Tổng quan hiện trạng quản lý chất thải và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho KCN đại an thành phố hải dương phát triển theo xu thế KCNST - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-----------------------------------

LÊ THỊ THẢO

Đề tài:"Tổng quan hiện trạng quản lý chất thải và đề
xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho KCN Đại
An - thành phố Hải Dương phát triển theo xu thế
KCNST”

Người hướng dẫn: PGS. TS Ngô Thị Nga

Hà Nội - 2010


Luận văn Thạc sĩ Khoa học

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Thị Nga, Bà là
người thầy đã truyền đạt cho tôi những kiến thức từ khi còn là sinh viên đại học
Bách Khoa Hà Nội, cho đến quá trình học cao học tại trường và đặc biệt là Người
hướng dẫn tôi rất tận tình để hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể cán bộ của Trung tâm
Quan trắc và Phân tích môi trường, nơi tôi công tác, đã vun đắp và chắp cánh cho tôi
thực hiện ước mơ có được cơ hội tiếp tục học tập và nghiên cứu khóa học này. Tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự quan tâm của Lãnh đạo trung tâm, sự giúp đỡ của các
đồng nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, các cô của Viện Công nghệ môi trường,
trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã dành nhiều tâm huyết để truyền đạt những


Đánh giá tác động môi trường

KCN

Khu công nghiệp

KCX

Khu chế xuất

KCNST

Khu công nghiệp sinh thái

STCN

Sinh thái công nghiệp

STHCN

Sinh thái học công nghiệp

STTN

Sinh thái tự nhiên

SXSH

Sản xuất sạch hơn

Bảng 3.4 Kết quả phân tích nước mặt.............................................................................68
Bảng 3.5 Loại và lượng nhiên liệu sử dụng cho nồi hơi của một số công ty trong
KCN Đại An....................................................................................................................70
Bảng 3.6 Kết quả phân tích môi trường không khí lc tại KCN Đại An tháng 1 /2011...70
Bảng 3.7 Nguyên liệu và phế liệu của các công ty trong KCN Đại An..........................72
Bảng 3.8 Các công ty xử lý chất thải nguy hại cho các doanh nghiệp trong KCN
Đại An .............................................................................................................................76
Bảng 4.1Các cặp Công ty trong KCN có thể trao đổi phế thải với nhau........................83
Bảng 4.2 Khả năng trao đổi phế thải của các Công ty trong KCN với các đơn vị lân
cận KCN..........................................................................................................................84
Bảng 4.3 Lượng nước thất thoát từ các doanh nghiệp trong KCN Đại An ....................87

Lê Thị Thảo - KTMTC810

-3-


Luận văn Thạc sĩ Khoa học
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh một số KCN miền bắc
và miền trung từ năm 2006 - 2008. ................................................................................19
Hình 1.2 Nồng độ khí SO2 trong không khí xung quanh một số KCN miền Bắc .........20
từ năm 2006 - 2008 ........................................................................................................20
Hình 2.1 Hình thức thứ nhất của hệ công nghiệp (Lowenthal and Kastenberg, 1998;
Krrishnamohan and Heart, 2000)...................................................................................28
Hình 2.2 Hình thức thứ hai của hệ công nghiệp (Lowenthal and Kastenberg, 1998;
Krrishnamohan and Heart, 2000)...................................................................................29
Hình 2.3 Các thành phần chính của hệ sinh thái công nghiệp (Manahan, 1999) ..........30
Hình 2.4. Hệ sinh thái công nghiệp - KCN Kalundborg, Đan Mạch (CohenRosenthal và cộng sự, 2003). .........................................................................................35
Hình 2.5. Hệ sinh thái công nghiệp - Tập đoàn Guitang, Quảng Đông, Trung Quốc ..37

nguyên tắc: cộng sinh CN, thực hiện trao đổi chất, tái sinh tái chế, tuần hoàn năng
lượng và vật chất nhằm giảm thiểu chất thải, đem lại lợi ích kinh tế nhờ đó nâng cao
được hiệu quả quản lý môi trường KCN - đây là con đường tất yếu để dẫn tới phát
triển công nghiệp bền vững, giảm ô nhiễm môi trường.
Vì vậy với đề tài: "Tổng quan hiện trạng quản lý chất thải và đề xuất các giải
pháp cải thiện môi trường cho KCN Đại An - thành phố Hải Dương phát triển theo
xu thế KCNST" nhằm đưa ra một số giải pháp cụ thể để xây dựng KCN phát triển
theo hướng KCNST.
Các vấn đề cần giải quyết trong đề tài:
- Khảo sát hiện trạng và tình hình quản lý môi trường các KCN tại tỉnh Hải Dương.
- Tổng quan hiện trạng quản lý môi trường tại KCN Đại An - tp Hải Dương.
- Đề xuất một số giải pháp cải thiện môi trường KCN Đại An phát triển theo xu thế
KCNST.
Kết quả thu được sẽ là cơ sở để xây dựng, tổ chức và hoàn thiện công tác quản
lý môi trường tại các KCN của tỉnh Hải Dương nói chung và của KCN Đại An nói
riêng. Nâng cao ý thức trách nhiệm của nhà sản xuất, các cán bộ môi trường ở từng
cơ sở và từng khu công nghiệp khi hướng đến các KCNST.

