ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TÀI DƢƠNG
HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC HỦY HÔN
NHÂN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT
HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TÀI DƢƠNG
HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC HỦY HÔN
NHÂN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT HÔN
NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2014
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ ĐÌNH NGHỊ
HÀ NỘI - 2017
2
1.1.1. Quan niệm về kết hôn trái pháp luật ..................................................... 5
1.1.2. Khái niệm hủy kết hôn trái pháp luật ………………………….
9
1.1.3 Khái niệm hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật... 10
1.2. Hệ quả của việc hủy hôn nhân trái pháp luật………………….
11
1.2.1. Hệ quả pháp lý………………………………………………….
12
1.2.2. Hệ quả về mặt xã hội………………………………………….
.13
1.3. Những quy định về hủy hôn nhân trái pháp luật của Việt Nam qua 11
các thời kỳ lịch sử
1.3.1. Những quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái
pháp luật của Việt Nam thời kì phong kiến ........................................ 13
1.3.2. Những quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái
pháp luật của Việt Nam thời kì pháp thuộc ........................................ 15
1.3.3. Những quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái
pháp luật của Việt Nam giai đoạn 1945 đến năm 1975 ...................... 17
1.3.4. Những quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái
pháp luật của Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay .............................20
Chƣơng 2: NỘI DUNG HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC HỦY HÔN
2.1.
2.1.4.
2.1.5.
2.3 Đƣờng lối xử lý cụ thể các trƣờng hợp kết hôn vi phạm các điều kiện
kết hôn theo luật định………………………………………………..
59
2.3.1. Đường lối xử lý một số trường hợp cụ thể……………………..
59
2.3.2 Các biện pháp xử lý khác……………………………………….
2.3.2.1 Xử lý hành chính……………………………………………………
2.3.2.1 Xử lý hình sự…………………………………………………
62
62
64
Chƣơng 3: NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HẬU QUẢ
PHÁP LÝ CỦA VIỆC HỦY HÔN NHÂN TRÁI PHÁP
LUẬT............................................................................................ …..69
3.1. Một số tồn tại , hạn chế của pháp luật hiện hành về vấn đề hậu quả
pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật………...…
69
pháp luật trong đó có hành vi kết hôn trái pháp luật. Việc hình thành quan hệ
hôn nhân trái pháp luật ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội, gây ra
những hậu quả xấu cho các thành viên trong gia đình, cho những người xung
quanh và để lại nhiều hệ lụy xấu cho xã hội. Trong khi đó, hệ thống pháp luật
nói chung và hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng vẫn còn
nhiều bất cập, hạn chế; chưa thể dự liệu cũng như điều chỉnh một cách toàn
diện các trường hợp phát sinh cũng như hậu quả pháp lý mà hôn nhân trái
pháp luật gây ra. Vì thế, việc nghiên cứu về hôn nhân trái pháp luật và hậu
quả pháp lý của hôn nhân trái pháp luật trong tình hình hiện nay là điều hết
sức cần thiết. Việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ nhằm dự liệu thêm các
trường hợp phát sinh, mà quan trọng hơn đó là hoàn thiện hơn nữa hệ thống
pháp luật nhằm khắc phục, giải quyết các trường hợp vi phạm quy định của
luật hôn nhân và gia đình. Như vậy pháp luật mới có hướng bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, đảm bảo xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình
1
văn minh, tiến bộ,vì con người, bảo vệ quyền con người.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hậu quả pháp lý của việc
hủy hôn nhân trái pháp luật theo luật hôn nhân gia đình năm 2014. Từ đó đưa
ra những điểm bất cập hạn chế của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và đưa
ra một số ý kiến nhằm bổ sung, khắc phục những hạn chế của luật hôn nhân
gia đình năm 2014
2.2.Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên cần đạt được một số mục tiêu
cụ thể như sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn
nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn
nhân trái pháp luật.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái
pháp luật
Phạm vi nghiên cứu: những quy định của pháp luật hiện hành về hậu
quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật
5. Nội dung, địa điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về hậu quả pháp
lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật theo quy định của pháp luật hiện hành.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Thực hiện đề tài này, tác giả dựa trên cơ sở
phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước và Pháp luật. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê v.v...
