QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH và tổ CHỨC bộ máy QUẢN lý HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH từ năm 1884 đến năm 1921 - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------

NGUYỄN VĂN NGỌC

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1921

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI, 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------

NGUYỄN VĂN NGỌC

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1921
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Văn Khánh
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG


Tác giả

Nguyễn Văn Ngọc


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện Luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ quý báu của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài Trường.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS. Nguyễn
Văn Khánh – Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn, Viện trưởng Viện Chính sách và Quản lý, người đã trực tiếp chỉ bảo,
giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và các thầy giáo, cô giáo Khoa
Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã hết lòng giảng dạy
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và
thực hiện Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Lãnh đạo và tập thể cán bộ giảng viên khoa Lưu trữ học và
Quản trị Văn phòng, nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, làm việc và thực hiện Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
I, Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định, Bảo tàng tỉnh Nam Định,
Thư viện tỉnh Nam Định, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu
thập tư liệu để thực hiện Luận văn này.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2017



1.2.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và lịch sử khai thác lãnh thổ
vùng đất Nam Định............................................................................29
1.2.2. Vùng đất có vị trí chiến lược về an ninh - quốc phòng .....................32
1.2.3. Vùng đất giàu truyền thống văn hóa..................................................36
Tiểu kết chƣơng 1 ............................................................................38

1


CHƢƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH THÀNH PHỐ
NAM ĐỊNH TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1921...............................39
2.1. Trung tâm đô thị Nam Định trƣớc năm 1884 ........................39
2.1.1. Các trung tâm đô thị ở Nam Định trước thời Nguyễn
(Thế kỷ X - Thế kỷ XVIII) ................................................................39
2.1.2. Trung tâm đô thị ở Nam Định dưới triều Nguyễn (1802 - 1884)......41
2.2.

Quá trình hình thành thành phố Nam Định từ năm 1884
đến năm 1920....................................................................................46

2.2.1. Quá trình quy hoạch đô thị ................................................................46
2.2.2. Kiến thiết hệ thống cơ sở hạ tầng ......................................................48
2.2.3. Quá trình hình thành và phát triển công nghiệp ở thành phố
Nam Định...........................................................................................50
2.2.4. Hoạt động thương mại và dịch vụ .....................................................52
2.2.5. Tình hình dân cư ................................................................................54
2.3.

Sự ra đời thành phố Nam Định năm 1921 ....................................56

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngay sau khi xâm lược và mở rộng địa bàn chiếm đóng trên đất nước
ta, thực dân Pháp đã nhanh chóng xây dựng tổ chức chính quyền tại các vùng
đất chiếm được nhằm đối phó với các phong trào yêu nước của nhân dân các
địa phương đang dâng cao. Theo đó, hàng loạt bộ máy quản lý hành chính
các cấp, các cơ quan chuyên môn đã được thực dân Pháp thiết lập. Trong đó
đáng lưu ý nhất là việc thiết lập bộ máy hành chính quản lý các đô thị, những
nơi làm việc, sinh sống của đại bộ phận người nước ngoài và cũng là nơi
nhanh chóng tiếp thu văn minh phương Tây. Việc nghiên cứu quá trình hình
thành và bộ máy quản lý đô thị ở Việt Nam thời thuộc địa là một việc làm có
ý nghĩa.
Tỉnh Nam Định nằm ở phía đông nam của đồng bằng châu thổ sông
Hồng, vốn là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa. Cho đến nay, thành
phố Nam Định đã có lịch sử gần 800 năm hình thành và phát triển. Ngay từ
thế kỷ 13- 14, nhà Trần đã cho xây dựng ở đây hành cung Thiên Trường, là
chốn lui về nghỉ ngơi của hoàng tộc và là nơi hội họp của triều đình khi cần
thiết. Hiện nay, thành phố Nam Định là đô thị trọng điểm của vùng kinh tế
nam Đồng bằng Bắc Bộ.
Dưới thời Pháp thuộc, Nam Định đã nhanh chóng trở thành một trung
tâm kinh tế sầm uất với ngành công nghiệp dệt nổi tiếng. Trước yêu cầu của
việc phát triển, năm 1921 chính quyền thuộc địa đã tiến hành quy hoạch địa
giới trung tâm đô thị Nam Định thành lập nên thành phố Nam Định và xây
dựng bộ máy tổ chức quản lý đô thị nhằm đảm bảo cho sự phát triển toàn diện
và lâu dài. Việc nghiên cứu về quá trình hình thành và bộ máy quản lý đô thị
ở Bắc Kỳ nói chung và thành phố Nam Định nói riêng hứa hẹn sẽ có những
4



