BÁO CÁO THU HOẠCH THỰC TẬP THIÊN NHIÊN: ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT NƯỚC KHU VỰC TAM ĐẢ - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
---------------

BÁO CÁO THU HOẠCH
THỰC TẬP THIÊN NHIÊN

Chuyên đề: ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ĐẾN MÔI TRƯỜNG
ĐẤT NƯỚC KHU VỰC TAM ĐẢ

Sinh viên

:

Lê Đức Dũng
Cung Hồng VIệt
Nguyễn Đức Khánh
Phan Minh Vũ

Lớp

:

ĐH5QM1

Nhóm

:

5




Mở đầu
1. Đặt vấn đề
Hiện nay du lịch được xem là ngành kinh tế không khói quan trọng của nhiều
quốc gia trên Thế Giới, trong đó Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Du
lịch trở nên phổ biến và là nhu cầu không thế thiếu của con người khi đời sống tinh
thần của họ ngày càng được nâng cao và phong phú. Là một ngành dịch vụ, hoạt động
du lịch nhằm thỏa mãn những nhu cầu vui chơi, giải trí; tìm hiểu thiên nhiên xã hội,
các nét đẹp văn hóa; nghiên cứu, học tập;… Cùng với sự phát triển của các ngành kinh
tế khác, du lịch cũng fần có những tác động, ảnh hưởng tới tự nhiên, môi trường.
Khu du lịch Tam Đảo thuộc huyện Tam Đảo là một khu vực rộng lớn có tổng
diện tích tự nhiên là 214.85ha với phong cảnh địa chất chủ yếu là một vùng núi non
hùng vĩ, bao quát cả vùng đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn. Thời tiết tại đây khá mát mẻ và
dễ chịu, rất phù hợp với các hoạt đông du lịch, nghỉ mát lý tưởng với sự luân chuyển
thời tiết rõ rệt trong một ngày, điều này tạo nên sự thú vị và cuốn hút đối với khác du
lịch.
Từ khi được đưa vào khai thác du lịch đến này thì Khu du lịch Tam Đảo vẫn luôn
là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng và thu hút một lượng lớn khác du lịch
mỗi năm với nhiều mục đích khác nhau như nghỉ dưỡng hay nghiên cứu học tập. Hoạt
động du lịch phát triển đã mang đến cho khu vực Tam Đảo một diện mạo mới và cuộc
sống với điều kiện tốt hơn cho người dân ở đây từ các hoạt động khai thác du lịch.
Mặc dù vậy, sự phát triển này cũng đem lại nhiều vấn đề, trong đó nổi bật là các vấn
đề liên quan đến môi trường, cụ thể là ảnh hưởng tới môi trường đất tại đây.
Chính vì vậy, đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi
trường đất, nước tại Khu du lịch Tam Đảo” được thực hiện nhằm đánh giá mối
quan hệ giữa các hoạt động du lịch trên địa bàn với thực trạng chất lượng đất khu vực.
Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế các ảnh hưởng đó.
2. Mục tiêu của chuyên đề
2.1 Mục tiêu chung

thể đạt tới 2800mm tập trung trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm và
chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm. Với độ cao hơn 1000m so với mực nước biển,
khí hậu tại đây khá là mát mẻ và ôn hòa, nhiệt độ có sự chuyển biến rõ rệt trong ngày
với 4 kiểu khí hậu của 4 mùa trong năm. Điều này làm cho mọi người trong xe đều
cảm thấy thoải mái và vui vẻ vì được giải thoát khỏi cái nắng cháy da thịt lên tới 41°C
lúc bấy giờ tại Hà Nội. Sau khi tới nơi, tập trung điểm danh, chúng tôi nhận phòng
nghỉ ngơi tại khách sạn Tuấn Anh nằm ở khu vực trung tâm Tam Đảo. Sau khi dùng
bữa tối tại khách sạn, chúng tôi có một buổi tối nghỉ ngơi và tự do tham quan, khám
phá khu du lịch nổi tiếng này trước khi bắt đầu có cuộc khảo sát đầu tiên vào ngày
hôm sau (06/06/2017).
8h30 sáng ngày 06/06/2017, toàn đoàn tập trung tại bãi xe trước cửa khách sạn
điểm danh, nghe cán bộ hướng dẫn của Vườn quốc gia Tam Đảo hướng dẫn, giới thiệu
tổng quan về hiện trạng đa dạng sinh học của vườn và các mô hình sinh kế của người
dân tại Thị trấn Tam Đảo. Sau đó cả đoàn được tách ra 2 nhóm đi khảo sát tại Rùng
Rình và nhóm còn lại đi tìm hiểu về các mô hình sinh kế của người dân tại Thị trấn
7


Tam Đảo. Theo lịch trình, chúng tôi được phân đi tìm hiểu về hoạt động sinh kế của
người dân Thị trấn Tam Đảo đầu tiên.