6. Kết cấu luận văn
3
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và kết cấu
luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hậu quả pháp lý của việc
hủy hôn nhân trái pháp luật theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014
Chương 2: Nội dung hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp
luật theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014
Chương 3: Những tồn tại, hạn chế và một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật
4
kiến, kết hôn trái pháp luật được quan niệm là những cuộc két hôn không
tuân thủ một số điều kiện như không môn đăng hộ đối, không được sự chấp
thuận của cha mẹ, họ hàng...
Để lý giải cho những quan niệm của thời kỳ phong kiến, chúng ta có
thể giải thích quan niệm đó thông qua chính nội tại của xã hội phong kiến. Xã
hội phong kiến là một xã hội mà ở nơi đó có sự chuyên quyền, gia trưởng, độc
đoán. Ở xã hội đó, kết hôn không phải là sự tự nguyện và quyết định của hai
bên nam nữ mà đó là mối quan hệ của hai gia đình, dòng họ, và đôi khi kết
hôn còn được sử dụng như một công cụ chính trị nhằm đạt được một mục
đích nào đó nếu cuộc kết hôn đó thuộc tầng lớp vua chúa, quan lại, quý tộc. Ở
xã hội đó quan niệm về dân chủ và bình đẳng giới chưa hề xuất hiện. Vì thế ở
thời đó nam nữ hoàn toàn chấp nhận việc kết hôn là việc của hai gia đình, hai
dòng họ và sự chấp thuận của gia đình và dòng họ vẫn là yếu tố quan trọng
nhất quyết định tới sự thành công của cuộc kết hôn. Nếu như có một đôi nam
nữ nào đó kết hôn với nhau mà không được sự đồng ý của gia đình, dòng họ
thì cuộc kết hôn đó sẽ không được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
Bên cạnh đó, trong pháp luật phong kiến còn có rất nhiều những quy
định hà khắc, cổ hủ, không cho con người có bất cứ quyền tự do dân chủ nào
đặc biệt là người phụ nữ trong gia đình, từ khi họ sinh ra và lớn lên hầu như
không có quyền đòi hỏi những quyền lợi cho bản thân, tất cả những việc hệ
trọng trong cuộc đời của họ đều do gia đình, dòng họ sắp đặt, và họ cũng phải
chấp nhận cảnh đàn ông “năm thê bảy thiếp”.Do đó trong rất nhiều việc đặc
biệt là việc kết hôn đại sự, họ mặc nhiên chấp nhận những điều đó, coi điều
đó là điều đương nhiên, là số mệnh sắp đặt và những điều đó cứ được truyền
qua nhiều thế kỷ làm cho những quy định này trở thành một điều gì đó ăn sâu
vào suy nghĩ, vào tiềm thức của mỗi con người tạo thành một hệ tư tưởng,
một quan niệm mà không dễ gì có thể thay đổi được và ở một góc độ nào đó
6
7
thái kinh tế - xã hội, ở mỗi quốc gia có những quan điểm, những quy định
khác nhau về hôn nhân cũng như hôn nhân trái pháp luật, nhưng tựu chung lại
thì pháp luật ở mỗi quốc gia đều tạo ra một khuôn khổ pháp lý nhất định,
trong khuôn khổ pháp lý đó thì mọi cuộc hôn nhân trên tinh thần tự nguyện
đều được Nhà nước và xã hội tôn trọng và thừa nhận. Tuy nhiên nếu như có
một hành vi nào đó vượt khỏi khuôn khổ pháp lý hoặc là vi phạm vào những
điều cấm thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ có biện pháp can thiệp
nhằm điều chỉnh những hành vi đó tuân theo những quy định mà khuôn khổ
pháp lý đề ra. Trải qua các thời kỳ khác nhau thì những quan niệm của con
người về hôn nhân và gia đình cũng có nhiều sự thay đổi khác nhau, vì vậy
những quy định của pháp luật cũng sẽ phải được điều chỉnh cho phù hợp với
tình hình thực tiễn. Hiện nay, với những tiến bộ về khoa học công nghệ,
những thay đổi về môi trường sống, xã hội ngày càng phát triển hơn, văn
minh hơn nên xu hướng làm luật nói chung và làm luật về hôn nhân và gia
đình nói riêng cũng ngày càng thay đổi theo hướng tôn trọng các quyền tự do
của con người, đặc biệt là tự do hôn nhân, các trường hợp kết hôn trên cơ sở
tự nguyện, tự thỏa thuận của các bên tham gia quan hệ hôn nhân đều được
Nhà nước và xã hội đề cao và ủng hộ. Như vậy có thể nói rằng, pháp luật nói
chung và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng ngoài việc tạo ra khuôn
khổ pháp lý cho quan hệ hôn nhân và gia đình thì pháp luật cũng rất linh hoạt
nhằm vừa tôn trọng và đảm bảo quyền và lợi ích của các bên, bảo đảm trật tự
công cộng, vừa phù hợp với tâm tư, tình cảm của con người. Không những
thế, quan hệ hôn nhân và gia đình còn mang trong mình những đặc điểm
mang tính đặc thù mà những quan hệ dân sự khác cũng không có được. Đó
chính là trong quan hệ hôn nhân và gia đình thì mọi sự thỏa thuận, mọi sự
bình đẳng đều được gắn liền với yếu tố tình cảm, gắn với trách nhiệm của vợ,
chồng đối với nhau, của vợ, chồng đối với con cái. Đây là mối quan hệ gốc
bản pháp luật trước đây mà cụ thể là Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và
9
năm 2000 chưa có quy định cụ thể thế nào là hủy kết hôn trái pháp luật.