Ngoài ra cũng phải kể đến loạt bài của tác giả người Pháp Emmanuel
Poisson viết về “Quan chức, thuộc viên hành chính cấp tỉnh và địa phương tại
Bắc Kỳ (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20)- Những tiếp cận bước đầu”. Được đăng
trên số 3 và số 4 năm 1997 của Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. Sau này, tác giả
đã cho xuất bản cuốn sách mang tên Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam - một
bộ máy hành chính trước thử thách (1820 – 1918) bằng tiếng Việt do Nhà
xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2006. Mặc dù các nhận định của tác giả đưa
ra còn nhiều tranh luận nhưng các kết quả nghiên cứu đã đem đến một cách
tiếp cận mới mẻ về vấn đề này.
Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây vấn đề nghiên cứu về tổ chức bộ
máy hành chính các đô thị thời thuộc địa đã thu hút được sự quan tâm của các
học giả trong và ngoài nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án
tiến sĩ nghiên cứu về quá trình hình thành các đô thị và tổ chức bộ máy quản
lý các đô thị này. Trong đó có thể kể đến Luận Án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử
của tác giả Nguyễn Quang Hồng với tựa đề: “Thành phố Vinh- Quá trình hình
thành và phát triển (Từ năm 1804 đến trước Cách mạng tháng Tám năm
1945)” được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2000; Phạm
Thị Tuyết với tựa đề “Đô thị Hải Dương thời thuộc địa (1883- 1945)” được
bảo vệ tại Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội I năm 2011; Luận Án Tiến sĩ
Lịch sử của tác giả Nguyền Hoài Phương viết về Thành phố Hải Phòng thời
thuộc địa được bảo vệ tại Trường ĐHQGHN năm 2014.
Trên các tạp chí khoa học cũng xuất hiện nhiều bài viết nghiên cứu về
tổ chức bộ máy hành chính thời thuộc địa như bài viết “Hệ thống chính quyền
thành phố Hà Nội thời Pháp thuộc và vai trò của nó trong quản lý và phát triển
đô thị” được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 9 năm 2007. Bằng việc
khai thác nguồn tài liệu lưu trữ, tác giả đã giới thiệu cụ thể và đầy đủ về hệ
thống chính quyền Thành phố Hà Nội trước năm 1945. Chúng tôi đặc biệt quan
6



