdf 35

MỞ ĐẦU
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho
con người. Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạt động kinh
tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể
thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố đầu vào
có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi
trường duy nhất sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi sống con người với giá
thành thấp nhất, là một nhân tố quan trọng của môi trường sống và trong nhiều trường hợp lại chi phối sự phát triển hay hủy diệt các nhân tố khác của môi trường.
Chính vì vậy, sử dụng đất có hiệu quả và bền vững trở thành vấn đề cấp thiết với
mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai.
Xã hội phát triển,dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng
về lương thực và thực phẩm,chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con
người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thảo mãn những nhu cầu ngày
càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích
nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức
ủa con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích
đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng
khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả để sử dụng hợp
lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính
chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước
có nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Xã Liên Bạt là xã ngoại thành của thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành
phố khoảng 21km về phía Nam, có tổng diện tích tự nhiên là 775.38 ha, với 530,99
ha là đất nông nghiệp, chiếm khoảng 68,48% diện tích tự nhiên của xã. Người dân
nơi đây sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu. Trong những năm gần đây, kinh tế
nông nghiệp, nông thôn của Liên Bạt tuy có những bước phát triển mới song nhìn

1





- Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến thức
thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh
viên trong quá trình làm đề tài.
- Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất của đất sản xuất nông nghiệp từ
đó đề xuất được những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao.

3


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đất đai và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm về đất
Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh
tồn. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm về đất.
Nhà bác học Đôcutraiep (1846-1903) người đặt nền móng đầu tiên cho khoa
học đất cho rằng. Đất là một vật thể có lịch sử tự nhiên hoàn toàn độc lập, nó là sản
phẩm tổng hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và thời gian. Tuy vậy, khái
niệm này chưa đề cập đến sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường
xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất,
nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu
trên.
Những năm gần đây trên những tạp chí quốc tế đã xuất hiện một cụm từ mới
“ land husbandry” và được hiểu là chúng ta phải nuôi dưỡng đất. Đất là một vật thể
sống cũng tuân thủ theo những quy luật sống, phát sinh, phát triển, thoái hoá và già
cỗi. Tuỳ thuộc vào thái độ ứng xử của con người đối với đất mà đất có thể trở nên
phì nhiêu hơn, cho năng suất cây trồng cao hơn hay ngược lại.

nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất.
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát
triển của mọi nền văn minh,các thành tựu khoa học công nghệ đều được xây dụng
trên nền tảng cơ bản - sử dụng đất. Trong nông nghiệp ngoài vai trò là cơ sở không
gian đất còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng:
+ Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản
xuất.
+ Tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng nước,
muối khoáng, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng
và phát triển của cây trồng. Như vậy, đất trở thành công cụ sản xuất. Năng suất và
chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất. Trong tất cả các loại tư
liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng này.Chính vì vậy
có thể nói rằng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong nông nghiệp.

5


1.2. Sử dụng đất và những quan điểm sử dụng đất
1.2.1.1. Sử dụng đất là gì
- Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ
người - đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Căn
cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và
bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất
hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới
hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất. Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt
động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng
đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất
đai. Với vai trò là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất
đai được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian

chính là các yếu tố khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một trong những yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ độ
địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng
vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,50C, lượng mưa trung bình từ 1.500
- 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm. Trong khi đó, ở miền nam,
khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 - 27,5 0C, lượng mưa trung
bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm.
Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam có 7 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên chúng
ta có thể đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi. Chính vì thế, sử dụng đất cũng đa
dạng và giảm được rủi ro vì có thể trồng các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới,
á nhiệt đới và cả ôn đới.
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại
cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Nếu như ở trung
du và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp lơ
xanh... ở đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn
đới... thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng cụt... hay miền

7


Đông Nam bộ và Tây Nguyên có thể trồng chôm chôm, trái bơ, thanh long, Sake...
là những cây nhiệt đới điển hình .
Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp với các mức độ khác nhau. Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, nhiệt độ
thấp vào vụ đông và thời kỳ đầu vụ xuân kèm theo ẩm ướt, mưa phùn, thiếu ánh sáng
làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng lại phù
hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới. Trời âm u thiếu ánh sáng cũng là điều
kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng.

