Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên tại một số khu du lịch biển tỉnh Khánh Hòa - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VÕ THỊ KIM DUNG

ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
ĐẾN MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TẠI MỘT SỐ
KHU DU LỊCH BIỂN TỈNH KHÁNH HOÀ
Chuyên ngành : Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN THỊ HẢI
1.2.3. Môi trường du lịch tự nhiên 16
1.3. Tác động của du lịch biển tới môi trƣờng tự nhiên 17
1.3.1. Các tác động tích cực 18
1.3.2. Các tác động tiêu cực 18
1.3.3. Tác động môi trường của các dự án phát triển du lịch biển 23
1.4. Bảo vệ môi trƣờng và phát triển du lịch bền vững 24
1.4.1 Bảo vệ môi trường 24

2
1.4.2. Phát triển du lịch bền vững 26
Chƣơng 2: HIỆN TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN MÔI
TRƢỜNG TỰ NHIÊN TẠI MỘT SỐ ĐIỂM DU LỊCH Ở KHÁNH HÒA 31
2.1 Khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Khánh Hòa 31
2.1.1. Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 31
2.1.2. Các điều kiện kinh tế-xã hội 34
2.2. Thực trạng phát triển du lịch biển của tỉnh Khánh Hòa 37
2.2.1. Một số khu du lịch biển trọng điểm của tỉnh Khánh Hòa 37
2.2.2. Các tuyến du lịch 40
2.2.3. Số lượng khách du lịch đến Khánh Hòa 41
2.2.4. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 44
2.3. Tác động cuả du lịch tới môi trƣờng tự nhiên tại các khu du lịch biển
của tỉnh Khánh Hòa 49
2.3.1. Nguồn gây áp lực tới môi trường tự nhiên 49
2.3.2. Các yếu tố môi trường bị tác động 49
2.4. Hiện trạng môi trường tại một số khu du lịch biển trọng điểm tỉnh
Khánh Hòa 54
2.4.1. Vị trí quan trắc và các chỉ tiêu quan trắc môi trường các khu du lịch biển trọng
điểm Khánh Hòa 54
2.4.2. Kết quả quan trắc môi trường 56
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC

PHỤ LỤC

4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT: Bảo vệ môi trƣờng
KCN: Khu công nghiệp
GDP: Tổng thu nhập quốc dân
KT-XH: Kinh tế xã hội
ODA: Viện trợ không hoàn lại
AFEC: Hội nghị chuyên viên tài chính
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
ĐDSH: Đa dạng sinh học
HST: Hệ sinh thái
NTB: Nam Trung bộ
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
COD: Chemical Oxygen Demand: nhu cầu oxy hóa học
BOD: Biochemical Oxygen Demand: nhu cầu oxy sinh hoá
DO: Demand Oxygen: lƣợng oxy hoà tan trong nƣớc cần thiết cho
sự hô hấp của các sinh vật nƣớc
pH: Độ axit hay độ chua của nƣớc 5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng khách du lịch đến Khánh Hòa 42
Hình 2.2: Biểu đồ lượng khách đến Khánh Hòa qua các năm 43
Bảng 2.2: Số lượng cơ sở lưu trú của Khánh Hòa 46
tính đến tháng 6 năm 2010 46