8


Hình 3 Cánh đồng su su (Ảnh chụp: Cung Hồng Việt)

Đường đi khảo sát là đường đèo, được trải nhựa nên rất dễ đi. Trên đường đi,
người hướng dẫn giới thiệu về các mô hình sinh kế của người dân từ xưa tới nay, ban
đầu khi hoạt động du lịch chưa phát triển, cây trồng được trồng chủ yếu là chè từ
những năm 90 của thế kỉ trước. Nhưng sau khi hoạt động du lịch phát triển và được

tập
Nghiên cứu thực địa được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa là một hình
thức tham khảo chung để thu thập hoặc lấy những thông tin mới bên ngoài phòng thí
nghiệm hoặc nơi làm việc.
Phương pháp nghiên cứu thực địa
Đây là phương pháp truyền thống của địa lý học và được sử dụng rộng rãi trong
du lịch để tích lũy tài liệu thực tế về sự hình thành, phát triển và đặc điểm của tổ chức
lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch. Trong nhiều trường hợp (ví dụ: nghiên cứu hoạt động du
lịch cá nhân không có người đứng ra tổ chức, tìm hiểu các luồng du lịch…). Đây là
phương pháp duy nhất để thu được lượng thông tin đáng tin cậy và xây dựng ngân
hàng tư liệu cho các phương pháp phân tích khác (bản đồ, toán học, cân đối…).
Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập dữ liệu đơn giản, dễ thực hiện
nhưng rất hữu ích, muốn phương pháp này đạt kết quả tốt cần phải có một mẫu nghiên
cứu cụ thể. Có hai cách khác nhau trong việc thực hiện phương pháp quan sát:
Quan sát, nghiên cứu các tài liệu có sẵn trong một thời gian
Quan sát để ghi nhận lại thái độ của đối tượng nghiên cứu
Phương pháp phân tích hệ thống du lịch Tam Đảo
Hệ thống lãnh thổ du lịch như một thành tạo toàn vẹn về hoạt động và lãnh thổ có
sự lựa chọn các chức năng xã hội nhất định. Một trong những chức năng đó là việc hồi
phục, tái sản xuất sức khỏe, khả năng lao động, thể lực và tinh thần của con người. Hệ
thống lãnh thổ du lịch được tạo thành từ nhiều phân hệ khác nhau về bản chất nhưng
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đó là phân hệ khách du lịch, phân hệ tổng thể tự
nhiên lịch sử - văn hóa, phân hệ công trình kỹ thuật phục vụ du lịch, phân hệ cán bộ
công nhân viên phục vụ và bộ phận điều khiển.
Như vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch có đặc điểm tổng hợp với tính năng đa dạng
và phức tạp của mối liên hệ. Của các chức năng xã hội, điều kiện và các yếu tố phát
triển, của các hình thức tổ chức theo lãnh thổ.
Việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống cho phép tìm kiếm và nêu lên các
mô hình của đối tượng nghiên cứu, thu thập và phân tích thông tin ban đầu, vạch ra các

ảnh.
Xem hình ảnh qua ống kính: chi tiết nào thể hiện, chi tiết nào thiếu. Những gì nhìn
thấy qua ống kính khác với những gì bạn nhìn thấy.
Đưa vào khung hình những gì mình thấy thú vị và loại bỏ những gì không đáng.
Một số máy ảnh và ống kính cho phép người chụp có thể lấy cận các vật thể nhỏ.
Càng gần càng tốt là thường là cách tốt nhất khi chụp cảnh thiên nhiên.
Nếu chủ thể có bố cục dọc, hãy xoay máy lại cho tương thích.
Thử các góc nhìn mới lạ và tập trung vào tiêu điểm.
Dùng các động từ để hình dung về các bức ảnh sẽ chụp, chứ không chỉ là các
danh từ gọi tên chủ thể.Người cầm máy nên hòa nhập vào sự việc và dự đoán những gì
sắp xảy ra tiếp theo và chờ đợi nắm bắt ngay những khoảnh khắc ấy. Chẳng hạn
như một chú ong hút mật, gió thổi qua cánh đồng…
Chọn đúng độ phơi sáng, giữ chắc tay máy, sử dụng chế độ chụp tay
Phương pháp ghi chép khi tiếp nhận thông tin từ giáo viên, hướng dẫn viên:
Phương pháp cornell.
Phương pháp lập bảng.
12


