ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ DIỆU HƢƠNG
VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM
TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------
PHẠM THỊ DIỆU HƢƠNG
VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM
TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------
Nhân Văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình chỉ bảo và giảng dạy cho
tôi trong suốt 2 năm qua để tôi hoàn thành được Luận văn này.
Và đặc biệt tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Lê Cảnh Nhạc,
Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, Tổng biên
tập Báo Gia đình và xã hội, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Luận văn này.
Cảm ơn gia đình, bạn bè thân thiết của tôi đã giúp đỡ, động viên khích
lệ tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả Luận văn
Phạm Thị Diệu Hương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................
5
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................. 5
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ....................................... 7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................... 12
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...................................................... 12
5. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................... 13
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .............................................. 14
7. Bố cục của luận văn ............................................................................ 15
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BẤT
BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ ................. 16
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài.................................................. 16
Chƣơng 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN
NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TUYÊN TRUYỀN BÌNH
ĐẲNG GIỚI TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ ..................................................... 91
3.1. Những vấn đề đặt ra ......................................................................... 91
3.2. Một số giải pháp ............................................................................... 96
3.3. Một số kiến nghị ............................................................................... 106
* Tiểu kết chƣơng 3 ...........................................................................
110
KẾT LUẬN .............................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 113
PHỤ LỤC ................................................................................................. 116
2
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bình đẳng giới
: BĐG
Bất bình đẳng giới
: BBĐG
Bạo lực gia đình
: BLGĐ
Tỷ lệ tin, bài có nội dung vô tình thúc đẩy bất bình đẳng giới
trên các báo điện tử ................................................................. 49
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Viê ̣t Nam là mô ̣t trong những quố c gia đầ u tiên trên thế giới ký kế t
công ước quố c tế về thực hiê ̣n quyề n phu ̣ nữ . Viê ̣c đưa những tư tưởng tiế n
bô ̣ về bin
̀ h đẳ ng giới ở mô ̣t quố c gia vố n chiụ ảnh hưởng
nặng nề tư tư
tưởng của Nho giáo có thể được coi là một bước tiến lớn , là động lực thúc
đẩy việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam.
Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, công cuộc thực hiện bình đẳng giới
không hề dễ dàng. Việt Nam còn gặp nhiều thách thức trong việc thực hiện
bình đẳng giới. Khoảng cách giới còn tồn tại khá lớn trong một số lĩnh vực
của cuộc sống như: tỷ lệ phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo các cấp còn ít;
cơ hội của phụ nữ tiếp cận với việc làm có thu nhập cao và các nguồn lực
kinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam giới; Việc tiếp cận dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số
còn hạn chế; Tỷ suất tử vong mẹ còn cao so với một số nước trong khu vực;
Tình trạng bạo lực trong gia đình và đối với phụ nữ tồn tại khá nghiêm
trọng…
Nguyên nhân là do một bộ phận xã hội hiểu không đúng về bất bình
đẳng giới, nhận thức mang tính định kiến giới còn tồn tại nặng nề trong gia
tử vì thiếu nhạy cảm giới nên trong các tác phẩm báo chí vô tình làm gia
tăng bất bình giới. Sự thiếu nhạy cảm giới của báo điện tử thể hiện ở tư
tưởng “Trọng nam khinh nữ”; những quan niệm truyền thống cổ hủ, những
suy nghĩ mang tính áp đặt, mặc định về hình ảnh, nhiệm vụ, vai trò, khả
năng của nam giới và nữ giới như: phụ nữ là phải đẹp, phải dịu dàng, có đức
hy sinh, biết “giữ lửa” trong gia đình; Còn nam giới là những người giỏi
giang, quyết đoán, thành đạt, làm chủ kinh tế trong gia đình… Không chỉ
vậy, ngay trên một số tờ báo điện tử dành riêng cho phụ nữ cũng có một số
tác phẩm báo chí thiếu sự nhạy cảm giới như: phân biệt giới tính, phụ nữ
6
thường xuất hiện với những hình ảnh phản cảm... Chính những hiện tượng
này được lặp đi, lặp lại trên một số báo điện tử đã vô tình tạo thêm những
định kiến về giới, làm hạn chế những nhận thức của công chúng về vấn đề
bình đẳng như: bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình, bình đẳng
giới giữa nam và nữ, đặc biệt là với trẻ em gái và phụ nữ. Đây cũng là một
trong những nguyên nhân gây nên bất bình đẳng giới, cản trở xã hội Việt
Nam tiến tới bình đẳng giới thực sự.