Lê Thị Thảo - KTMTC810

-5-


Luận văn Thạc sĩ Khoa học
CHƯƠNG I.
TỔNG QUAN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
VÀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI HẢI DƯƠNG
I.1 Một số nét về tỉnh Hải Dương [7]
Hải Dương là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng. Trung tâm hành
chính của tỉnh là thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía

các KCN.[8]
Đối với công nghiệp nông thôn, làng nghề đã đóng góp tích cực vào việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn, thu hút lao động tại chỗ, giải quyết việc
làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống dân cư, xoá đói, giảm nghèo, phân công lại
lao động trong nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hoá. Nhiều làng duy trì và mở rộng được ngành nghề truyền thống,
một số làng phát triển thêm nghề mới đóng góp không nhỏ các mặt hàng cho xuất
khẩu. Năm 2010 giá trị sản xuất của làng nghề trên địa bàn tỉnh ước đạt hơn 2 nghìn
tỷ đồng, tăng gần 3 lần so với năm 2005 với tốc độ tăng trưởng bình quân 27,3%/
năm. Các làng nghề vẫn không ngừng tăng về số lượng và quy mô, tính đến hết năm
2009 toàn tỉnh đã có 56 làng được cấp bằng công nhận danh hiệu Làng nghề CNTTCN tỉnh Hải Dương.
- Ngành dịch vụ tăng 12,3%, lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời
sống nhân dân ổn định, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, quân sự địa phương
được củng cố, tăng cường, công tác quốc phòng, quân sự địa phương được giữ
vững.
* Tốc độ đô thị hóa ở tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây phát triển
tương đối nhanh ở cả 12 huyện, thành phố. Khu vực có tốc độ phát triển nhanh là
Phả Lại, Sao Đỏ, Nhị Chiểu (Kinh Môn) và thành phố Hải Dương. Năm 2010, số
dân sống ở thành thị là 374.429 người (năm 2009 là 326.000 người), chiếm 21,8%
tổng số dân toàn tỉnh.[7,8]
Hiện nay tỉnh Hải Dương đã hình thành 1 thành phố, 1 thị xã, 16 thị trấn, 50 thị
tứ. Sự phát triển đô thị tương đối mạnh đã gây nên một áp lực và thách thức đối với
môi trường. Cơ sở hạ tầng đô thị còn thấp kém do hệ thống giao thông, cấp thoát
nước, đường cáp điện xây dựng và lắp đặt chưa đồng bộ đã làm ảnh hưởng đến đời
sống của dân cư đô thị. Hiện nay, hạ tầng cơ sở của thành phố Hải Dương tương đối
tốt do mới được cải tạo, các khu vực mới sát nhập thì cơ sở hạ tầng chưa được cải
thiện nhiều. Nhiều xí nghiệp, cơ sở sản xuất nằm trọn trong khu dân cư do mở rộng
Lê Thị Thảo - KTMTC810

-7-

phê duyệt, cấp phép và quản lý. Đa phần, các CCN thường có vị trí nằm xen kẽ

Lê Thị Thảo - KTMTC810

-8-


Luận văn Thạc sĩ Khoa học
trong khu vực dân cư đồng thời với sự giám sát không chặt chẽ của địa phương nên
đa phần những CCN này thường gây ra ô nhiễm môi trường rất trầm trọng.
I.2.1 Tình hình phát triển các khu công nghiệp tại Hải Dương [7,8]
Sự phát triển và phân bố các khu công nghiệp được thực hiện theo các nguyên
tắc:
- Có khả năng tạo ra kết cấu hạ tầng, thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấp
điện, cấp nước và thải nước. Xử lý môi trường bảo đảm có hiệu quả và phát triển
bền vững lâu dài, có đủ dư địa để mở rộng và phù hợp với những tiến bộ khoa học
và công nghệ của nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp của thế giới.
- Có khả năng cung cấp nguyên liệu tương đối thuận tiện, hoặc tốt hơn là trực
tiếp với nguồn nguyên liệu. Đôi khi do cự ly vận tải và yêu cầu bảo quản nguyên
liệu, quy mô xí nghiệp công nghiệp phải thích hợp để đảm bảo hiệu quả .
- Có nguồn lao động cả số lượng và chất lượng đáp ứng được yêu cầu sản xuất
với chi phí tiền lương thích hợp.
- Có khả năng giải quyết thị trường tiêu thụ sản phẩm cả nội tiêu và ngoại tiêu.
- Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp đặc biệt là trồng trọt trong việc sử dụng đất
để xây dựng khu công nghiệp.
- Kết hợp với yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng trong những điều kiện cụ
thể ở từng khu vực và từng giai đoạn.
* Số lượng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là phát triển mạnh ở lĩnh
vực công nghiệp, Hải Dương phải tiếp tục huy động vốn đầu tư của các thành phần