Phương pháp ghi theo dàn ý.
Phương pháp lập bản đồ.
Phương pháp chép nguyên câu.

13


Phần 3: Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, kinh tế xã hội các
khu vực nghiên cứu
3.1 Đặc điểm tự nhiên:
3.1.1. Vị trí địa lý

giũa hai kiểu địa hình đồi cao và núi trung bình.
+Núi trung bình: Độ cao tuyệt đối >700m – 1590m. Độ dốc > cấp III. Phân bố ở
phần trên của khối nứi. Các đỉnh và đường dông đều sắc và nhọn.
3.1.3. Địa chất
Dãy núi Tam Đảo được cấu tạo từ đá phun trào axít tuổi Triat thuộc hệ tầng Tam
Đảo. Thành tạo phun trào này kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam với chiều dài
khoảng 80km, rộng khoảng 10km, có quan hệ kiến tạo với các thành tạo tuổi Devon ở
phía Bắc và Tây Nam. Các đá phun trào Tam Đảo bị xâm nhập phức hệ Núi Điêng
xuyên cắt.
Hệ tầng phun trào axít Tam Đảo bao gồm chủ yếu là đá riolit, riolit pocphia,
riodacit, bề dày tổng cộng khoảng 800m. Đá riolit chứa các ban tinh fenspat và thạch
anh cỡ nhỏ đến vừa, chiếm khoảng 5-10% khối lượng. Thành tạo riolit Tam Đảo bị
phân cắt bởi hệ thống khe nứt, tạo ra các khổi kích thước khác nhau, bị chèn ép thành
tấm, đôi chỗ thành phiến, dập vỡ mạnh. Lấp đầy các khe nứt trong đá là các mạch
thạch anh.
+ Vỏ phong hóa và lớp thổ nhưỡng:
Điều tra, nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy VQG Tam Đảo có 4 loại đất
chính gồm:

15


Đất Feralit mùn vàng: phát triển trên đá Macma axit, loại đất này xuất hiện ở độ
cao từ 700 m trở lên, có diện tích là 8968ha, chiếm 24,31% diện tích của vườn.
Đất Feralit mùn vàng đỏ: phân bố trên núi thấp, phát triển trên đá Macma kết
tinh, loại đất này có diện tích 9292ha, chiếm 25,19% diện tích và xuất hiện ở độ cao từ
400m ( 700m.
Đất Feralit đỏ vàng: phát triển trên nhiều loại đá khác nhau, loại đất này thường
thấy ở độ cao từ 100 (400m, có diện tích là 17606 ha, chiếm 47,33% diện tích Vườn).
Đất dốc tụ và phù sa: loại đất này ở độ cao từ 100m trở xuống, thường thấy ở ven



