BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN NHƯ TRUNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC BASEL
Ở VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC THI CỦA CÔNG ƯỚC TRONG VIỆC
KIỂM SOÁT VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI XUYÊN BIÊN GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN NHƯ TRUNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC BASEL
Ở VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC THI CỦA CÔNG ƯỚC TRONG VIỆC
KIỂM SOÁT VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI XUYÊN BIÊN GIỚI
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
LUẬN VĂN THẠC SỸ
KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
quý báu để nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và đã cho
tôi những ý kiến, nhận xét, góp ý hữu ích để thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với GS TS Đặng Kim Chi đã bỏ
công sức tận tình hướng dẫn và đưa ra các ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình
thực hiện và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này.
Nhân dịp này, tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn đối với Lãnh đạo Cục Quản lý
chất thải và Cải thiện môi trường, Phòng Quản lý chất thải nguy hại, các đồng
nghiệp, bạn bè đã cung cấp thông tin, hỗ trợ, động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã dành cho
tổi tất cả tình thương, luôn động viên, giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn để vươn
lên trong học tập và công tác.
Lớp KTMT 2012B
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
ii
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................... vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ..................................................................................... vii
DANH MỤC CÁC KHUNG ................................................................................. vii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu ........................................................................................... 3
mại quốc tế và bảo vệ môi trường ...................................................................... 35
2.2.2 Kiểm soát các hoạt động thương mại liên quan đến chất thải .................... 37
2.2.2.1 Xuất khẩu CTNH theo quy định của Công ước .................................. 37
2.2.2.2 Nhập khẩu phế liệu ........................................................................... 39
2.2.2.3 Tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu chất thải ........................................ 42
Lớp KTMT 2012B
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
iii
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
2.2.2.4 Hàng hóa tồn đọng tại các cảng biển phát hiện có chứa chất thải ...... 47
2.2.2.5 Đánh giá các vụ vận chuyển CTNH trái phép vào Việt Nam.............. 49
2.2.3 Hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước để kiểm soát vận
chuyển chất thải xuyên biên giới ...................................................................... 52
2.2.3.1 Hợp tác trong nước ............................................................................ 52
2.2.3.2 Hợp tác quốc tế.................................................................................. 53
2.2.4 Đào tạo, tập huấn và phổ biến thông tin .................................................... 55
2.3 Phân tích các khó khăn trong việc thực hiện Công ước Basel tại Việt Nam ............ 58
2.3.1 Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và còn nhiều điểm thiếu sót, bất cập .58
2.3.2 Phối hợp thiếu chặt chẽ giữa các cơ quan thực thi pháp luật liên quan ...... 66
2.3.3 Năng lực yếu kém và sự tiếp tay của một bộ phận lực lượng thực thi pháp
luật nhằm che giấu các chuyến hàng nhập khẩu chất thải trái phép .................... 67
2.3.4 Thiếu sự quan tâm của các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện
Công ước ........................................................................................................... 69
2.3.5 Hạn chế tuyên truyền phổ biến thông tin ................................................... 70
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
iv
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
PHỤ LỤC 3 ĐÁNH GIÁ CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM
SOÁT HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
............................................................................................................................ 114
1 Hệ thống văn bản pháp luật quy định về hoạt động xuất nhập khẩu .................. 114
1.1 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 .......................................................... 114
1.2 Nghị định số 187/2013/NĐ-CP .................................................................. 114
1.3 Thông tư số 11/2012/QĐ-BTTTT .............................................................. 117
