ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HOÀNG ANH
BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN THEO PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HOÀNG ANH
BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN THEO PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TRIỀU DƢƠNG
HÀ NỘI - 2017
Thi hành án dân sự
UBND
Ủy ban nhân dân
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ........ 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp của ngƣời đƣợc thi hành án dân sự........................................................... 6
1.2. Nội dung về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành
án dân sự.......................................................................................................... 11
1.3. Cơ sở của việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án dân sự ................................................................................................. 13
1.4. Các yếu tố bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành
án dân sự.......................................................................................................... 15
3.2. Nguyên nhân của những khó khăn trong việc bảo đảm quyền và lợi ích
của ngƣời đƣợc thi hành án ............................................................................. 78
3.3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền và lợi ích của ngƣời
đƣợc thi hành án dân sự .................................................................................. 81
Kết luận chƣơng 3 ........................................................................................... 86
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 89
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà
nƣớc nhằm đƣa các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền ra thi hành
trên thực tế. Đây cũng là một công cụ hữu hiệu để khôi phục, bù đắp quyền và
lợi ích hợp pháp bị xâm hại của công dân. Do đó, hiệu quả của hoạt động thi
hành án dân sự có tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động tố tụng cũng
nhƣ niềm tin của nhân dân đối với pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án
dân sự thời gian qua chƣa đạt hiệu quả nhƣ mong muốn. Theo báo cáo tổng
kết của Tổng cục thi hành án dân sự qua các năm, số vụ việc chƣa đƣợc thi
hành trên tổng số vụ việc phải thi hành chiếm tỷ lệ cao: năm 2012 chiếm
38.5%, năm 2013 chiếm 32.7%, năm 2014 chiếm 31,8%, năm 2015 chiếm
32.5% và trong 6 tháng đầu năm 2016 con số này là 60.7% [23]. Điều này
đồng nghĩa với việc quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án
trong nhiều vụ việc chƣa đƣợc đảm bảo. Một trong những nguyên nhân dẫn
tới tình trạng này là do ngƣời có nghĩa vụ thi hành án thƣờng không tự
nguyện, có tâm lý chây ỳ, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết
định, dẫn đến hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản nhằm làm mất đi điều kiện thi
hành án. Để ngăn chặn các hành vi nêu trên của ngƣời phải thi hành án, tạo
quyền và nghĩa vụ liên quan trong bản án. Do đó, có khá nhiều công trình
nghiên cứu đã đƣợc công bố về mảng đề tài này nhƣ: Bài viết “Các biện pháp
cưỡng chế thi hành án dân sự” của tác giả Trần Phƣơng Thảo, đăng trên Tạp
chí Luật học, số 07/2007; Bài viết “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự:
Bước ngoặt của pháp luật về thi hành án dân sự” của tác giả
Lê Thị Kim
Dung đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề thi hành án dân
sự và vấn đề xã hội hóa; Bài viết “Một số vấn đề về hoàn thiện pháp thi hành
án dân sự Việt Nam” của tác giả Lê Thu Hà đƣợc nhà xuất bản Chính trị quốc
gia xuất bản năm 2011; đặc biệt có các công trình đƣợc thực hiện ở cấp độ
luận án tiến sỹ, với đề tài “Hoàn thiện pháp Luật Thi hành án dân sự ở Việt
2
Nam hiện nay”, luận án tiến sỹ năm 2008 của tác giả Nguyễn Thanh Thủy,
“Hiệu quả áp dụng pháp luật trong thi hành án dân sự ở Việt Nam” luận án
tiến sỹ năm 2012 của tác giả Đặng Đình Quyền. Và gần đây có đề tài:
“Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên
quan đến việc thi hành án”, luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị
Mai Hiên năm 2014...
Tuy nhiên nhìn chung các tác giả mới chỉ tập trung nghiên cứu các quy
định của pháp luật về thi hành án dân sự nói chung mà chƣa đi sâu vào nghiên
cứu vấn đề cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành
án. Vì vậy, với đề tài này tác giả sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu và phân
tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án để từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện
pháp luật cũng nhƣ nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự trên thực tế.
lịch sử, và phép biện chứng Mác - Lênin. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu
đề tài tác giả đã sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ: phƣơng
pháp tổng hợp, thống kê nhằm tổng hợp và thống kê những số liệu từ nhiều
nguồn; phƣơng pháp phân tích, đánh giá nhằm phân tích số liệu, báo cáo tổng
kết hằng năm nhằm rút ra những nhận xét, đánh giá cần thiết trong việc nắm bắt
tình hình thực tế; phƣơng pháp so sánh dung cho việc so sánh đối chiếu số liệu,
thông tin thu thập, từ đó rút ra những mặt đã đạt đƣợc và chƣa đạt đƣợc để kịp
thời bổ bổ sung, đồng thời xem xét những vƣớng mắc tìm cách giải quyết.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung
của luận văn bao gồm 3 chƣơng:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của ngƣời đƣợc thi hành án dân sự.