Với mong muốn đánh giá đúng về thực trạng bất bình đẳng giới trên
báo điện tử nói riêng, báo chí nói chung; tìm ra những giải pháp tích cực góp
phần vào việc nâng cao chất lượng các tác phẩm báo chí; đồng thời giúp các
cơ quan báo chí thực hiện hiệu quả việc truyền thông các vấn đề liên quan
đến giới và bình đẳng giới, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Vấn đề bất bình
đẳng giới ở Việt Nam trên báo điện tử” (khảo sát qua các báo điện tử:
phunuonline.com.vn, vnexpress.net, phunuvietnam.vn. Từ tháng 1/2015 đến
tháng 6/2016).
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Một số Nghiên cứu ngoài nước về bất bình đẳng giới:
cứu của nước ngoài đã góp phần giúp các phóng viên, các cơ quan báo chí
có thêm những kinh nghiệm trong quy trình thu thập, xử lý thông tin, xây
dựng và biên tập tác phẩm báo chí để không vô tình tạo nên tình trạng bất
bình đẳng giới trên báo chí
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Một số nghiên cứu trong nước về bất bình đẳng giới:
“Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một
số gợi ý giải pháp chính sách” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ương năm 2006. Công trình này tập trung nghiên cứu các vấn đề: Xu hướng
của bất bình đẳng trong thu nhập hiện nay; Các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ bất bình đẳng trong thu nhập; Và đồng thời phân tách các chỉ tiêu theo
8
trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, vùng, ngành kinh tế để đưa ra được
gợi ý giải pháp phù hợp.
“Hướng tới Bình đẳng giới ở Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi
cho phụ nữ” do Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền
cho Phụ nữ (UN Women) và Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thuộc Viện
Hàn lâm Khoa học xã Hội Việt Nam thực hiện, với sự hỗ trợ của Chính phủ
Australia và Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam, đã chỉ ra nguy cơ
gia tăng bất bình đẳng giới nếu Việt Nam không tăng cường cung cấp các cơ
hội công việc tốt hơn cho phụ nữ và hỗ trợ giảm thiểu vai trò của phụ nữ
trong các công việc chăm sóc gia đình không được trả lương.
“Thông tin 64 Đặc san về bình đẳng giới” của TS. Nguyễn Thị Hồi đã
nêu lên một số vấn đề về bình đẳng giới trên bình diện quốc tế, thực trạng về
bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Một số nghiên cứu trong nước về truyền thông bất bình đẳng giới:
Cuốn „„Truyền thông có nhạy cảm giới‟‟ của Trung tâm Nghiên cứu và
ứng dụng Khoa học về giới – gia đình – phụ nữ và vị thành niên (CSAGA)
Phụ nữ với cuộc sống. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để
tuyên truyền về bình đẳng giới. Tuy nhiên, luận văn này mới chỉ đề cập đến
vấn đề tuyên truyền bình đẳng giới của báo truyền hình nói chung và Đài
truyền hình Việt Nam nói riêng.
Luận văn thạc sĩ „„Báo chí tuyên truyền về Bình đẳng giới ở nước ta
hiện nay‟‟ của thạc sĩ Nguyễn Thị Khánh Hà. Luận văn khảo sát các báo Phụ
nữ Việt Nam, Gia đình xã hội, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn
khảo sát các báo từ tháng 1/2008 đến tháng 3/2009. Luận văn nêu lên được
các khía cạnh, thực trạng nội dung của Bình đẳng giới mà báo chí tuyên
truyền, những ưu điểm, nhược điểm của các báo khi tuyên truyền về Bình
đẳng giới ở nước ta hiện nay. Đồng thời luận văn cũng đưa ra được giải pháp
để các cơ quan báo chí, phóng viên tuyên truyền hiệu quả hơn vấn đề này.