1.4 Thông tư liên tịch số 34/2012/TTLT-BCT-BTNMT .................................. 117
1.5 Thông tư số 01/2013/TT-BTNMT ............................................................. 119
1.6 Thông tư số 04/2014/TT-BCT ................................................................... 119
1.7 Thông tư số 05/2014/TT-BCT ................................................................... 120
1.8 Thông tư số 20/2014/TT-BKHCN ............................................................. 122
2 Hệ thống văn bản pháp luật quy định về phòng chống buôn lậu trái phép trong
hoạt động hải quan .............................................................................................. 123
2.1 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ............................................................... 123
2.2 Nghị định số 107/2002/NĐ-CP .................................................................. 125
2.3 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP .................................................................. 126
3 Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động kiểm soát vận
chuyển chất thải/phế liệu xuyên biên giới ............................................................ 127
3.1 Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ................................................ 127
3.2 Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg .............................................................. 129
Basel Action Network (Mạng lưới Hoạt động Basel)
BVMT
Bảo vệ môi trường
COP
Conference of the Parties (Hội nghị các bên)
CRT
Cathode Ray Tube (màn hình hoạt động theo nguyên lý ống phóng
chùm điện tử)
CTNH
Chất thải nguy hại
EC
European Commission (Ủy ban Châu Âu)
EC
European Community (Cộng đồng Châu Âu)
EU
European Union (Liên minh Châu Âu)
Polychlorinated biphenyl
RILO-AP
Regional Intelligence Liaison Office for Asia and the Pacific
(Văn phòng Thông tin tình báo khu vực Châu Á-Thái Bình Dương)
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
TNTX
Tạm nhập, tái xuất
UBND
Ủy ban nhân dân
UNEP
United Nations Environment Programme
(Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc)
WCO
World Customs Organization (Tổ chức Hải quan Thế giới)
WEEE
Bảng 2.5 Thống kê số lượng phế liệu TNTX qua cảng Hải Phòng ...............................
42
Bảng 2.6 Thống kê số lượng container tồn đọng tại các cảng Hải Phòng ...............
47
Bảng 2.7 Kết quả đấu tranh chống buôn lậu chất thải trái phép .......................................
51
Bảng 2.8 Thống kê các hội thảo/hội nghị về Công ước Basel mà đại diện Việt
Nam tham dự từ 2009-2013 ..................................................................................................................................
55
Bảng 2.9 Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do việc lưu giữ thép phế liệu ..............
72
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các cô gái Cămpuchia đi bộ qua bãi đổ CTNH của một công ty hóa
chất Đài Loan ........................................................................................................................................................................ 10
Hình 1.2 Nguồn gốc màn hình CRT bị bắt giữ vận chuyển trái phép tại Hồng
Công .. ...........................................................................................................................................................................................
18
kinh tế, thúc đẩy tự do hoá thương mại toàn cầu, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho
các cá nhân, tổ chức tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh hoạt động xuất
nhập khẩu các loại hàng hoá nói chung và các máy móc, thiết bị, phế liệu để phục
vụ sản xuất nói riêng. Nhưng cũng từ khi Việt Nam mở cửa buôn bán thương mại
với các nước trên thế giới và phát triển nền sản suất hàng hóa, vấn đề môi trường
cũng bắt đầu trở thành một vấn nạn, đặc biệt là trong quá trình giao lưu kinh tế với
các nước trên thế giới thông qua các cửa khẩu, cảng biển quốc tế. Việt Nam có hệ
thống giao thông đa dạng và thuận tiện cho việc vận chuyển và lưu thông hàng hóa
với các nước trên thế giới với khoảng 60 cửa khẩu quốc tế/quốc gia, 49 cảng biển
các loại, 7 cửa khẩu quốc tế hàng không và 1 cửa khẩu quốc tế đường sắt. Hàng
năm, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam với số lượng rất lớn và đa dạng về chủng
loại, trong đó có một số mặt hàng nhập khẩu trái phép có nguy cơ tiềm ẩn gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con
người (từ thực phẩm chưa qua kiểm dịch, các sinh vật lạ, các máy móc/thiết bị cũ,
phế thải công nghiệp, ... cho đến chất thải). Việc thẩm lậu chất thải trái phép vào
Việt Nam ngày càng trở thành vấn đề đáng quan ngại kể từ khi có hoạt động nhập
khẩu, tạm nhập tái xuất (TNTX) các phế liệu làm nguyên liệu sản xuất có chứa chất
thải, đặc biệt là chất thải nguy hại (CTNH) với số lượng ngày càng gia tăng và tính
chất ngày càng phức tạp.