khảo cứu, nghiên cứu công phu về tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam
trong suốt 10 thế kỷ của thời kỳ độc lập tự chủ. Các kết quả nghiên cứu của
tác giả đã mang đến cho chúng tôi những nguồn tư liệu và nhận thức quan
trọng để thực hiện nghiên cứu của mình.
Năm 2016, tác giả Nguyễn Đình Tư đã cho xuất bản bộ sách: “Chế độ
thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ 1859- 1954” gồm 2 tập. Đây là một công
trình nghiên cứu đồ sộ, có hệ thống về quá trình thiết lập và hoàn bị chế độ
cai trị của thực dân Pháp ở Nam Kỳ trong vòng gần 1 thế kỷ. Trong tập 1 của
bộ sách, tác giả đã giới thiệu quá trình hình thành và mô hình tổ chức quản lý
nhiều đô thị tiêu biểu ở Nam Kỳ như: Sài Gòn, Chợ Lớn, Long Xuyên, Mỹ
Tho...Hệ thống tư liệu, các nhận định, đánh giá của tác giả là nguồn thông tin
quan trọng để chúng tôi tiến hành so sánh và đối chiếu để làm sinh động hơn
kết quả nghiên cứu của mình.
Bên cạnh đó cũng phải kể đến công trình “Lịch sử đô thị Việt Nam- Tư
liệu và nghiên cứu” của tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Lịch sử Trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là một tuyển
tập công trình các bài viết khai thác các khía cạnh khác nhau của đô thị Việt
Nam trong quá khứ và hiện tại. Một số kết quả nghiên cứu trong công trình này
có ý nghĩa tham khảo thực sự với đề tài mà chúng tôi đang thực hiện.
Thành phố Nam Định đã sớm được quan tâm trong các công trình
nghiên cứu về địa dư Bắc Kỳ và địa dư tỉnh Nam Định. Trong các công trình:
“ Nam Định tỉnh địa dư chí” của Nguyễn Ôn Ngọc viết năm 1895 hay “Tân
Biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược” của Khiếu Năng Tĩnh viết năm 1915;
“Đại Việt Địa Dư” của Lương Văn Can viết năm 1925 đã ít nhiều trình bày
về địa giới hành chính, lịch sử hình thành và cơ cấu dân cư, bộ máy tổ chức
thành phố Nam Định thời kỳ đó. Đây là những cứ liệu quan trọng cho các
công trình nghiên cứu về thành phố Nam Định sau này.
8


Paul Doumer (1897- 1902) mang tựa đề “Xứ Đông Dương”. Cuốn sách mang
lại nhiều cảm nhận thú vị cho bạn đọc. Trong phần giới thiệu về các tỉnh ở
Đồng bằng Châu thổ Bắc Kỳ, tác giả đã dành nhiều tâm huyết để mô tả về
thành phố Nam Định lúc bấy giờ. Đây là những thông tin có ý nghĩa quan
trọng để chúng tôi tiến hành phục dựng và mô tả lại diện mạo thành phố Nam
Định thời thuộc địa.
Như vậy, có thể thấy bộ máy tổ chức chính quyền Việt Nam thời
thuộc địa và thành phố Nam Định cũng đã trở thành những chủ đề thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và cũng đã gặt hái được nhiều kết
quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách có hệ thống về quá trình hình thành và tổ chức bộ máy
quản lý hành chính thành phố Nam Định từ năm 1884 đến năm 1921.
3. Mục đích nghiên cứu
Với việc tập hợp và phân tích các nguồn tư liệu khác nhau, luận văn
mong muốn sẽ khắc họa một cách hệ thống, chân thực và đầy đủ về quá trình
hình thành và bộ máy quản lý hành chính thành phố Nam Định từ năm 1884
đến năm 1921.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành và bộ máy
quản lý thành phố Nam Định từ năm 1884 đến năm 1921, bao gồm sự hình
thành thành phố Nam Định và tổ chức bộ máy quản lý thành phố, chính quyền
cấp khu phố.
Phạm vi không gian nghiên cứu chính của đề tài là khu vực đô thị
trung tâm tỉnh Nam Định và sau này là thành phố Nam Định theo Nghị định
ngày 17 tháng 10 năm 1921 của toàn quyền Đông Dương.
Phạm vi thời gian của đề tài từ năm 1884 đến năm 1921.

10


được dùng để tìm kiếm, khai thác nguồn tư liệu phục vụ cho đề tài.
-

Phương pháp đối chiếu, so sánh được sử dụng để phân loại,

chỉnh lý và phê khảo nguồn sử liệu nhằm chắt lọc những thông tin ý
nghĩa và tin cậy để sử dụng cho quá trình nghiên cứu.
11