Tuy nhiên, luận văn này cũng mới chỉ đề cập đến vấn đề báo chí nói chung
10
tuyên truyền về bình đẳng giới ở nước ta hiện nay, chứ chưa đề cập đến mặt
trái của bình đẳng giới là vấn đề bất bình đẳng giới.
Luận văn thạc sĩ „„Bạo hành đối với phụ nữ trên báo chí hiện nay‟‟ của
thạc sĩ Nguyễn Thị Hoa khảo sát báo Phụ nữ Việt Nam, Gia đình xã hội, báo
công an nhân dân, báo công an nhân dân điện tử, Vietnamnet trong thời gian
từ tháng 1/2006 đến tháng 6/2007. Luận văn thạc sĩ „„Vấn đề bạo lực gia đình
trên báo chí‟‟ của thạc sĩ Đặng Thị Mai Việt khảo sát chuyên mục „„Thức đêm
cùng bạn‟‟ trên VOV và mục „„Gia đình‟‟ của báo Giadinh.net.vn năm 2011.
Cả hai Luận văn này đã nêu lên những vấn đề báo chí viết về bạo hành đối
với phụ nữ, bạo lực gia đình như: nội dung trong các tác phẩm báo chí; ưu,
nhược điểm, nguyên nhân của vấn đề này. Luận văn cũng đã đưa ra những
giải pháp, khuyến nghị về vấn đề bạo hành đối với phụ nữ, bạo lực gia đình
trên báo chí. Tuy nhiên, bạo hành đối với phụ nữ và bạo lực gia đình cũng
chỉ là một trong những vấn đề của bất bình đẳng giới trong xã hội. Vì vậy,
cần thiết, làm cơ sở cho công tác khảo sát, đánh giá thực tiễn.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng báo điện tử thông tin về vấn đề bất bình
đẳng giới; Chỉ ra những ưu, nhược điểm trong các tác phẩm liên quan đến
vấn đề bất bình đẳng giới trên báo điện tử: phunuonline.com.vn;
vnexpress.net; phunuvietnam.vn.
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm thay đổi và nâng cao hơn
nữa chất lượng thông tin truyền thông về vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt
Nam trên báo điện tử.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề bất
bình đẳng giới ở Việt Nam trên báo điện tử.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được triển khai nghiên cứu trên cơ sở
khảo sát ba báo điện tử: phunuonline.com.vn; vnexpress.net; phunuvietnam.vn
trong khoảng thời gian từ 1/2015 – 6/2016.
12
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Để thực hiện đề tài này, tác giả vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác-Lê nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh , các quan điể m , đường lố i lañ h đa ̣o của Đảng , Nhà
nước về báo chí cách mạng , vấn đề bình đẳng giới để xây dựng các luận cứ
lý thuyết. Bằng phương pháp quan sát thực tiễn, tác giả tìm các luận cứ thực
tiễn để chứng minh, luận giải và qua đó đề xuất giải pháp đổi mới “Vấn đề
bất bình đẳng giới ở Việt Nam trên báo điện tử”.
- Từ những tài liệu thứ cấp, bài báo đăng trên báo điện tử ở Việt Nam từ
tháng 01/2015 đến tháng 6/2016, cũng như kết hợp với các phương pháp
nghiên cứu như: điều tra, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp... để luận
giải, chứng minh vấn đề nghiên cứu.
về bình đẳng giới.
Ý nghĩa thực tiễn: Những kết quả của luận văn này sẽ là tài liệu tham
khảo bổ ích giúp cho các phóng viên, các cơ quan báo chí hiểu rõ hơn về vấn
đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam trên báo chí. Từ đó, các cơ quan báo chí sẽ
có định hướng mới trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin,
truyền thông các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới, các phóng viên sẽ có
cách tiếp cận vấn đề liên quan đến bình đẳng giới ngày càng tốt hơn.
Quá trình thực hiện đề tài cũng là dịp để tác giả bổ sung các kiến thức
và hiểu biết sâu hơn. Kết quả đề tài này giúp tác giả trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ tuyên truyền và viết tin, bài tuyên truyền cho cán bộ, hội viên
phụ nữ và nhân dân trong huyện khi công tác tại Trung tâm Văn hoá - Thông
tin và Thể thao huyện Thường Tín đúng, trúng, sâu sát và hiệu quả hơn.