Chỉ tính riêng cảng Hải Phòng hiện nay còn tồn đọng hơn 5.000 container,
trong đó có nhiều container có dấu hiệu vi phạm (chứa săm lốp thải, ắc quy chì, phế
liệu bẩn, bản mạch điện tử, màn hình các loại, thức ăn chăn nuôi, hàng đông lạnh,
thực phẩm hết hạn sử dụng …) được coi là hàng tồn, hàng vô chủ, chiếm giữ diện
tích mặt bằng, kho bãi lưu giữ của cảng và ảnh hưởng đến môi trường. Mặc dù các
cơ quan chức năng đã tăng cường theo dõi, kiểm tra, giám sát, đưa ra những quyết
định xử lý để răn đe nhưng hầu hết các doanh nghiệp nhập khẩu trái phép đều trốn
Lớp KTMT 2012B
1
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
trong nước và hợp tác quốc tế trong công tác quản lý CTNH và ngăn chặn các hoạt
động vận chuyển trái phép CTNH xuyên biên giới. Tuy nhiên, trải qua hơn 18 năm
kể từ khi gia nhập Công ước Basel, Việt Nam chưa có đánh giá hoặc tổng kết về
quá trình thực thi Công ước này để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và sửa đổi
chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn. Trước thực trạng như vậy, chúng
Lớp KTMT 2012B
2
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
tôi đã lựa chọn đề tài “Đánh giá tình hình thực hiện Công ước Basel ở Việt Nam và
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi của Công ước trong việc kiểm soát
vận chuyển chất thải xuyên biên giới” với mong muốn đánh giá các nỗ lực thực thi
của Việt Nam và các vấn đề tồn tại để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả và
hiệu lực thực thi Công ước, góp phần ngăn ngừa và giảm thiểu các vụ vận chuyển
trái phép chất thải xuyên biên giới.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình tìm kiếm tài liệu phục vụ cho đề tài luận văn, chúng tôi chưa
thấy có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ về việc thực thi Công ước Basel
ở Việt Nam. Các tài liệu tham khảo chính trong nước hiện nay chủ yếu dựa trên các
báo cáo của Tổng cục Môi trường, Tổng cục Hải quan và Cục Cảnh sát phòng
chống tội phạm về môi trường. Bên cạnh đó, việc tham khảo luận văn, các bài báo,
tạp chí chuyên ngành về vấn đề nhập khẩu phế liệu, kiểm soát vận chuyển chất thải
xuyên biên giới cũng được chúng tôi lưu tâm tìm hiểu. Tuy nhiên, các tài liệu học
thuật này có nội dung chủ yếu đánh giá Công ước Basel dưới góc độ xem xét các
Tóm lại, cho đến nay ở nước ta chưa có một công trình nghiên cứu một cách
hệ thống và toàn diện vấn đề thực hiện Công ước Basel ở Việt Nam. Với đề tài
nghiên cứu đề xuất, chúng tôi hy vọng sẽ khắc phục được phần nào tình trạng nêu trên.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Đề tài nghiên cứu của luận văn nhằm làm sáng tỏ quá trình tổ chức, thực thi
Công ước Basel tại Việt Nam trong việc kiểm soát vận chuyển chất thải xuyên biên
giới để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Công ước,
góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng trước nguy cơ của các vụ thẩm
lậu chất thải trái phép vào Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, đề tài cần thực hiện các nội dung
nghiên cứu sau:
1. Phân tích các quy định pháp luật thương mại và môi trường hiện hành ở
Việt Nam về kiểm soát hoạt động vận chuyển chất thải xuyên biên giới và chỉ ra các
mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó;
2. Đánh giá mức độ thực thi Công ước Basel qua các hoạt động:
- Nhập khẩu phế liệu;
- Xuất khẩu CTNH;
- Tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu hàng hóa/thiết bị đã qua sử dụng có yếu tố
nguy hại;
Lớp KTMT 2012B
4
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
- Bắt giữ các vụ vận chuyển chất thải trái phép vào Việt Nam;
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Rà soát, thu thập và nghiên cứu các văn
bản pháp quy, tài liệu, thông tin, dữ liệu có liên quan về hoạt động vận chuyển chất
thải xuyên biên giới. Nguồn tài liệu chính thống từ các cơ quan thực thi pháp luật
trong nước được thu thập từ các công văn, báo cáo và chuyên đề thực hiện nhiệm vụ
phục vụ cho việc lựa chọn số liệu, thông tin hữu ích đánh giá về các hoạt động thực
thi Công ước Basel. Bên cạnh nguồn tài liệu trong nước là các báo cáo, nghiên cứu
đánh giá về Công ước Basel và hoạt động buôn bán chất thải của các học giả, tổ
chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ cũng góp phần bổ sung thông tin cần thiết
cho đề tài.