rừng ngập mặn và các thảm cỏ biển phân bố từ Bắc đến Nam. Đây là tiềm
năng quan trọng cho việc phát triển du lịch biển.
Thực tế là trong thời gian gần đây, du lịch biển ở nước ta phát triển khá
mạnh với lượng khách và doanh thu tăng liên tục hàng năm. Theo dự báo, đến
năm 2013 sẽ đạt 7-7,5 triệu lượt khách và trên 2 tỷ USD doanh thu. Trong đó
du lịch biển thu hút khoảng 80% lượng khách đến Việt Nam và chiếm khoảng
trên 70% doanh thu từ du lịch của cả nước.
Khánh Hòa sở hữu 385 km bờ biển, trong đó có gần 100 km bãi cát
trắng mịn, khoảng 200 hòn đảo lớn, nhỏ và nhiều vũng, vịnh kín. Khánh Hòa
từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp, thuận lợi trong phát triển kinh tế biển
nói chung và du lịch biển nói riêng và có lợi thế vượt trội về khí hậu với nắng
ấm gần như quanh năm và nhất là ít chịu ảnh hưởng nặng nề của mưa
bão. Những năm gần đây, du lịch Khánh Hòa có bước chuyển mình mạnh mẽ
với nhiều thành tựu khá ấn tượng và được đánh giá là mạnh nhất của khu vực
duyên hải miền Trung. Cùng thời gian này, Vịnh Nha Trang đã vinh dự trở
thành thành viên thứ 29 của Câu lạc bộ các Vịnh biển đẹp thế giới và sau đó
được công nhận là danh thắng cấp quốc gia. Thương hiệu du lịch biển Nha
Trang - Khánh Hòa đã và đang từng bước được khẳng định trên "bản đồ du
lịch" trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, thực tế khai thác tài nguyên và phát triển du lịch tại các khu
du lịch biển nói chung và vùng du lịch tỉnh Khánh Hòa nói riêng còn nhiều
bất cập, dẫn tới những tác động tiêu cực đối với môi trường. Tình trạng khai

8
thác tài nguyên du lịch ở Khánh Hòa thời gian qua cũng đang trong tình trạng
mất cân đối. Tuy đã có sự thống nhất, phối hợp giữa các ngành và chủ thể
quản lý, khai thác các danh lam thắng cảnh ở Khánh Hòa, nhưng nhiều nơi
vẫn chưa có được quy chế quản lý, giám sát thống nhất. Việc khai thác các tài
nguyên du lịch ở một số nơi chưa gắn liền với quy hoạch, thiếu các định
hướng phát triển lâu dài, nên chưa phát huy đúng ý nghĩa, chức năng của từng

bé vào việc bảo vệ môi trường của địa phương.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của đề tài là làm rõ những tác động tiêu
cực của hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên, đề xuất các giải pháp
phòng ngừa, giảm thiểu tác hại và nâng cao chất lượng môi trường du lịch
biển của tỉnh Khánh Hòa.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, nhiệm vụ chính của luận văn là:
- Tổng quan cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa phát triển du lịch biển và
bảo vệ môi trường.
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại các khu du lịch
biển trọng điểm của tỉnh Khánh Hòa và Phân tích, đánh giá thực trạng môi
trường những tác động tới môi trường tự nhiên của khu vực.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm giảm thiểu và phòng ngừa các
tác động tiêu cực của du lịch biển đến môi trường tự nhiên, nhằm nâng cao
chất lượng môi trường và phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Khánh Hòa.
3. * Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu

10
Đề tài tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển du lịch và vấn đề
môi trường, cụ thể là môi trường tự nhiên như đất, nước, không khí
* Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: đề tài giới hạn không gian nghiên cứu là dải ven biển từ
Vạn Ninh (Đại Lãnh) đến Cam Ranh (Cam Lập) và các đảo ven bờ tỉnh
Khánh Hoà .
- Về thời gian: số liệu thống kê và các vấn đề liên quan được sử dụng từ
năm 2006 đền 6 tháng đầu năm 2010.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn đã sử dụng kết hợp

Chương 1. Cơ sở lý luận về du lịch biển và những tác động của du lịch tới
môi trường tự nhiên
Chương 2. Hiện trạng tác động của du lịch đến môi trường tự nhiên tại một số
điểm du lịch ở Khánh Hoà
Chương 3. Một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và bảo vệ môi
trường du lịch Khánh Hoà