Chương 2. Nội dung quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt
Nam hiện hành về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án.
Chương 3. Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị hoàn thiện pháp
4
luật để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH
HỢP PHÁP CỦA NGƢỜI ĐƢỢC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc bảo đảm quyền và lợi
một trong những quyền cơ bản không thể thiếu của công dân và đã đƣợc quy
định cụ thể trong pháp luật Việt Nam [28, tr.20]. Còn theo Từ điển Tiếng Việt
của Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 thì
“Bảo đảm” là: 1. Cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó; 2. Làm cho có
đƣợc điều gì.
Theo khoản 2 Điều 3 giải thích từ ngữ Luật thi hành án dân sự năm
2008 thì “Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng
quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành”.
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu khái niệm “bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án dân sự” là tổng thể các biện
pháp của các chủ thể đƣợc thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy
định nhằm làm cho đầy đủ các quyền và lợi ích của ngƣời đƣợc thi hành án
đƣợc thực hiện trên thực tế. Và đây có thể xem là mục đích cuối cùng của
hoạt động thi hành án dân sự.
1.1.2. Đặc điểm
Trong quá trình thi hành án, vấn đề bảo đảm quyền lợi hợp pháp đƣợc
đặt ra chung cho tất cả các chủ thể nhƣ: ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải
thi hành án, ngƣời có quyền và lợi ích liên quan, … Và đối với mỗi nhóm chủ
thể, việc bảo đảm quyền và lợi ích mang những đặc điểm riêng. Việc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp cho ngƣời đƣợc thi hành án dân sự có những đặc
điểm sau:
- Về chủ thể đƣợc bảo đảm: Là ngƣời đƣợc thi hành án – thƣờng là
7
ngƣời có quyền và lợi ích bị xâm phạm trong các giao dịch dân sự trƣớc đó.
Việc bảo đảm quyền lợi cho ngƣời đƣợc thi hành án dân sự thực chất là sự bù
đắp những thiệt hại, tổn thất mà họ phải gánh chịu trong các giao dịch dân sự.
- Quyền, lợi ích đƣợc bảo đảm: là những quyền lợi đƣợc ghi nhận trong
- Thứ nhất, việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án dân sự có ý nghĩa là thƣớc đo đối với kết quả hoạt động thi hành án.
Khi quyền lợi của ngƣời đƣợc thi hành án đƣợc bảo đảm trên thực tế đồng
nghĩa với việc các bản án, phán quyết hoặc các quyết định của Tòa án, trọng
tài hoặc thủ trƣởng cơ quan thi hành án đã đƣợc thực thi. Mặt khác, nhìn vào
kết quả bảo đảm quyền lợi cho ngƣời đƣợc thi hành án, ngoài việc đánh giá
số lƣợng các vụ việc đƣợc thi hành án chúng ta còn đánh giá đƣợc chất
lƣợng hoạt động thi hành án. Thực tiễn cho thấy, trong một số trƣờng hợp
mặc dù vụ việc đã đƣợc thi hành án xong nhƣng quyền lợi của ngƣời đƣợc
thi hành án không đƣợc đảm bảo đầy đủ do những lý do khác nhau. Về mặt
trực quan có thể thấy, quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án
càng đƣợc bảo đảm tối đa, càng chứng tỏ chất lƣợng hoạt động thi hành án
cao và ngƣợc lại.
- Thứ hai, việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi
hành án dân sự góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của hoạt động xét xử.
Mặc dù quá trình xét xử vụ việc dân sự phải tuân thủ chặt chẽ các quy định
của pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng; Chủ thể tiến hành tố tụng đều là
những ngƣời có kinh nghiệm, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.
Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp các qui định của pháp luật về nội dung
cũng nhƣ qui định về thủ tục tố tụng còn chƣa theo kịp với đặc điểm tính chất
đa dạng của vụ việc dân sự. Do đó có thể dẫn đến những sai sót trong quá
trình xét xử. Vì vậy, kết quả thi hành án dân sự chính là giai đoạn kiểm
nghiệm qua thực tiễn những phát quyết của Toà án, phản ánh chân thực chất
9
lƣợng và hiệu quả của toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Từ thực tiễn bảo
đảm quyền và lợi ích của ngƣời đƣợc thi hành án mà mỗi Thẩm phán, Kiểm
sát viên, Hội thẩm nhân dân và cán bộ Tòa án đã tham gia vào quá trình xét
Nhƣ đã phân tích ở trên, bảo đảm quyền và lợi ích của ngƣời đƣợc thi
hành án trong thi hành án dân sự đƣợc hiểu là hoạt động của các cơ quan Tòa
án, thi hành án, trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh… sử dụng nhiều
biện pháp khác nhau trong thi hành án dân sự nhằm làm cho các quyền, lợi
ích của ngƣời đƣợc thi hành án đƣợc bảo vệ trƣớc những sự xâm hại khác
nhau. Theo đó, nội dung việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời
đƣợc thi hành án dân sự bao gồm những nội dung cụ thể, đó là:
- Một, bảo đảm từ phía cơ quan thi hành án đối với quyền và lợi ích
hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án. Cơ quan THADS là chủ thể trực tiếp
thực hiện hoạt động thi hành án, hiệu quả hoạt động của cơ quan này là yếu tố
quyết định việc quyền lợi của ngƣời đƣợc thi hành án đƣợc bảo đảm ở mức độ
nào. Sự tuân thủ quy định pháp luật, sự linh động, nhạy cảm ở thủ trƣởng cơ
quan THADS, của Chấp hành viên khi ra quyết định thi hành án, khi tổ chức
thi hành án hay ra các quyết định nhằm bảo đảm, cƣỡng chế thi hành án sẽ là
đảm bảo chắc chắn nhất cho các quyền lợi hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành
án đƣợc thực thi trên thực tế.
- Hai, bảo đảm bằng cơ chế phối kết hợp giữa cơ quan thi hành án với
Tòa án, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và các chủ thể khác. Tuy
đóng vai trò trung tâm, nhƣng để tổ chức thi hành án thành công cơ quan thi
hành án cần phải phối hợp chặt chẽ với nhiều chủ thế khác. Đó có thể là cơ
quan, tổ chức đã ban hành bản án, quyết định – cơ sở để tổ chức thi hành án;
Đó cũng có thể là các tổ chức tín dụng nơi giữ tiền, tài sản là đối tƣợng đƣợc
thi hành án; Hay đơn giản là những cá nhân, tổ chức có quyền lợi về tài sản
liên quan tới ngƣời phải thi hành án (trƣờng hợp có tài sản thuộc sở hữu
chung, nhận chuyển nhƣợng tài sản là đối tƣợng thi hành án,…). Để một bản
11
án, quyết định đƣợc tổ chức thi hành thành công trên thực tế, bảo đảm tối đa
đƣợc thi hành án dân sự
1.3.1. Xuất phát từ đường lối của Đảng về cải cách tư pháp
Nƣớc ta là Nhà nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, các quyền công dân
đƣợc Nhà nƣớc công nhận và ghi nhận trong các văn bản có tính pháp lý cao
nhƣ Hiến pháp, các đạo luật,… Việc thiết lập, bảo đảm các quyền dân sự,
kinh tế của công dân luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm thực hiện thông
qua những chủ trƣơng, chính sách trên mọi phƣơng diện. Trong đó, vấn đề cải
cách, hoàn thiện các thủ tục tố tụng tƣ pháp theo hƣớng dân chủ, bình đẳng,
công khai, minh bạch, chặt chẽ nhƣng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và
giám sát của nhân dân đối với hoạt động tƣ pháp đƣợc xem là biện pháp hữu
hiệu để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của công dân. Vấn đề này đã một lần nữa
đƣợc tái khẳng định trong nghị quyết của Bộ Chính trị, theo đó nhiệm vụ
trọng tâm trong việc hoàn thiện thủ tục tố tụng tƣ pháp là phải “bảo đảm tính
đồng bộ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo đảm quyền con ngƣời”.
1.3.2. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và các luật chuyên
ngành về việc bảo đảm quyền cơ bản của công dân
Vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó bao
gồm cả ngƣời đƣợc thi hành án dân sự đã đƣợc đề cập tới trong nhiều văn bản
pháp lý khác nhau. Hiến pháp nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định:
1. Ở nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con ngƣời,
quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội đƣợc
công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật;
2. Quyền con ngƣời, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế
theo quy định của luật trong trƣờng hợp cần thiết vì lý do quốc
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức
khỏe của cộng đồng [19, Điều 14].