nước. Ngoài nguồn vốn đầu tư của các chủ đầu tư xây dựng hạ tầng phía trong khu
công nghiệp, tỉnh cũng đã bố trí kịp thời nguồn vốn từ ngân sách để xây dựng các
hạng mục công trình ngoài hàng rào các khu công nghiệp như: hệ thống đường gom,
hệ thống cấp nước, thoát nước...với giá trị đầu tư khoảng 50 tỷ đồng. Tính đến thời
điểm hiện tại, Hải Dương có KCN Phúc Điền, KCN Nam Sách và KCN Đại An đã
có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Mặc dù được đầu tư kinh phí xây dựng hệ
thống xử lý song không đồng bộ hoặc quy mô hệ thống không tương xứng với lượng
nước thải của các doanh nghiệp thải ra nên hoạt động của hệ thống kém. 5 KCN
khác được cấp giấy phép nhưng chưa có KCN nào hoàn thành hệ thống.
Trên địa bàn tỉnh Hải Dương tính đến 31/12/2009 có 203 dự án đầu tư nước
ngoài đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2.490

Lê Thị Thảo - KTMTC810

-10-


Luận văn Thạc sĩ Khoa học
triệu USD. Trong đó có 95 dự án được đầu tư trong KCN với số vốn là 1.596,9 triệu
USĐ.
Phát triển các KCN đã góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, tăng trưởng,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến và xuất
khẩu, đáp ứng các mục tiêu tạo đà tăng trưởng công nghiệp bền vững, tăng khả năng
thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Hải
Dương phấn đấu thu hút vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp giai đoạn 2006- 2020
khoảng gần 90 ngàn tỷ đồng, bảo đảm tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân từ
18-20%/ năm.
* Nguồn nhân lực
Hải Dương có dân số 1,7 triệu người, trong đó có đến 60% là trong độ tuổi lao
động. Đó là nguồn lực dồi dào cung cấp cho thị trường lao động trong tỉnh. Tại thời

Diện tích

Diện tích

quy hoạch

sử dụng

(ha)

(ha)

Tỷ lệ lấp đầy
(%)

Tình hình hoạt động
của hệ thống xử lý
nước thải

Công suất công
trình xử lý
nước thải
(m3/ngày đêm)

1

Nam Sách

2003


124

*

*

*

2008

132

91

0

0

2007

46

46

34

*

Cẩm Điền –



Tàu thủy Lai Vu

2007

212

137

90

*

*

8

Cộng Hòa

2008

357

245

0

0

9


Ghi chú:
*: chưa xác định được
HĐ: hệ thống xử lý đang hoạt động
0: không có hệ thống xử lý /K: hệ thống xử lý không hoạt động
-12Lê Thị Thảo - KTMTC810


Luận văn Thạc sĩ Khoa học
I.2.2 Những mặt còn hạn chế trong sự phát triển khu công nghiệp tại Việt Nam
nói chung và tại Hải Dương nói riêng. [2,7,8]
Sự phát triển các KCN, CCN tại Việt Nam nói chung và tại Hải Dương nói
riêng đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng bên cạnh đó sự phát triển KCN,
CCN đang bộc lộ nhiều mặt trái, kém bền vững. Chất lượng quy hoạch các KCN
còn thấp, phát triển theo phong trào, thu hút đầu tư chưa đi đôi với bảo vệ môi
trường.
- Về việc quy hoạch, sử dụng đất: Tại nhiều địa phương nước ta, đặc biệt là
vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, nhiều đất phục vụ sản
xuất nông nghiệp đã được sử dụng cho phát triển KCN. Theo thống kê sơ bộ, có đến
20% diện tích đất xây dựng KCN là đất nông nghiệp (khoảng trên 10.000 ha). Tổng
diện tích đất trồng lúa được chuyển đổi để phát triển các KCN đến năm 2015 từ
18.000 đến 20.000 ha, chiếm khoảng 0,5% tổng diện tích đất trồng lúa trên cả nước.
Việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các KCN đã làm ảnh hưởng không
nhỏ đến đời sống các hộ nông nghiệp gây nên nhiều tệ nạn xã hội.
- Sự phối hợp trong công tác đào tạo nhân lực: Phát triển KCN chưa có sự
phối hợp đồng bộ với công tác đào tạo lực lượng lao động, dẫn đến thiếu hụt gay gắt
lao động tại các KCN, nhất là lực lượng lao động có tay nghề. Hải Dương có dân số
1,7 triệu người, trong đó có đến 60% là trong độ tuổi lao động. Đó là nguồn lực dồi
dào cung cấp cho thị trường lao động trong tỉnh. Tuy nhiên cùng với lợi thế đó, còn
không ít khó khăn đặt ra cho lực lượng lao động nơi đây. Theo LĐLĐ tỉnh Hải