12
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH BIỂN VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA
DU LỊCH TỚI MÔI TRƢỜNG TỰ NHIÊN
1.1. Du lịch biển
1.1.1. Khái niệm
Du lịch biển là một dạng hoạt động của dân cư vào những thời điểm có
điều kiện thời tiết thuận lợi, ở các vùng biển, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải
trí, phục hồi sức khỏe. Du lịch biển cũng bao gồm hoạt động du lịch trên bãi
biển hoặc tại các đảo ngoài biển, do đó còn có thể gọi là du lịch biển -
đảo.[26, tr.5]
1.1.2. Lịch sử phát triển
Du lịch biển là loại hình du lịch ra đời sớm và là một trong hai trào lưu
du lịch nổi bật ở thế kỷ XVIII, dẫn đến sự phát triển ồ ạt giai đoạn sau đó [26,

hơn so với các nơi khác [24,tr.19]. Trên thực tế, tất cả các dự án phát triển
kinh tế, kể cả các dự án phát triển du lịch tại vùng ven biển đều tác động sâu
sắc đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Do đó cần quy hoạch kỹ lưỡng để
hạn chế hoặc loại trừ những tác động tiêu cực.
1.1.4. Xu thế, triển vọng
Cho đến nay, du lịch biển vẫn là một trong những điểm du lịch thu hút
lượng khách đông nhất trên quy mô toàn thế giới (trên 70%) và cũng là một
trong những loại hình đem lại tỷ lệ doanh thu cao nhất trong toàn ngành. Du
lịch biển là thế mạnh phát triển của nhiều quốc gia có biển, trong đó có Việt
Nam. Theo Boris Fabres, cố vấn cao cấp của Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển
và Phát triển Cộng đồng, Hiệp hội Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên
Việt Nam thì có 80% du khách chọn biển làm nơi nghỉ ngơi, hơn 70% điểm
đến trong nước là biển, kế hoạch của Việt Nam là tới năm 2020 khu vực biển

14
sẽ đóng góp 50% GDP quốc gia [43]. Từ đó có thể thấy được rằng lợi ích của
du lịch biển là rất lớn.
Việc nâng cao hiệu quả khai thác các sản phẩm du lịch biển đã tận dụng
được tiềm năng tài nguyên biển phục vụ đời sống cộng đồng địa phương. Du
lịch biển mang lại giá trị kinh tế lớn với việc thu hút lượng khách du lịch quốc
tế đáng kể, đem lại nguồn thu cho ngành du lịch các tỉnh ven biển. Phát triển
du lịch biển còn đồng nghĩa với việc tạo được nhiều cơ hội việc làm, thu nhập
ổn định và nâng cao mức sống cho cộng đồng dân cư ven biển.
Đối với các doanh nghiệp, đó còn là cơ hội kinh doanh du lịch thu lợi
nhuận, bên cạnh đó là việc đẩy mạnh thu hút đầu tư từ các tập đoàn lớn cho
các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, phục vụ cho hoạt động du lịch tiến xa hơn
nữa.
Không chỉ có vậy, một phần nguồn thu từ du lịch biển có thể được đầu
tư để nâng cấp cho các sản phẩm du lịch, góp phần vào việc tôn tạo những giá
trị văn hóa, các làng nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ và các hoạt động

tế - xã hội và nhân văn của từng lãnh thổ cụ thể mà trong đó các hoạt động du
lịch tồn tại và phát triển [24, tr.54].
Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân
văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch. [27, tr.11]
Cách tiếp cận của định nghĩa trên là dựa trên thực tế hoạt động du lịch
luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên môi trường tự nhiên
và các giá trị văn hóa, nhân văn. Do vậy, hình thành mối quan hệ tác động qua
lại giữa hoạt động du lịch với môi trường. Sự suy giảm môi trường đồng
nghĩa với việc ảnh hưởng xấu tới hoạt động du lịch, và ngược lại hoạt động
du lịch gây ra những tác động lên các thành phần của môi trường xung quanh.