13
hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định của pháp
luật. Trong quá trình tổ chức thi hành án, nếu phát hiện bản án, quyết định
tuyên không rõ, khó thi hành thì có quyền yêu cầu Tòa án giải thích, đính
chính hoặc bản án, quyết định có vi phạm pháp luật thì có quyền kiến nghị
ngƣời có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
đối với bản án, quyết định theo quy định của pháp luật [18]. Đây là một trong
những nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trƣởng cơ quan Thi hành án dân sự. Quy
định này là rất cần thiết, không những là nhiệm vụ, quyền hạn mà còn là trách
nhiệm của cơ quan Thi hành án dân sự đối với bản án, quyết định mình có
trách nhiệm tổ chức thi hành.
1.3.4. Xuất phát từ quyền bình đẳng của mọi chủ thể trong quan hệ
dân sự
Quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản
phát sinh thƣờng nhật đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, cho hoạt động
sản xuất và kinh doanh. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự rất đa
dạng nhƣng độc lập về tài sản và tổ chức, có địa vị pháp lý bình đẳng, không
phụ thuộc vào các yếu tố: thành phần xã hội, tôn giáo, dân tộc, trình độ văn
hóa, nghề nghiệp. Trong quan hệ này, các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ
của mình một cách tự giác bằng tài sản của mình, trƣờng hợp vi phạm nghĩa
vụ thì phải tự chịu trách nhiệm về những thiệt hại do mình gây ra [27, tr.20].
Xuất phát từ những nguyên tắc bình đẳng này, ngƣời đƣợc thi hành án dân sự
là ngƣời có quyền lợi bị xâm phạm trong quan hệ dân sự đƣơng nhiên cần
đƣợc tôn trọng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình thi hành án
nhằm bù đắp thiệt hại của họ.
1.4. Các yếu tố bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời đƣợc
thi hành án dân sự
Nhƣ đã phân tích ở trên, việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho ngƣời
15
16
xây dựng cơ chế có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
1.4.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án theo hướng bảo
đảm hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.
Các quy định của luật pháp là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo cho
việc thi hành án đạt kết quả mong muốn. Với đặc thù là biện pháp mang tính
chất quyền lực nhà nƣớc, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội, các quy
định pháp luật về THADS sẽ tạo nên hành lang pháp lý cho công tác tổ chức
thi hành án. Một hệ thống pháp luật ƣu việt, đầy đủ là điều kiện hoàn hảo để
cho ra đời những bản án, quyết định đúng đắn; để tạo nên sự phối hợp nhuần
nhuyễn giữa các chủ thể khác nhau trong quá trình thi hành án; … qua đó bảo
đảm tốt nhất quyền lợi cho ngƣời đƣợc thi hành án.
1.4.4. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực, đạo đức nghề
nghiệp của chấp hành viên
Trong tất cả các chủ thể thì chấp hành viên là ngƣời đóng vai trò trung
tâm trong quá trình thi hành án, quyết định tới hiệu quả của hoạt động này.
Do đó, bên cạnh việc hoàn thiện quy định pháp luật thi hành án, hoàn thiện cơ
chế phối hợp tác nghiệp giữa các cơ quan đơn vị thì việc nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của chấp hành viên là không
thể thiếu. Hoạt động áp dụng pháp luật là một quá trình với đa dạng các tình
huống đòi hỏi kiến thức cũng nhƣ sự linh hoạt của chấp hành viên. Dù hệ
thống pháp luật có đầy đủ tới đâu nhƣng chấp hành viên không nắm đƣợc thì
cũng không thể vận dụng để đƣa ra quyết định kịp thời, đúng đắn. Đó là chƣa
kể đến trong nhiều trƣờng hợp, pháp luật không thể dự liệu đƣợc thực tiễn,
lúc này đòi hỏi chấp hành viên phải vận dụng luật linh hoạt và có sự nhạy
cảm trong phán đoán tình huống – điều này sẽ đƣợc tích lũy kinh nghiệm
17
thi hành án, tìm hiểu đặc điểm, bản chất của hoạt động bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của ngƣời đƣợc thi hành án và làm phong phú thêm cho hoạt
động nghiên cứu khoa học về pháp luật thi hành án.
19