- Phương pháp kế thừa: Sử dụng kế thừa các tài liệu, tư liệu, kết quả của các
công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế để khái quát hóa tình hình thực hiện
Công ước Basel của Việt Nam và các nước trên thế giới; cung cấp thông tin về hoạt
động vận chuyển chất thải xuyên biên giới, trong đó có tình hình buôn lậu bất hợp
pháp; lựa chọn sử dụng các kết quả nghiên cứu trước đây để đề xuất các giải pháp
quản lý việc vận chuyển chất thải xuyên biên giới.
- Phương pháp chuyên gia: Áp dụng trong việc thu thập thông tin, phân tích
thực trạng của hoạt động buôn bán chất thải xuyên biên giới (chủ yếu là nhập khẩu
phế liệu, TNTX và xuất khẩu chất thải), đánh giá các khó khăn, thách thức cũng
như đề xuất các giải pháp thực thi hiệu quả Công ước Basel ở Việt Nam dựa trên
hiểu biết và kinh nghiệm của các chuyên gia trong một số lĩnh vực liên quan. Quá
trình áp dụng phương pháp chuyên gia được chia thành ba giai đoạn: Lựa chọn
chuyên gia; trưng cầu ý kiến chuyên gia và xử lý các ý kiến, đánh giá của chuyên
gia. Các chuyên gia được lựa chọn bao gồm: Chuyên gia pháp luật, chuyên gia môi
trường; cán bộ quản lý xuất nhập khẩu; cán bộ hải quan/cảnh sát phòng chống tội
phạm môi trường liên quan và chuyên gia độc lập của các tổ chức phi chính phủ.
Việc trưng cầu ý kiến chuyên gia được thực hiện khi ta xác định được các vấn đề
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG ƯỚC BASEL VÀ HOẠT ĐỘNG VẬN CHUYỂN
CHẤT THẢI XUYÊN BIÊN GIỚI
1.1 Bối cảnh hình thành và quá trình phát triển của Công ước Basel [15]
Vào giữa những năm 1980 đã xuất hiện những thông tin phát hiện về việc
nhiều thùng chứa hóa chất công nghiệp độc hại được chôn lấp ở các bờ biển nhiệt
đới và các tàu chở chất thải độc hại chạy dọc theo bờ biển của những quốc gia đang
phát triển để tìm nơi cập bờ. Những “chuyến tàu chết chóc” đầu tiên này đã thực sự
phơi bày cho công chúng biết về những dấu hiệu của một loại hình buôn bán siêu
lợi nhuận mà có nguy cơ trở thành đại dịch - đó là buôn lậu CTNH. Điều đáng bàn
là số lượng CTNH xuất khẩu trên toàn cầu hoặc đến các nước đang phát triển là
không thể nắm bắt được. Hơn nữa, hậu quả của những chuyến hàng xuất khẩu này
cũng rất khó lướng trước được. Dựa trên kết quả điều tra, người ta phát hiện thấy
các dòng vận chuyển CTNH từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển để
xử lý thông qua các giao dịch được thực hiện bởi các kẻ môi giới chất thải. Do lợi
nhuận kinh tế, việc xử lý CTNH ở các nước đang phát triển có chi phí thấp, đồng
thời hoạt động xử lý tạo ra một nguồn thu đáng kể. Tuy nhiên, các quốc gia tiếp
nhận không có đủ chuyên môn, thiết bị và công nghệ để xử lý chất thải đúng cách
nên điều tất yếu là chất thải có thể gây ra các vấn đề cho sức khỏe và môi trường ở
các quốc gia này. Thậm chí dù phải đối mặt với một viễn cảnh đen tối như vậy, các