• Yếu tố con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi dân số
còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức hạn
chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp được
đảm bảo. Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các nhu
cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất
và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền
vững tài nguyên đất kém hơn . Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở
thành vấn đề cấp thiết.
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân
số vừa là thị trường cầu của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn cung về
lao động cho sản xuất. Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu không có
thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra. Đặc biệt, đối với một nền sản xuất
nông nghiệp hàng hoá thì điều này lại càng trở nên quan trọng.
Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động
sản xuất nông nghiệp. Nếu người nông dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có ý thức trong
sản xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao.
• Yếu tố kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh
hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói
riêng và ngược lại. Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển. Khi kinh tế phát triển, nó sẽ làm tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt được
hiệu quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao làm
nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng.

9


• Cơ chế chính sách
Do có tầm quan trọng đặc biệt nên nông nghiệp, nông thôn luôn giành được


lâu dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà
còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất. Điều đó đã trở thành động lực quan
trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên
đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế
so sánh của từng vùng, từng miền. Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông
thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng
vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây
trồng có giá trị hàng hoá cao. Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp
cũng là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách
đầy đủ và hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành
tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp.
c. Nhóm yếu tố các biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng,
vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình
thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu
biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự
báo thông minh của người sản xuất. Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng
loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm
đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá.
Theo Frank Elli và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực
của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới
đối với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một
đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển
đổi sử dụng đất. Cho đến giữa thế kỷ 20, trong nông nghiệp nước ta các quy trình kỹ
thuật đã đóng góp đến 30% năng suất kinh tế. Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật
đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng
cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá,

Diện tích đất canh

1965

người)
3027

(106 ha)
1380

tác/người (ha)
0,46

1980

4450

1500

0,34

1990

5100

1510

0,30

2000

Mặt khác, sự phân bố diện tích đất nông nghiệp trên thế giới lại không đều,
chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ (35%), châu Á (26%), và châu Phi (20%).
Tuy chiếm tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp cao nhưng châu Á lại tập trung phần lớn
dân số thế giới, do đó đất nông nghiệp ở châu lục này đang phải chịu những áp lực
lớn của sự gia tăng dân số để đảm bảo an toàn lương thực. Ngoài ra diện tích đất
canh tác còn bị thu hẹp lại do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa.
Đối với một số nước Đông Nam Á, chủ yếu là các quốc gia đang phát triển,
nông nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước, tiềm năng đất
nông nghiệp được các nhà khoa học đánh giá và được thể hiện qua bảng 1.2 sau:
Bảng 1.2. Dân số và tiềm năng đất nông nghiệp của một số nước Đông Nam Á
Nước

Dân số
(tr. người)
Năm Năm

1995
Camphuchia
9
Inđônêxia
195
Lào
5
Philippin
70
Thái Lan
60
Việt Nam
74



Tiềm năng

tích còn diện tích
lại

trồng trọt

3
7
70
23
35
60
1
6
86
12
5
29
19
8
30
8
6
43
( Nguyễn Quang Học ,1999)

Như vậy qua bảng 1.2 ta thấy tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp ở một số
nước Đông Nam Á là rất lớn. Đặc biệt là đối với những nước có dân số thấp như

Bảng 1.3. Biến động đất nông nghiệp của cả nước

14


STT

1
1.1
1.2
2
2.1
2.2
2.3
3
4
5

Chỉ tiêu
Đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất trồng cây hàng năm
Trong đó: Đất trồng lúa
Đất trồng cây lâu năm
Đất lâm nghiệp
Đất rừng sản xuất
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất làm muối

14.677,409
571,616
7.389,462
5.434,856
1.954,606
5.719,339
7.173,689
-1.454,350
2.140,225
2.068,864
71,361
690,218
700,061
-9,843
17,562
14,075
3,487
25,462
15,447
10,015
(Bộ Tài nguyên và Môi trường,2010)

Như vậy diện tích đất trồng lúa của nước ta năm 2010là 4.127,731 ha, so với
năm 2005 đã giảm 37,546 nghìn ha, trong đó, giảm nhiều nhất ở đồng bằng sông
Hồng, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là
2,1%, ở nhiều vùng khác dưới 0,5%. Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, Điều đáng
nói là phần lớn các sân golf ở Việt Nam đều nằm trên những khu đất trước kia vốn
là đất canh tác nông nghiệp. Một nguyên nhân nữa làm đất nông nghiệp bị thu hẹp
là do các quyết định thu hồi đất nhằm mục đích khác như xây dựng công viên nghĩa
trang hiện nay cũng đáng báo động khi triển khai các dự án này chiếm dụng đất