Mặc dù pháp luật pháp luật không có định nghĩa thế nào là hủy kết hôn
trái pháp luật. Tuy nhiên, theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý thì
“hủy” có nghĩa là “phá bỏ, làm cho không còn tồn tại hoặc không có giá trị”.
Từ đó, tôi xin đưa ra định nghĩa về hủy kết hôn trái pháp luật như sau: “Hủy
việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lý đối với những trường hợp kết
hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhằm đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh Luật
hôn nhân và gia đình”
Việc hủy kết hôn trái pháp luật có một số đặc điểm sau:
- Thứ nhất, hủy việc kết hôn trái pháp luật là thể hiện thái độ của Nhà
nước đối với hành vi kết hôn trái pháp luật, vi phạm pháp luật về hôn nhân và
gia đình
- Thứ hai, hủy việc kết hôn trái pháp luật là chế tài đối với cá nhân có
hành vi vi phạm pháp luật
- Thứ ba, hủy việc kết hôn trái pháp luật là chế tài mang tính chất linh
hoạt, mềm dẻo. Bởi vì không phải mọi hành vi kết hôn trái pháp luật đều bị
Tòa án ra quyết định hủy.
1.1.3 Khái niệm hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
Trong cuộc sống hang ngày, chúng ta thường được nghe thấy hai từ
“hậu quả”. Vậy khái niệm hậu quả được hiểu như thế nào? Về khái niệm này
có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có hai quan điểm chính. Quan điểm
thứ nhất cho rằng hậu quả là cái gì đó không hay, không tốt và được hiểu theo
nghĩa tiêu cực. Đây được cho là quan điểm theo nghĩa hẹp. Còn quan điểm
thứ hai hiểu theo nghĩa rộng cho rằng, hậu quả là bao gồm cả điểm tích cực và
điểm tiêu cực. Theo đó, hậu quả là kết quả phát sinh từ một hành vi hay một
yếu lo phần nội trợ và chăm sóc chồng con. Bên cạnh đó, cuộc hôn nhân trái
pháp luật còn ảnh hưởng tới con cái họ, tới những người thân xung quanh họ.
Đặc biệt là những đứa trẻ có quyền được hưởng sự thương yêu, chăm sóc của
cả cha và mẹ vậy mà cuộc hôn nhân trái pháp luật vô hình chung đã đẩy
11
những đứa trẻ vào hoàn cảnh không được hưởng sự thương yêu, chăm sóc
một cách đầy đủ và trọn vẹn, ảnh hưởng tới tâm sinh lý, tới tương lai của
chúng, ảnh hưởng tới thế hệ tương lai của đất nước. Đối với trường hợp kết
hôn khi chưa đủ độ tuổi kết hôn mà vẫn tiến hành những cuộc hôn nhân
không chỉ xâm hại tới quyền tự do, tự nguyện trong hôn nhân mà còn vi phạm
những quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em, thậm chí phạm một số tội
trong Bộ luật hình sự. Hôn nhân đồng giới cũng không được Nhà nước thừa
nhận. Hôn nhân trái pháp luật không chỉ gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích
chính đáng của công dân mà còn gây ra những khó khăn không nhỏ cho các
cơ quan Nhà nước. Những cuộc hôn nhân trái pháp luật sẽ khiến các cơ quan
Nhà nước khó nắm bắt và quản lý được các vấn đề liên quan đến hộ tịch, hộ
khẩu, khai sinh hoặc giải quyết những tranh chấp dân sự khác.