nước nghèo nhận thấy rất khó khăn để từ chối các hoạt động này vì chúng đem lại
doanh thu hấp dẫn. Ví dụ, Guinea-Bissau đã ký một số hợp đồng nhận chất thải từ
Hoa Kỳ và Châu Âu trong thời gian 5 năm với số tiền là 600 triệu đô la, tương
đương với tổng sản phẩm quốc gia hàng năm. Sau đó, mặc dù Guinea-Bissau đã hủy
bỏ các hợp đồng này do áp lực từ các nước láng giềng, song tình trạng này phản ánh
một tình thế khó xử phải đối mặt của nhiều quốc gia đang phát triển đối với nguồn
xây dựng thương mại” và “hóa chất tồn dư”. Sau đó, các công nhân Nigeria đã
chuyển đống chất thải này tái xuất về Italia. Hậu quả là có nhiều người phải nhập
viện vì bỏng hóa chất, buồn nôn, nôn ra máu và mất cảm giác một phần. Phản ứng
lại hành động đổ bỏ chất thải trái phép, Nigeria đã triệu hồi đại sứ của mình tại
Italia và sau đó bắt giữ một tàu chở hàng của Italia để gây áp lực buộc giới chức
Italia phải đưa chất thải về nước. Kết cục, các tàu Karin B và Deepsea Carrier đã
được thuê để vận chuyển chất thải trở lại Châu Âu, nơi mà chúng phải đối mặt với
các cuộc biểu tình lớn.
- Công ty Jelly Wax, một nhà môi giới chất thải Italia, đã xuất khẩu chất thải
tới Lebanon và Venezuela mà không có sự đồng ý trước của hai quốc gia này. Con
Lớp KTMT 2012B
9
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
tàu Zanoobia, mang theo một số chất thải đã cố gắng đổ chất thải ở Djibouti và
Syria trước khi bị buộc phải quay trở về Italia.
- Chất thải phóng xạ từ nhiều nước Châu Âu và Liên Xô cũ đã được đổ thải tại
Benin mà không được xử lý.
- Đảo Kassa của Guinea tiếp nhận 15.000 tấn nguyên liệu dán nhãn sai dưới
dạng nguyên liệu thô để sản xuất gạch. Sau khi thảm thực vật bị hủy diệt, các chất
thải đã được lấy mẫu phân tích và phát hiện ra là tro thải lò đốt.
- Cuối năm 1998, 3000 tấn chất thải công nghiệp có chứa thủy ngân đóng gói
trong túi nhựa đã được tìm thấy trong một bãi đổ gần Sihanoukville, Cămpuchia.
Chất thải được dán nhãn “bánh xi măng” trên chứng từ nhập khẩu thuộc về một
năm 1987, sau khi có những phản ứng mạnh mẽ từ các quốc gia đang phát triển và
một số tổ chức phi chính phủ, Liên Hợp quốc đã xúc tiến những cuộc đàm phán để
chuẩn bị cho một công ước quốc tế về vận chuyển xuyên biên giới CTNH. UNEP
đã thông qua Hướng dẫn và Nguyên tắc Cairo về quản lý hợp lý về môi trường đối
với CTNH, theo đó đưa ra các khuyến nghị liên quan đến việc xuất khẩu CTNH.
Hướng dẫn Cairo yêu cầu phải gửi thông báo về các trường hợp xuất khẩu CTNH
đến các nước nhập khẩu và quá cảnh và sau đó nhận được sự đồng ý của những
quốc gia này trước khi xuất khẩu. Nhà xuất khẩu đảm bảo các cơ sở xử lý có đủ khả
năng để xử lý các CTNH và việc xử lý phải đáp ứng quy định tối thiểu nghiêm ngặt
như những cơ sở xử lý của các quốc gia xuất khẩu. Sau khi thông qua Hướng dẫn
Cairo, UNEP đã tìm cách hợp nhất các nguyên tắc tương tự trong một Công ước.