-

Phương pháp phân tích, thống kê mô tả sẽ giúp chúng tôi đưa ra

những nhận định quan trọng dựa trên nguồn tư liệu thu thập được.
6. Đóng góp của luận văn
Bằng việc khai thác triệt để và hiệu quả các nguồn tư liệu, luận văn đã
phục dựng lại một cách đầy đủ, chân thực và hệ thống quá trình hình thành
thành phố Nam Định và bộ máy quản lý hành chính Thành phố từ năm 1884
đến năm 1921
Rút ra những nhận xét, đánh giá quan trọng về quá trình hình thành,
phát triển và chuyển biến của thành phố Nam Định cuối thế kỷ XIX- đầu thế
kỷ XX.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, bố cục luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử và các điều kiện hình thành thành phố
Nam Định
Chương 2: Quá trình hình thành thành phố Nam Định từ năm 1884
đến năm 1921

Một năm sau đó, ngày 6 tháng 6 năm 1884, hiệp ước Patenôtre gồm 19
điều khoản được ký kết giữa triều đình Huế và đại diện chính phủ Pháp thay
thế hiệp ước Harmand. Theo đó, nhà Nguyễn đã đầu hàng hoàn toàn, chấp
nhận sự thống trị của thực dân Pháp với toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Nước ta
bị chia cắt thành 3 kỳ, với 3 chế độ khác nhau. Nam Kỳ là đất thuộc địa; Bắc

13


Kỳ là xứ bảo hộ [39;577-581]. Ở Trung Kỳ, triều đình Huế có quân đội riêng
nhưng thực chất phụ thuộc vào đại diện của chính phủ Pháp (Khâm sứ). Hiệp
ước Patenôtre đã đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp trên
đất Việt Nam đúng như đánh giá của Giáo sư Nguyễn Phan Quang “Hiệp ước
Patenôtre hoàn thiện việc biến nước ta thành nước thuộc địa của Pháp đồng
thời xác định rõ vị thế mới của nhà Nguyễn- vị thế tay sai lệ thuộc- của chính
quyền thực dân Pháp cả về đối nội lẫn đối ngoại” [31; 334]
Hiệp ước Patenôtre được ký kết trong hoàn cảnh Việt Nam có nhiều
diễn biến rất phức tạp. Trong triều đình Huế, cuộc tranh đấu giữa các phe phái
diễn ra rất quyết liệt. Vua Hàm Nghi lên ngôi khẳng định sự thắng thế của phe
chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết.
Phe chủ chiến đã ráo riết chuẩn bị cho cuộc chính biến ở kinh thành
Huế đồng thời di chuyển lực lượng và khí giới ra sơn phòng Tân Sở (Quảng
Trị) để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Khi phát hiện ra sự nghi ngờ
của thực dân Pháp, Tôn Thất Thuyết đã quyết định nổ súng trước để giành thế
chủ động vào đêm mùng 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885. Bị tấn công bất
ngờ trong đêm nhưng quân Pháp vẫn tử thủ, chờ trời sáng để phản công. Quân
triều đình chống trả rất anh dũng. Đến trưa ngày 5 tháng 7 năm 1885, trước
ưu thế vượt trội về hỏa lực của giặc, quân triều đình rút khỏi kinh thành Huế
chạy về Tân Sở (Quảng Trị) chuẩn bị lực lượng kháng Pháp lâu dài [31; 336].
Ở các địa phương, phong trào kháng Pháp diễn ra rất sôi nổi. Đặc biệt

chính quyền trên địa bàn đã giành được quyền kiểm soát. Ở Nam Kỳ ngay từ
năm 1862, sau hiệp Nhâm Tuất với những nhượng bộ đáng kể của triều
Nguyễn, thực dân Pháp đã bước đầu thiết lập ở đây bộ máy chính quyền tay
sai [39; 141]. Tuy nhiên, những cố gắng ban đầu này chỉ như những giải pháp
tình thế trên những địa bàn cụ thể nhằm nhanh chóng đối phó với những cuộc
đấu tranh của nhân dân địa phương.
15