1.2.2. Hệ quả về mặt xã hội
Trước hết phải khẳng định rằng quan hệ hôn nhân vốn dĩ đã là một
quan hệ xã hội. Bởi thế những cuộc hôn nhân trái pháp luật không chỉ gây ra
những hệ quả về mặt pháp lý mà còn gây ra những hệ quả cho xã hội. Một gia
đình được hình thành và tồn tại để thực hiện tốt những chức năng của nó phải
được xây dựng trên cơ sở tình yêu của hai bên nam nữ, sự thương yêu, gắn
kết và tự nguyện chung sống, thực hiện tốt bổn phận của mình, phải được
thiết lập giữa những chủ thể khác giới có đầy đủ những tiêu chuẩn về thể lực,
sinh lý, tâm lý. Nếu một cuộc hôn nhân mà thiếu đi những yếu tố đó thì sẽ
không thể xây dựng được một gia đình hạnh phúc. Đó là những thành tố
của người gia trưởng. Nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình như
vấn đề kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái....
đã được nhiều văn bản quy phạm pháp luật dưới thời phong kiến quy định,
trong đó không thể không nhắc tới hai bộ luật tiêu biểu là Bộ Quốc triều hình
luật (Luật Hồng Đức) được ban hành dưới triều Lê và Hoàng Việt Luật Lệ
(Bộ luật Gia Long) được ban hành dưới triều Nguyễn. Tuy nhiên các văn bản
luật thời kỳ này ít quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái
pháp luật.
13
Bộ Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) là bộ luật hình chính thống
và quan trọng nhất của triều đại Nhà Lê (1428-1788); là một thành tựu có giá
trị đặc biệt trong trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Trong đó riêng về lĩnh vực
hôn nhân và gia đình có 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân gia
đình và những tội phạm khác trong lĩnh vực này.
Chương hộ hôn của Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) quy định
chế độ hôn nhân và gia đình có 58 điều. Trong đó có nhiều điều luật tiến bộ,
cụ thể là: Cấm kết hôn khi đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng. (Điều 317
Bộ luật Hồng Đức); Cấm kết hôn giữa những người thân thích. (Điều 319
Luật Hồng Đức); Cấm quan lại không được lấy con hát làm vợ. (Điều 323)
Cấm học trò lấy vợ của thầy học đã chết, anh, em lấy vợ của em, anh đã chết.
(Điều 324). Cấm quan lại ở biên trấn kết thông gia với tù trưởng vùng đó.
(Điều 33). Cấm quan ty lấy con gái trong hạt mình. (Điều 316).
Đó là những quy định về những trường hợp bị cấm kết hôn, nếu vi
phạm những quy định đó thì Bộ luật Hồng Đức cũng có những quy định để
xử lý như Điều 316 Luật Hồng Đức đã quy định: đối với những trường hợp
khi các bên kết hôn đã vi phạm nghiêm trọng vào các điều cấm của luật tức là
đã vi phạm vào các điều kiện thiết yếu thì pháp luật không công nhận tính
mối quan hệ hôn nhân và gia đình dựa trên Bộ luật Dân sự Napoleon năm
1804 bao gồm: Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 áp dụng tại miền Bắc; Bộ dân
luật Trung Kỳ năm 1936 áp dụng tại miền Trung; Tập Dân luật giản yếu Nam
Kỳ năm 1883 áp dụng tại miền Nam.
Trong thời kỳ nửa thực dân nửa phong kiến, pháp luật của nước ta vừa
chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, vừa chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng
của Phương tây mà điển hình là tư tưởng của Pháp nên hôn nhân trái pháp
luật được hiểu là các trường hợp khi kết hôn các bên đã vi phạm vào điều cấm
kết hôn hoặc vi phạm một số các điều kiện khác của hôn nhân hợp pháp. Tuy
ba bộ dân luật thời kì này có những quy định về điều kiện kết hôn khác nhau,
15
song đều tập trung vào một số các vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích của
những người kết hôn, lợi ích của con cái, của gia đình và của cả xã hội. Nếu
việc kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn, các trường hợp bị cấm kết hôn thì
hôn nhân đó bị coi là trái pháp luật và có thể sẽ bị tuyên vô hiệu. Chúng ta có
thể thấy điều đó ở trong một số những quy định sau:
Thứ nhất, hôn nhân phải dựa trên cơ sở của sự tự nguyện, đồng thời
phải được sự đồng ý của cha mẹ. Điều 77, Bộ Dân luật Bắc kỳ quy
định“phàm không khi nào không có sự bằng lòng của cha mẹ mà kết hôn
được”. Nếu mẹ không bằng lòng thì chỉ cần sự đồng ý của người cha, nếu
cha mẹ đã chết hoặc không bày tỏ ý chí được thì phải được sự bằng lòng
của ông bà, nếu bà không bằng lòng thì chỉ cần ông bằng lòng là được. Nếu
không có ông bà, cha mẹ hoặc có nhưng không bày tỏ ý chí được thì người
dưới 21 tuổi, dù con trai hay con gái phải có người giám hộ bằng lòng mới
được kết hôn.