Mật độ sông suối khá dày ( trên 2km/km2), các suối có thung lũng hẹp, đáy nhiều
ghềnh thác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém, chúng là kết quả của quá trình
xâm thực.
- Do đặc điểm khí hậu mưa lơn, mùa mưa dài, lượng bốc hơi ít ( ở đỉnh Tam
Đảo) nên cán cân nước dư thừa. Đó là nguyên nhân làm cho các dòng chảy từ đỉnh
Tam Đảo xuống có nước quanh năm.
Nhưng chế độ thủy văn lại chia thành hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ
trùng với mùa mưa ( từ tháng 4 đến tháng 10), mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau. Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 8, lũ thường tập trung và rút cũng nhanh. Sự phân
phối dòng chảy rất không đều giữa hai mùa.
Như vậy lưu vực sông Phó Đáy lớn hơn sông Công và tổng lượng nước chảy
cũng lớn hơn sông Công. Độ lệch lượng nước chảy mùa lũ và mùa cạn cũng rất lớn.
Môđun dòng chảy các mùa cũng thay đổi rất đáng kể.
- Lưu lượng dòng chảy lớn nhất tuyệt đối là 331m3/s, so với lưu lượng nhỏ nhất
tuyệt đối 3,7m3/s thì lớn gấp 90 lần.
- Lượng bùn cát lơ lửng 3,2kg/s với tổng lượng bùn cát là 101.000T/năm.
- Môđun xâm thực trên sông Phó Đáy tới 84,8T/km2 .
- Dòng chảy mùa cạn do không có mưa to nên nguồn nước cung cấp cho sông
hoàn toàn là do nước ngầm ( phụ thuộc vào lớp vỏ phong hóa địa chất và lượng mưa
phùn mùa đông ). Cả hai sông đều có dòng chảy rất nhỏ. Như vậy khả năng cung cấp
nước cho mùa đông là rất hạn chế.
Các dòng sông suối trong vùng không có khả năng vận chuyển thủy, chỉ có thể
dùng làm nguồn thủy điện nhỏ cho từng gia đình dưới chân núi.
Trong vùng cũng có những hồ chứa cỡ lớn như Hồ Núi Cốc, Hồ Đại Lải, các hồ
cỡ trung bình hoặc nhỏ như Hồ Xạ Hương, Khôi Kỳ, Phú Xuyên, Linh Lai, Hồ Sơn,
….Đó là nguồn dự trữ nước khá phong phú phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của
nhân dân trong vùng.
3.2.Tài nguyên thiên nhiên:

1
Đất sản suất nông nghiệp
4.692,90
2 Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
30,99
3
Đất sản xuất lâm nghiệp
14.822,21
II
Đất phi nông nghiệp
3.882,79
III
Đất chưa sử dụng
120,43
1
Đất đồi núi chưa sử dụng
73,48
2
Núi đá không có rừng cây
1,82
3
Đất bằng chưa sử dụng
45,13

2006
23.573,10
19.509,83
4.650,12
34,03
14.804,90

Bảng 1 Tình hình đất đai của huyện Tam Đảo 2005-2010

- Về chất lượng: Trên địa bàn huyện Tam Đảo có các loại đất chính như đất đồi
núi, đất phù sa cổ ven sông, đất dốc tụ ven đồi, núi. Nhìn chung chất lượng đất đai của
Tam Đảo không thuộc loại cao.
- Về biến động: Đất nông nghiệp giảm từ 19.569.88 ha năm 2005 xuống
19.020,42 năm 2010, tức giảm 549,46 ha.
3.2.2. Động vật
- Khu hệ động vật Tam Đảo với 307 loài, trong đó thú: 64 loài, chim 239 loài, bò
sát 76 loai và 28 loài lưỡng cư. Khu hệ côn trùng đã ghi nhận 437 loài của 271 giống
thuộc 46 họ. VQG Tam Đảo gồm 11 loài đặc hữu hẹp, trong đó có 2 loài bò sát, 1 loài
lưỡng cư và 8 loài côn trùng. Ngoài ra Tam Đảo còn có 22 loài động vật đặc hữu ở
miền bắc Việt Nam, 6 loài đặc hữu của Việt Nam, 56 loài nằm trong sách đỏ Việt
Nam.Loài lưỡng cư đặc hữu của Tam Đảo là cá cóc Tam Đảo (Paramesotriton
deloustali).
- Nếu so với khu hệ thú trên cạn của toàn quốc (295 loài, 37 họ, 18 bộ), thì khu
hệ thú ở Vườn quốc gia Tam Đảo chiếm tới 30,84% tổng số loài, 73% tổng số họ và

18


44,44% tổng số bộ. Điều đó cho thấy khu hệ thú VQG Tam Đảo có tầm quan trọng cao
trong bảo tồn đa dạng sinh học các loài thú hoang dã Việt Nam.