Cho đến năm 1897, tổ chức hành chính của Liên bang Đông Dương
vẫn nằm trong tình trạng phân tán và biệt lập cả về quyền lực lẫn cấu trúc
chính quyền. Bởi thế, việc quản lý hành chính ở Đông Dương gặp rất nhiều
khó khăn. Toàn quyền Đông Dương trên danh nghĩa là người đứng đầu Đông
Dương, có quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng trên thực tế, ảnh
hưởng của ông ta chỉ ở các tỉnh Bắc Kỳ, một bộ phận của xứ Đông Dương.
Tình trạng này bắt được đầu được cải thiện rõ rệt sau khi Paul Doumer
sang nhận chức Toàn quyền Đông Dương và được những người kế nhiệm tiếp
tục điều chỉnh, hoàn thiện trong thời gian sau đó. Mặc dù vậy, trong suốt 20
năm đầu của thế kỷ XX, công cuộc xây dựng bộ máy chính quyền thuộc địa ở
Đông Dương diễn ra liên tục nhưng không đồng nhất. Mỗi viên toàn quyền lại
có những đường lối cai trị riêng từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống
chính trị ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.
Paul Doumer sang nhận nhiệm vụ ở Đông Dương sau những mệt mỏi
của chính quốc trước những cuộc nổi loạn của người bản xứ. Bởi vậy, dưới
góc độ cá nhân, ông cũng khá do dự khi tới xứ sở xa lạ này công tác [29, 2731]. Đến khi thực sự phải gánh vác trọng trách người đứng đầu Đông Dương,
Paul Doumer đã có những trăn trở nhất định trong việc thiết lập chế độ cai
trịở thuộc địa. Ông đã dành trọn những tháng ngày đầu tiên trong nhiệm kỳ
công tác của mình để tìm hiểu vùng đất và con người nơi đây. Và chính ông
cũng nhận ra rằng Đông Dương đang ở trong tình trạng phân tán, thiếu thống
nhất của bộ máy chính quyền thuộc địa. Chính vì thế, Paul Doumer đã nhanh

Tại Bắc Kỳ, Paul Doumer đã tách Toàn quyền Đông Dương ra khỏi
việc điều hành trực tiếp Bắc Kỳ như trước đây và trao cho Thống sứ Bắc Kỳ
quyền cai trị trực tiếp xứ này. Nha Kinh lược Bắc Kỳ vốn không được người
Pháp ủng hộ bởi những nguy cơ tiềm ẩn đã chính thức bị giải tán. Từ đây,
việc cai trị Bắc Kỳ hoàn toàn do thực dân Pháp quản lý và Bắc kỳ trên thực tế
trở thành một xứ bán bảo hộ.
17


Khác với người tiền nhiệm của mình, Toàn quyền Paul Beau lại chủ
trương hợp tác với người bản xứ. Ông muốn thiết lập một bộ máy cai trị theo
hướng giải tập trung hóa, trung ương tản quyền và thực hành hợp tác với
người bản xứ [40; 43]. Dưới thời ông làm toàn quyền, một số chức danh
đứng đầu các địa phương do người bản xứ đảm trách được lập lại. Hội đồng
hàng tỉnh của phủ công sứ được lập ra. Lần đầu tiên, Phòng Tư vấn Bản xứ
Bắc Kỳ được tổ chức năm 1907 và hoàn thiện về chức năng, tên gọi vào các
năm 1908 và 1913.
Việc cải cách bộ máy chính quyền của Paul Beau bị gián đoạn khi
người kế nhiệm ông là Klobukowski muốn quay trở lại “tinh thần Paul
Doumer” để thiết lập một bộ máy chính quyền tập trung hóa nhằm đối phó
với sự bất ổn của xã hội dưới tác động của các phong trào yêu nước đang diễn
ra mạnh mẽ trong thời gian này.
Phải đến khi Albert Sarraut sang làm toàn quyền Đông Dương vào năm
1911, những chủ trương cải cách bộ máy chính quyền của Paul Beau mới tiếp
tục được triển khai và phát triển trên một tầm cao mới. Ông cho rằng “ Phải
tôn trọng một cách thành thật truyền thống, phong tục, thiết chế của người
bản xứ, trung thành với quan niệm về chế độ bảo hộ, đảm bảo thực hiện tự do
những hiệp ước, những mặt khác đảm bảo thực hành những quyền hạn mà
chính quyền của nước Pháp đã phó thác cho đại diện của mình, cứu thoát sự
tự do cá nhân…, xóa bỏ những phong tục hàng ngàn đời…., nhân rộng các