Hà Nam
Ninh Bình

Ít nhất
Nhiều nhất
Trung bình
5
18
6
9
17
1
7
47
9
1
19
5
7
37
8
3,3
24
8
( Viện Quy hoạch và thiết kế (2006), Bộ NN & PT )

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất trên là do sự phức tạp
của trong địa hình địa mạo đất đai ở mỗi địa phương, tâm lí tiểu nông của các hộ
sản xuất nhỏ. Sự manh mún đất đai mang lại những thuận lợi như giảm thiểu về rủi
ro, linh hoạt trong việc để lại thừa kế, thực hiện việc chuyển nhượng và bố trí sử

vậy, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc hoạch định chiến lược cho sự phát triển bền
vững.
Thêm vào đó, một vấn đề lớn mà không ngành hàng xuất khẩu nào không lo
ngại trong bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn, các quốc gia, thị trường đều tìm
cách áp dụng những quy định về hàng rào thuế quan cũng như chính sách bảo hộ
phi thuế quan để giới hạn với các sản phẩm nhập ngoại. Trong khi đó, các sản phẩm
nông nghiệp Việt Nam vẫn đang trong tình trạng thiếu lợi thế cạnh tranh do những
hạn chế trong năng lực sản xuất, chế biến và tạo dựng thương hiệu uy tín của từng
mặt hàng cụ thể.
Nhiều yếu tố đầu vào khác trong sản xuất nông nghiệp cũng không ngừng
tăng lên và theo dự báo tới đây mức tăng sẽ càng lớn, cộng thêm chênh lệch tỷ giá
giữa đồng USD và đồng Việt Nam cũng là lý do khiến cho giá thành sản phẩm nông
nghiệp của Việt Nam bị đẩy lên, hiệu quả sản xuất thấp đi và tính cạnh tranh của
sản phẩm càng trở nên bấp bênh.
Ngành nông nghiệp đã đề ra mục tiêu là đẩy mạnh sản xuất nhằm khôi phục
đà tăng trưởng, góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô.

17


Do đó, vấn đề lớn nhất của ngành nông nghiệp hiện nay là thay đổi tập quán
sản xuất từ nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất chuyên nghiệp hơn, nếu không nông
dân sẽ chịu nhiều thiệt thòi hơn và sản phẩm làm ra không được thị trường ưu
chuộng.
Hoạch định hướng đi bền vững,để tạo đà cho nông nghiệp Việt Nam tiếp tục
phát triển ổn định, bền vững trong sản xuất, tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về
năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, góp phần
tích cực vào ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội cho khu
vực nông thôn và nông dân; chúng ta cần thay đổi tập quán sản xuất và có biện pháp
đẩy mạnh sản xuất nhằm khôi phục đà tăng trưởng, góp phần ổn định và tăng

- Trong những năm vừa qua trồng trọt vẫn giữ vị trí chủ đạo trong sản xuất
nông nghiệp, trong đó sản xuất lúa chiếm ưu thế .Các cây trồng vụ đông được phát
triển tích cực với đa dạng các chủng loại cây trồng. Một số vùng đã chuyển đổi diện
tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại rau màu và hoa, cây cảnh có giá trị
cao, mở ra hướng mới trong chuyển đổi kinh tế nông nghiệp nông thôn.
- Tăng cường sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
trên địa bàn xã.Trong thời gian tới xã tiếp tục đẩy mạnh việc trồng trọt, đưa những
giống mới năng suất cao vào sản xuất, tăng cường phát triển các vùng chuyên canh
hoa, cây cảnh. Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ưu
tiên phát triển các loại hình sử dụng đất mang lại giá trị kinh tế cao, sử dụng bền
vững và đảm bảo an toàn lương thực.
* Chăn nuôi
- Tăng cường đẩy mạnh phát triển chăn nuôi. Hiện nay, chăn nuôi được tiến
hành phát triển theo hướng quy mô trang trại gia đình, mở rộng trang trại chăn nuôi
ra xa khu gia đình, đảm bảo vấn đề vệ sinh môi trường.
- Mục tiêu trong tương lai của xã là mở rộng và phát triển nhiều mô hình
chăn nuôi, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi với tốc độ cao. Phát triển mô
hình trang trại chăn nuôi gà công nghiệp hướng trứng, thịt, phát triển đàn lợn theo
hướng giống lợn siêu nạc,…
* Nuôi trồng thủy sản
- Diện tích nuôi trồng thủy sản có xu hướng ngày càng tăng. Diện tích nuôi