Công việc này bắt đầu với một cuộc họp tổ chức tại Budapest, Hungary trong tháng
10 năm 1987. Các quan điểm xung đột về các vấn đề chính đã cản trở việc đạt tới
một hiệp định. Nhìn chung, nhiều nước đang phát triển ủng hộ một lệnh cấm BắcNam về vận chuyển CTNH, trong khi một số nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (OECD) đề xuất một hệ thống quản lý dựa trên việc thông báo và cho
Lớp KTMT 2012B
11
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
phép. Các cuộc tranh luận cuối cùng tập trung vào một số vấn đề, chủ yếu là bản
chất của các quy định về chất thải, cơ chế thông báo trước và sự chấp thuận.
Năm 1988, Tổ chức Thống nhất châu Phi (OAU) đã thông qua nghị quyết lên
án việc tiêu hủy CTNH ở Châu Phi và yêu cầu những người có trách nhiệm phải
làm sạch các chất thải này. Một số quốc gia thành viên OAU đã ban hành luật xử
Nguyễn Như Trung
Khung 1.1 Các mốc sự kiện đánh dấu việc hình thành và thúc đẩy việc phê
chuẩn Văn kiện bổ sung lệnh cấm [13]
Căn cứ vào Công ước Basel, các quốc gia đang phát triển và các tổ chức đã xây
dựng những lệnh cấm ở quy mô quốc gia và khu vực. Những cố gắng này nhanh
chóng có kết quả và do đó ngay tại thời điểm Công ước Basel có hiệu lực năm
1992, có tới 88 quốc gia đã áp dụng các điều luật hoặc các thỏa thuận cấp quốc
gia hoặc khu vực để cấm nhập khẩu các CTNH. Cơn sóng thủy triều lớn này đã
thuyết phục được các quốc gia tiên tiến ở Châu Âu như Thụy Sỹ, Na Uy, Thụy
Điển và Đan Mạch tham gia cùng các quốc gia phát triển và các nước Đông Âu
để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa cho việc ra đời một lệnh cấm toàn cầu. Các chính
phủ và các tổ chức phi chính phủ đã thành công trong việc từng bước chuyển hóa
Công ước Basel thành các quyết định được thông qua bởi Hội nghị các Bên:
* COP 1 (12/1992): Quyết định 1/22 yêu cầu các nước đang phát triển cấm nhập
khẩu các CTNH từ các quốc gia công nghiệp.
* COP 2 (3/1994): Quyết định 2/12 cấm xuất khẩu tất cả các CTNH từ các nước
OECD tới các nước không thuộc OECD, kể cả cho việc tái chế như thỏa thuận
tháng 1/1998.
* COP 3 (9/1995): Quyết định 3/1 chấp thuận lệnh cấm xuất khẩu CTNH từ các
nước OECD và Liechtenstein tới các nước không thuộc OECD như một Văn kiện
sửa đổi Công ước.
* COP 4 (2/1998): Quyết định 4/8 chấp thuận không thay đổi Văn kiện sửa đổi
lệnh cấm cho tới khi có hiệu lực. Quyết định 4/7 yêu cầu tất cả các Bên phê
chuẩn Văn kiện bổ sung lệnh cấm sớm nhất.
* COP 5, 6 và 7 (12/1999, 12/2002, 10/2004): Quyết định 5/3, 6/33, 7/23 đều yêu
cầu các Bên phê chuẩn Văn kiện bổ sung lệnh cấm càng sớm càng tốt.