chia thành 4 khu vực hành chính lớn đặt dưới sự cai trị của 3 viên chức phụ
trách hành chính, tư pháp và thuế khóa. Dưới các khu là các tỉnh do quan chủ
tỉnh người Pháp đứng đầu. Tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, bên cạnh hệ thống chính
quyền người Pháp đứng đầu là công sứ và tòa công sứ chịu trách nhiệm công
việc của người Âu và người Á khác, người Pháp vẫn duy trì hệ thống chính
quyền bản xứ đứng đầu là các tổng đốc, tuần phủ để giải quyết các vấn đề liên
quan đến người bản xứ. Tuy nhiên vai trò chỉ đạo chính và quyền lực thực tế
19


vẫn nằm trong tay các công sứ người Pháp. Ngoài ra tại các tỉnh, chính quyền
thực dân còn cho thành lập các hội đồng với sự tham gia của đại diện người
bản xứ để tư vấn cho chính quyền cấp tỉnh khi cần thiết.
Tại các trung tâm kinh tế, chính trị lớn, người Pháp còn cho thành lập
các thành phố. Cho đến đầu thế kỷ XX ở Việt Nam có các thành phố gồm: Sài
Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Chợ Lớn. Việc quản lý các thành phố được tiến
hành theo quy chế riêng. Đứng đầu các thành phố là các thị trưởng. Đây là
người chịu trách nhiệm công bố và thực hiện các đạo luật, quy chế, thực hiện
các biện pháp an ninh chung. Giúp việc cho thị trưởng là phó thị trưởng, các
cơ quan chuyên môn thuộc tòa thị chính và các hội đồng của thành phố.
Như vậy có thể thấy trong suốt 20 năm đầu của thế kỷ XX, những
người đứng đầu Đông Dương rất quan tâm đến quá trình thiết lập và xây dựng
bộ máy cai trị ở thuộc địa. Tuy nhiên, chủ trương xây dựng và phát triển hệ
thống hành chính ở Đông Dương không đồng nhất giữa các nhiệm kỳ của các
viên Toàn quyền. Trong đó nổi lên hai xu hướng chủ yếu trong tư tưởng xây
dựng bộ máy chính quyền thuộc địa là mô hình tập quyền và mô hình phân
quyền với sự tham gia của người bản xứ. Sự khác biệt trong đường lối cai trị
xuất phát từ nhận thức thực tế của những người đứng đầu chính quyền thuộc
địa về tình hình Đông Dương ở mỗi thời kỳ khác nhau. Đồng thời, chủ trương
xây dựng bộ máy cai trị thuộc địa cũng là tiền đề quan trọng cho những mục

thống giao thông vận tải cũng hỗ trợ đắc lực cho chính quyền thực dân đảm
bảo tình hình chính trị- xã hội ở thuộc địa trước các phong trào nổi dậy của
người bản xứ.
Ngay từ khi bắt đầu cuộc khai thác thuộc địa, chính quyền thực dân đã
xác định rất rõ ràng rằng công nghiệp ở thuộc địa chỉ nhằm cung cấp những
nguyên liệu và sản phẩm mà chính quốc không có. Công nghiệp ở thuộc địa
được khuyến khích phát triển trên cơ sở bổ sung cho công nghiệp chính quốc
chứ không được phép làm ảnh hưởng đến nền công nghiệp chính quốc.
21


Trích đoạn Tình hình dân cư Những bất cập trong sự phát triển của thành phố Nam Định Quá trình vận động thành lập thành phố Nam Định Tổ chức bộ máy quản lý trung tâm đô thị Nam Định dướ Bộ phận chính quyền của người Pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status