19


cá nước ngọt được phát triển với đa dạng các loại cá đặc sản, cá giá trị kinh tế cao.
Các loại thủy sản nước ngọt được tăng cường các giống loại có hiệu quả kinh tế cao
như: cá quả, ba ba, ếch, cá rô đồng,rô phi,cá trắm đen…
- Trong thời gian tới tiếp tục khai thác tốt các tiềm năng đất đai, nguồn lợi
biển. Phát triển toàn diện kinh tế thủy sản trên các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác,

biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định. Theo H.Hulzing
(1993) các thuộc tính đó bao gồm:
- Thuộc tính sinh học: các sản phẩm và lợi ích khác;
- Thuộc tính kinh tế - xã hội: định hướng thị trường; khả năng vốn; khả năng
lao động; kĩ thuật, kiến thức và quan điểm;
- Thuộc tính kỹ thuật và quản lý: sở hữu đất đai và quy mô quản lý đất; sức
kéo/cơ giới hóa; các đặc điểm trồng trọt; đầu tư vật tư; công nghệ được sử dụng; năng
suất và sản lượng; thông tin kinh tế có liên quan đến đầu vào và đầu ra;
- Thuộc tính về cơ sở hạ tầng: các yêu cầu về hạ tầng cơ sở.
Không phải tất cả các thuộc tính trên đều được đề cập đến như nhau trong
trong các dự án LE mà việc lựa chọn các thuộc tính và mức độ mô tả chi tiết phụ
thuộc vào tình hình sử dụng đất của địa phương cũng như cấp độ, yêu cầu chi tiết và
mục tiêu của mỗi dự án LE khác.
1.3.2. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Đất nông nghiệp là một tài nguyên quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của mỗi quốc gia. Muốn quy hoạch và sử dụng nguồn tài nguyên đất này một cách
hiệu quả, cần đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất để tìm ra lời giải cho các vấn
đề như: Diện tích các loại đất nông nghiệp bằng bao nhiêu? Cơ cấu mỗi loại đất như
thế nào? Đất nông nghiệp đang được sử dụng ra sao? Hiệu quả sử dụng cao hay
thấp? Những nhân tố nào làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp?
Giải pháp cần thực thi để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Tại Việt Nam - một nước nông nghiệp, đất nông nghiệp có vai trò đặc biệt
quan trọng. Trong những năm qua dù đã có nhiều đổi mới phù hợp với điều kiện
thực tế hơn, diện tích đất nông nghiệp có sự tăng đáng kể theo thời gian, song diện
tích đất lúa lại giảm đi, kèm theo đó công tác quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là đất
nông nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến hiệu quả sử dụng đất thấp, gây lãng phí

21





Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững về mọi
mặt, việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại các tỉnh vùng
cao, miền núi – những vùng đất đai rộng lớn nhiều tiềm năng nhưng cũng có nhiều
khó khăn và ẩn chứa nhiều rủi ro là việc hết sức quan trọng. Bên cạnh đó đánh giá
hiệu quả mỗi loại hình sử dụng đất là một việc làm cụ thể và có ý nghĩa, giúp cho
các địa phương lựa chọn được những phương án sản xuất kinh doanh, vừa mang lại
thu nhập cao, ổn định, tăng khả năng ứng phó biến đổi khí hậu, vừa giảm bớt các
nguy cơ làm giảm suy thoái môi trường.
1.3.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Trước đây, người ta thường
quan niệm kết quả chính là hiệu quả. Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau
giữa hiệu quả và kết quả. Nói một cách tổng quát và chung nhất thì hiệu quả chính
là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại .
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
hướng tới; nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là
hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao
động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời
gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được
sản xuất ra trong một đơn vị thời gian .
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích
của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu
thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải
xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết
quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt
động tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội
dung của đánh giá hiệu quả .
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng

- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy
luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ
thống.

24


- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi
ích của con người.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của
nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và
tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế sử
dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải
vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội" .
- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Mối quan hệ
này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ
thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H=K-C
H = K/C
H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0)
Trong đó:
+ H: Hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status