Thứ hai, về một số quy định cấm kết hôn thì Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ
dân luật Trung kỳ quy định cấm kết hôn khi một trong hai bên đang có tang
pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện đại, thể hiện sự tiến bộ một cách rõ
ràng trong việc quy định về vấn đề hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân
trái pháp luật so với hệ thống pháp luật thời kỳ phong kiến. Bộ dân luật Bắc
kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật đã quy định khá rõ ràng và có tính hệ
thống về hôn nhân và gia đình nói chung cũng như vấn đề hủy hôn nhân trái
pháp luật nói riêng. Vấn đề hủy hôn nhân trái pháp luật được nêu khá rõ
ràng trong đó có các trường hợp cấm kết hôn, có các điều kiện kết hôn, có
cơ quan thẩm quyền có thẩm quyền giải quyết, hậu quả pháp lý của hủy hôn
nhân trái pháp luật đã được quy định khá cụ thể.
1.3.3. Những quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái
pháp luật của Việt Nam giai đoạn 1945 đến năm 1975
Năm 1945 Việt Nam chúng ta tiến hành cách mạng tháng tám thành
17
công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời mở ra một trang mới trong
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tuy nhiên thì từ năm 1945 đến
1954 chúng ta vẫn phải tiến hành kháng chiến chống Pháp và từ năm 1954 tới
1975 thì tiến hành kháng chiến chống Mỹ. Trong thời kỳ này nước ta vừa
kháng chiến vừa kiến quốc và các văn bản quy phạm pháp luật từ đó cũng
được hình thành, đặc biệt là Hiến pháp năm 1946. Bên cạnh đó còn nhiều văn
bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh những mối quan hệ xã hội khác nhau
trong đó có các văn bản điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình.
Ở miền Bắc, Nhà nước đã ban hành Hiến pháp năm 1946- bản Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản Hiến pháp là văn
bản có giá trị pháp lý cao nhất đã ghi nhận những quyền cơ bản của con người
như quyền tự do dân chủ, bình đẳng nam nữ, ghi nhận những nguyên tắc về
hôn nhân tiến bộ, dần xóa bỏ những quan điểm, tư tưởng hôn nhân thời kỳ
phong kiến lạc hậu. Đi cùng với sự ra đời của bản Hiến pháp là sự ra đời của
về hôn nhân và gia đình cổ hủ, lạc hậu của thời kỳ phong kiến, xây dựng hôn
nhân tiến bộ một vợ một chồng.
Ở miền Nam, bị đế quốc Mỹ xâm lược và chịu sự quản lý của chế độ
Ngụy quyền Sài Gòn nên quan hệ hôn nhân và gia đình cũng được sự điều
chỉnh của một số văn bản quy phạm pháp luật như Luật Gia đình ngày
02/01/1959; Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 của chính quyền Ngụy quyền Sài
Gòn, Sắc luật 15/64. Trong đó vấn đề hôn nhân trái pháp luật cũng được ghi
nhận thông qua những quy định về độ tuổi kết hôn con gái tròn 16 tuổi, con
trai tròn 18 tuổi có đủ sức khỏe thì được phép kết hôn (điều 10, Sắc luật
15/64; điều 104, Bộ dân luật năm 1972). Bên cạnh đó thì cuộc hôn nhân chỉ
được coi là có giá trị pháp lý khi có sự tự nguyện của hai bên nam nữ và gia
đình (điều 9, Luật Gia đình; điều 1, Sắc lệnh 15/64; điều 105 Bộ Dân luật
năm 1972). Thêm vào đó, pháp luật của chính quyền Sài Gòn cũng có quy
19