16
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của
nó gắn liền với môi trường, nên môi trường du lịch có tác động qua lại với tất
cả các yếu tố môi trường chung. Sự suy giảm của môi trường nói chung ở một
khu vực đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch cũng như chất
lượng môi trường du lịch ở khu vực đó. Hơn nữa môi trường du lịch còn có
mối quan hệ mật thiết đến nguồn tài nguyên và các hoạt động của du lịch, góp
phần chi phối đến đời sống của người dân địa phương cũng như sức hấp dẫn
du lịch ở khu vực.
Môi trường du lịch theo khái niệm trên có liên quan mật thiết đến tài
nguyên du lịch. Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo các tài
nguyên du lịch sẽ làm tốt lên chất lượng môi trường du lịch, làm tăng sức hấp
dẫn du lịch tại các điểm du lịch, các khu du lịch. Ngược lại, việc khai thác
không đồng bộ, không có các biện pháp phục hồi, tái tạo tài nguyên du lịch sẽ
dẫn đến phá vỡ cân bằng sinh thái của khu vực, giảm sút chất lượng môi
trường và từ đó suy giảm sức hút du lịch.
1.2.3. Môi trường du lịch tự nhiên
Môi trường du lịch tự nhiên là một bộ phận cấu thành nên môi trường
tự nhiên nói chung, bao gồm tập hợp các đối tượng tự nhiên sống (hữu cơ) và

Việc khai thác trực tiếp tài nguyên biển trong thời gian dài để phục vụ
du lịch đã đe dọa nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển, môi trường tự nhiên bị
thoái hóa, ảnh hưởng tiêu cực đến sự sống của các loài sinh vật biển, đặc biệt
ở các rạn san hô và các khu bảo tồn biển.
Bên cạnh đó, các cơ sở lưu trú, khu vui chơi hiện đại và quy hoạch thiết
kế không đúng sẽ làm mất đi giá trị văn hóa truyền thống của làng chài, làm

18
mất đi tính thẩm mỹ của các công trình kiến trúc và bản sắc của cộng đồng
ven biển.
Môi trường nước cũng bị đe dọa khi khai thác quá mức phục vụ cho
nhu cầu sinh hoạt. Nhất là vào mùa cao điểm, lượng nước thải từ các hoạt
động du lịch là rất lớn, tác động đến chất lượng nước của các mạch nước
ngầm.
1.3.1. Các tác động tích cực
 Bảo tồn thiên nhiên: Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào
việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các Khu Bảo tồn và
Vườn Quốc gia.
 Tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch có thể cung cấp những sáng
kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí,
nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua
các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo
dưỡng các công trình kiến trúc.
 Đề cao môi trường: Việc phát triển các cơ sở du lịch được thiết kế tốt có thể
đề cao giá trị các cảnh quan.
 Cải thiện hạ tầng cơ sở: Các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay,
đường sá, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc có thể
được cải thiện thông qua hoạt động du lịch.
 Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương thông qua
việc trao đổi và học tập với du khách.

máy và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây
hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và
bê tông. Bên cạnh đó hiện tượng xe du lịch tập trung chuyên chở khách đến
các trung tâm đo thị du lịch gây nên tình trạng ách tắc giao thông và làm tăng

20
đáng kể lượng khí thải vào môi trường. Ngoài ra lượng khí CFCs thải ra từ
các thiết bị điều hòa nhiệt độ của hệ thống khách sạn cũng có tác động không
nhỏ đến môi trường không khí.
 Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả
và lãng phí.
 Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có
thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật
hoang dại.
 Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách
sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố
trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo nhất
là các phương tiện xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với
các công trình xây dựng và cảnh quan. Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn
xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường tệ hại nhất.
 Làm nhiễu loạn hệ sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm
soát có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú,
đe doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú
rừng, thú nhồi bông, côn trùng ). Xây dựng đường giao thông và khu cắm
trại gây cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản,
phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền
Các hệ sinh thái và môi trường biển, đảo rất nhạy cảm và dễ bị tổn
thương do sức ép của phát triển du lịch. Tài nguyên thiên nhiên như rạn san
hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, nghề cá và cá nghề sinh sống khác trên đảo
có thể biến đổi theo chiều hướng xấu đi do phát triển du lịch không hợp lý.

thắng cảnh và di tích lịch sử cũng có tác động xấu đến môi trường đất tại đây
do các hiện tượng giẫm đạp, sạt lở