19


3.2.3. Thực vật
- Theo các báo cáo đã được thực hiện, Tam Đảo có đến 904 loài thuộc 478 chi,
213 họ thực vật bậc cao. Trong đó ngành thông đất 2 loài, ngành cỏ tháp bút 1 loài,

5.603 6.493 8.875 8.990 9.313 10.05
2
3. Chất lượng nguồn lao động
- Lao động chưa qua đào tạo
30.14 30.82 31.16 29.39 26.07 24.07
9
1
6
2
6
9
- Công nhân kỹ thuật
225
320
1.092 2.974 5.588 7.224
- Trình độ trung cấp
490
512
922
1.176 2.608 4.013
- Cao đẳng, đại học trở lên
333
349
956
1.037 2.980 4.816
Bảng 2 Biến động nguồn lao động huyện Tam Đảo giai đoạn 2004-2010

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tam Đảo - Tài liệu phục vụ Quy hoạch
Tam Đảo là huyện miền núi mới được tái lập, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu,
trình độ dân trí còn thấp và chưa đồng đều, nhất là đối với đồng bào dân tộc sống ở

Du lịch tâm linh - tín ngưỡng – văn hoá Tam Đảo đã và đang có sự phát triển khá
mạnh mẽ. Trên thị trấn Tam Đảo quanh năm mây phủ có đền thờ Bà chúa Thượng
Ngàn có từ lâu đời. Thu hút khách thập phương và khách du lịch lên thăm viếng rất
đông. Tiếp đến là Đền Thạch kiếm ở độ cao trên 900m, trên dông núi Mỏ Quạ, ngang
thôn 2 sang. Đền Mẫu trên đường đi lên thị trấn Tam Đảo, gần lối rẽ vào Rùng Rình.
Đền thờ Năng Thị Tiêu, năm 1946 bị phá làm nhà bưu điện, nay đã được xây dựng lại.
Đến thị trấn Tam Đảo không thể không nói đến đền thờ Đức Thánh Trần ở gần thôn 2
trên độ cao 800m. Đền cao 6-7m, mái cong, xung quanh đã trồng nhiều cây gỗ và cây
cảnh.
4.1.2 Du lịch nghỉ dưỡng
Với lợi thế về vị trí địa lý, khí hậu mét mẻ, hàng năm Tam Đảo đã thu hút một
lượng khách du lịch đến nghỉ dưỡng, nghỉ cuối tuần chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số
khách đến Tam Đảo. Mùa hè hàng năm, từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 9, vào những
ngày nghỉ cuối tuần (nhất là những ngày nắng, nóng) công suất sử dụng buồng, phòng
của các khách sạn, nhà nghỉ tại khu nghỉ mát thị trấn Tam Đảo gần như quá tải. Khách
du lịch đến với Tam Đảo sau một tuần làm việc nhằm nghỉ ngơi, dưỡng sức cho một
tuần làm việc mới, đồng thời cũng để tránh những sự đông đúc, ồn ào, ô nhiễm của các
đô thị lớn và các khu công nghiệp. Bên cạnh nhu cầu nghỉ cuối tuần, Tam Đảo những
năm qua còn biết đến là một điểm nghỉ dưỡng lý tưởng.
4.1.3.Du lịch thể thao
Tam Đảo được nhiều vận động viên quốc gia và nhiều doanh nhân biết đến, bởi
nơi đây có Trung tâm thể thao Quốc gia III và sân golf Tam Đảo được đầu tư xây dựng
đồng bộ, hiện đại. Ngoài ra ở độ cao trên 1.100m có đài truyền hình Việt Nam được
khởi công xây dựng năm 1973 và khánh thành năm 1978 rất nổi tiếng và tạo cảm giác
thích thu với nhiều du khách. Từ chân núi đi lên đến Đài phải leo qua 1520 bậc. Đài
thường có mây bao phủ tạo nên một quang cảnh thơ mộng, tạo cho du khách cảm giác
như ở trên thiên đường.
4.1.4.Du lịch sinh thái
Vườn quốc gia Tam Đảo có hệ động vật, thực đa dạng phong phú, với nhiều cảnh
quan thiên nhiên đẹp, thuận tiện về giao thông là địa điểm lý tưởng cho du lịch sinh


b. Đền Bà Chúa Thượng Ngàn:
Nếu vì thời gian eo hẹp, không thể leo lên được đỉnh Thiên Thị, bạn hãy leo gần
200 bậc đá đến Ðền Bà chúa Thượng Ngàn. Ngôi đền là nơi lưu giữ một truyền thuyết
đẹp. Với khung cảnh mộng mơ của thị trấn miền mây trắng vẫn còn nguyên vẹn.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status