Đồng thời, cũng giúp cho Hội phụ nữ, Trung tâm Văn hoá - Thông tin và
Thể thao nơi tôi công tác có cách nhìn nhận chính xác hơn nữa về vấn đề
bình đẳng giới để đổi mới trong công tác tuyên truyền.
14
7. Bố cục luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục, các
nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề bất bình đẳng giới ở
Việt Nam trên báo điện tử.
Chương 2: Thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam trên báo
điện tử.
Chương 3: Mội số vấn đề đặt ra và giải pháp, khuyến nghị nâng cao
chất lượng tuyên truyền bình đẳng giới trên báo điện tử.
15
16
Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam
giới và phụ nữ, tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác
nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống
xã hội.
- Định kiến giới
Trong phần Giải thích từ ngữ tại Điều 5, Chương I, Luật Bình đẳng giới
khái niệm:“ Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu
cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ” [24, Tr.4].
Đây là khái niệm chung nhất được sử dụng trong luận văn này.
- Phân biệt đối xử về giới
Khái niệm chung nhất được sử dụng trong luận văn này là theo tài liệu
sổ tay tuyên truyền về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình của
Trung ương Hội LHPN Việt Nam: “Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế,
loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và
nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội và gia đình” [27, Tr.21].
1.1.2. Báo điện tử
Từ khi ra đời đến nay, loại hình báo chí này có rất nhiều cách gọi khác
nhau như: Báo điện tử, báo mạng điện tử, báo trực tuyến, báo chí internet.
Luận văn này dùng tên gọi Báo điện tử để chỉ chung cho loại hình báo chí
này.
“ Báo điện tử là một loại hình thông tin đại chúng dựa trên việc khai
thác thế mạnh của internet nhằm đem đến cho công chúng những thông tin
mới nhất về mọi mặt của đời sống một cách nhanh nhất và toàn diện nhất”
[15, Tr 234]
So với báo in, phát thanh và truyền hình, báo điện tử là một kênh truyền
thông vô cùng hiệu quả. Bản thân nó mang trong mình sức mạnh của các
53 đến Điều 81 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó
18
có một số điều tạo ra những điểm nhấn quan trọng, khẳng định quyền bình
đẳng giới của nam và nữ.
Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001, từ Điều 49 đến Điều
82 quy định rõ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó có một số
khẳng định các quyền bình đẳng nam, nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã
hội và gia đình.
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đến nay Hiến pháp năm 2013 đã khẳng
định sâu sắc hơn quyền bình đẳng của nam và nữ trên cơ sở kế thừa và phát
triển các quy định của Hiến pháp năm 1992. Từ Điều 14 đến Điều 49,
Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã quy định các quyền con người nói chung
và quyền công dân nói riêng, trong đó có quyền của phụ nữ được quy định
tại Điều 26.
Có thể khẳng định rằng, qua các bản Hiến pháp, Đảng và Nhà nước ta
đã thể hiện rõ quan điểm về bình đẳng giới. Có những quyền được pháp luật
xây dựng bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trước pháp luật nhằm
xoá bỏ sự phân biệt đối xử trong công việc, trong đời sống chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội và trong đời sống gia.
Năm 2000, tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hiệp quốc, Việt Nam là
một trong số gần 200 quốc gia cam kết thực hiện 8 mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ, trong đó mục tiêu thứ 3 có nội dung “Thúc đẩy bình đẳng giới và
nâng cao quyền năng của phụ nữ” [23, Tr.3]
Để khẳng định Việt Nam sẽ quyết tâm thực hiện tốt bình đẳng giới,
Đảng và nhà nước ta tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng
nam nữ; xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ; thực hiện các cam kết, điều
ước quốc tế về quyền con người và bình đẳng giới, nhằm phát huy mọi tiềm
Bên cạnh đó, Luật phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa
XII, Kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007, có hiệu lực thi hành từ
01/7/2008 đã thật sự là đạo luật quan trọng cho việc thúc đẩy công tác bình
đẳng giới ở nước ta. Hiện nay, Việt Nam là quốc gia nằm trong số ít quốc
20