* COP 10 (10/2011): Quyết định 10/3 dựa trên sáng kiến của Indonexia và Thụy
Sỹ về đẩy mạnh việc thực hiện hiệu quả Công ước Basel, trong đố nhấn mạnh
- Chú trọng đến hiểm họa gia tăng đối với sức khỏe con người và môi trường
do việc vận chuyển xuyên biên giới ngày càng tăng của các CTNH (đặc biệt là chất
thải điện tử)
- Nhận thức rằng việc vận chuyển các chất thải từ quốc gia nơi chúng phát sinh
tới bất kỳ quốc gia nào khác chỉ được phép khi việc vận chuyển đó được tiến hành
với điều kiện là không đe dọa tới sức khỏe con người, môi trường và tuân thủ các
điều khoản của Công ước;
- Tăng cường kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới các CTNH và những
chất thải khác là một biện pháp khuyến khích sự quản lý hợp lý về mặt môi trường
đối với các chất thải này và giảm thiểu khối lượng vận chuyển xuyên biên giới của
chúng;
- Các quốc gia phải áp dụng các biện pháp kiểm soát việc vận chuyển xuyên
biên giới các CTNH và những chất thải khác từ quốc gia này qua quốc gia khác
cũng như các biện pháp trao đổi thông tin phù hợp về việc vận chuyển này.
Các điều khoản của Công ước xoay quanh các mục đích chính sau: (i) giảm
phát sinh CTNH và thúc đẩy quản lý hợp lý về môi trường đối với CTNH tại các cơ
sở xử lý, (ii) hạn chế vận chuyển CTNH xuyên biên giới trừ trường hợp đáp ứng các
nguyên tắc quản lý hợp lý về môi trường; và (iii) việc áp dụng hệ thống thông báo
theo quy định đối với các trường hợp được phép vận chuyển chất thải xuyên biên giới.
Lớp KTMT 2012B
14
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
Công ước Basel áp dụng đối với việc xuất khẩu “CTNH” và “chất thải khác”.
Các CTNH được định nghĩa bao gồm các chất thải được liệt kê theo danh sách và
Luận văn Thạc sỹ
Nguyễn Như Trung
quốc gia xuất khẩu. Nếu vì bất cứ lý do gì, chất thải không được nhập khẩu và tiêu
hủy, quốc gia xuất khẩu phải nhận lại chất thải.
Công ước Basel không cho phép một quốc gia xuất khẩu chất thải sang một
quốc gia khác đã cấm nhập khẩu các chất thải đó. Các quốc gia thành viên phải
ngăn ngừa việc xuất khẩu chất thải sang các nước không tham gia Công ước. Ngoài
việc bị cấm xuất khẩu giữa các quốc gia như vậy, hoạt động xuất khẩu vẫn được
diễn ra khi có một hiệp định song phương cho phép hoạt động xuất khẩu đó. Trong
các trường hợp này, các hiệp định phải phù hợp với các nguyên tắc quản lý hợp lý
chất thải.
Khung 1.2 Một số điều khoản quan trọng của Công ước Basel
Điều 2. Các định nghĩa (trích dẫn Khoản 1 và Khoản 3)
- “Chất thải” là các chất hoặc vật thể được tiêu hủy, dự kiến tiêu hủy hoặc yêu
cầu bắt buộc tiêu hủy theo các điều khoản quy định của luật pháp quốc gia
- “Vận chuyển xuyên biên giới” là việc vận chuyển bất kỳ các CTNH hoặc những
chất thải khác, từ một khu vực thuộc quyền tài phán của một quốc gia đến hay
qua một khu vực thuộc quyền tài phán của một quốc gia khác, hoặc đến hay qua
một khu vực không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, miễn là có ít
nhất hai quốc gia tham gia vào việc vận chuyển này.
Ðiều 4 Các nghĩa vụ chung (trích dẫn Khoản 2, 3, 4, 7, 10 và 11)
- Mỗi Bên phải áp dụng các biện pháp thích hợp để:
+ Không cho phép xuất khẩu các CTNH hoặc những chất thải khác tới một
quốc gia hoặc các nhóm quốc gia cùng thuộc một tổ chức thống nhất về chính trị
hay kinh tế là các Bên, nhất là các nước đang phát triển, đã cấm nhập hoặc có lý
do để tin rằng các chất thải tương ứng không được quản lý hợp lý về môi trường