22
* Tác động đến môi trường sinh học:
Các yếu tố gây ô nhiễm như rác thải, nước thải do tập trung nhiều tại
một điểm tỷ lệ theo sự gia tăng lượng khách du lịch và không được xử lý
đúng quy cách sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái, đặc biệt là các
hệ sinh thái dưới nước.
Trong các khu bảo tồn tự nhiên, rác thải không được thu gom kịp thời
gây khó khăn cho công tác bảo tồn vì ngoài việc gây ô nhiễm đến các thành
phần môi trường khác, các chất phế thải sẽ thu hút các loài động vật như linh
cẩu, kền kền, cò, khỉ đầu chó… Thêm nữa, rác thải là nguy cơ làm lây lan
bệnh dịch, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của nhiều loài động vật được bảo tồn,
của nhân viên khu bảo tồn và cả du khách.
Các hoạt động du lịch tại các khu vực có mặt nước (như đi thuyền máy
tham quan, đua mô tô nước…) đều có khả năng huỷ hoại các loài thủy sinh.
Việc phát triển hoạt động du lịch săn bắn nếu không được quản lý chặt
chẽ cũng có thể là nguyên nhân làm giảm đi nhiều loại sinh vật đang bị đe dọa
diệt vong.
Việc sử dụng đất không hợp lý cho phát triển du lịch, đặc biệt là trong
các khu bảo tồn có thể ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của nhiều loài
động vật và thực vật do nhiều loài rất nhạy cảm với các biến động môi trường
khi bị xâm lấn hoặc trạng thái ồn ào, ô nhiễm môi trường thành phần , vì vậy
các loài động vật sẽ thay đổi tập tính trong quá trình sinh trưởng, và nhiều loài
động vật nhỏ có nguy cơ bị đè, giẫm
Những hoạt động của khách du lịch như giẫm đạp lên cỏ, hái hoa quả
bừa bãi, chặt cây lấy củi đốt lửa trại, leo núi ồ ạt làm cho nhiều thực vật bị
mất dần.


lịch, và kết quả là mất đi một nguồn nhân lực lớn trong nghề đi biển truyền
thống ở khu vực.
Ở một số nơi, chất thải không được xử lý và trực tiếp thải xuống biển,
gây ô nhiễm nước biển ven bờ, làm hạn chế các hoạt động tiếp xúc với nước
biển. tình trạng ô nhiễm này còn ảnh hưởng tói các rạn san hô và các sinh vật
dưới biển, làm giảm chất lượng của môi trường biển.
1.3.3.3. Tác động đến các hệ sinh thái
Các rạn san hô là một trong những đối tượng hấp dẫn du khách ở vùng
ven biển. Song vì thiếu những biện pháp bảo tồn nên nguồn tài nguyên này ở
nhiều khu vực đã bị hủy hoại ở mức độ khác nhau. Có những nơi sự dẫm đạp
trực tiếp của du khách và người dân địa phương lên rạn san hô. Khai thác san
hô làm hàng lưu niệm, thả neo ở rạn san hô cũng gây ra nhiều tác hại. Gần
đây người ta còn đánh bắt các loại cá đẹp sống ở rạn san hô để kinh doanh và
xuất khẩu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái san hô.
Việc khai thác quá mức các loại tôm, cua và các loại hải sản khác ở
những nơi gần khu du lịch vì lợi ích kinh tế đã làm nguy hại đến hệ sinh thái
hết sức đặc thù ở vùng ven biển .
` Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái biển quan trọng. Nhiều dự án phát
triển du lịch đã có tác động nghiêm trọng, trực tiếp đối với hệ sinh thái ngày
khi tiến hành giải phóng mặt bằng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật.
1.4. Bảo vệ môi trƣờng và phát triển du lịch bền vững
1.4.1 Bảo vệ môi trƣờng
BVMT là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp,
cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục hậu
quả xấu do cong người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử
dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Trích đoạn Bảo vệ môi trƣờng và phát triển du lịch bền vững Phát triển du lịch bền vững Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Số lượng khách du lịch đến Khánh Hòa Đối với cộng đồng địa phương và khách du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status