Hiện tượng tập trung đông người lao động nên tại một số KCN thường xảy ra tranh
chấp, đình công gây mất ổn định sản xuất và an ninh trật tự xã hội.
- Hiện tượng ô nhiễm môi trường KCN: Sự phát triển KCN gây lên hiện
tượng ô nhiễm môi trường do các nguyên nhân sau:
+ Quản lý môi trường KCN đòi hỏi cần có cơ chế và mô hình quản lý phù hợp
nhằm đáp ứng thực tế khi số lượng và quy mô KCN không ngừng tăng nhanh trong
thời gian qua. Tuy nhiên, mô hình quản lý hiện nay vẫn còn hạn chế, chưa được cải
thiện nhằm bắt kịp với tốc độ phát triển KCN.
+ Phần lớn KCN phát triển sản xuất mang tính đa ngành, đa lĩnh vực, tính
phức tạp về môi trường cao.
+ Nguồn thải từ KCN mặc dù tập trung nhưng thải lượng rất lớn, trong khi đó
công tác quản lý cũng như xử lý chất thải KCN còn nhiều hạn chế, do đó phạm vi
ảnh hưởng tiêu cực của nguồn thải từ KCN là rất lớn.

Lê Thị Thảo - KTMTC810

-14-


Luận văn Thạc sĩ Khoa học
I.3 Hiện trạng môi trường trong các KCN [7]
I.3.1 Ô nhiễm môi trường tại các KCN
Sự hình thành và phát triển các cụm, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải
Dương trong những năm qua đã góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển sản
xuất kinh doanh, đóng góp đáng kể vào quá trình tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên hiện
trạng môi trường tại các cụm, khu công nghiệp này đang có những dấu hiệu đáng lo
ngại.
a. Ô nhiễm môi trường do nước thải trong KCN.
Theo kết quả khảo sát trong tháng 8/2010 cho thấy, tình trạng ô nhiễm môi
trường nước đang diễn ra hết sức phức tạp. Đến nay, trong tổng số 10 khu công

Bảng 1.2 Thành phần các chất trong chất thải rắn của một số KCN [2]
STT

Vật liệu

Thành phần (%)

1

Kim loại

4–9%

2

Thủy tinh



11

Tro xỉ

10 -15

12

Bùn khô từ xử lý nước thải

8 – 17

13

Rác điện tử

0,1 - 1


Lê Thị Thảo - KTMTC810

-17-


Luận văn Thạc sĩ Khoa học
Bảng 1.3 Phân loại từng nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô nhiễm [2]
Loại hình sản xuất công nghiệp

Thành phần khí thải

Tất cả các ngành có lò hơi, lò sấy hay
máy phát điện đốt nhiên liệu nhằm cung

Bụi, CO, SO2, NO2, CO2, VOCs, muội

cấp hơi, điện, nhiệt cho quá trình sản

khói....

xuất
Nhóm ngành may mặc: phát sinh từ công
đoạn cắt, giặt tẩy , sấy
Nhóm ngành sản xuất thực phẩm và đồ
uống
Nhóm ngành sản xuất các sản phẩm từ
kim loại
Nhóm ngành sản xuất các sản phẩm từ
nhựa, cao su
Chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, dinh

chất bảo vệ thực vật, sản xuất phân bón
Các phương tiện vận tải ra vào các công
ty trong KCN

Lê Thị Thảo - KTMTC810

Khí SO2, CO, NO2, VOCs, bụi....

-18-


Luận văn Thạc sĩ Khoa học
Theo số liệu ước tính tải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN, tại
Hải Dương tải lượng các chất ô nhiễm như bụi: 3.404kg/ngày; NO2: 6.390 kg/ngày;
CO: 986kg/ngày; SO2: 61.086 kg/ngày. [2]
- Ô nhiễm bụi: diễn ra rất phổ biến, đặc biệt là mùa khô đối với các KCN đang
trong quá trình xây dựng. Số liệu đo đạc hàm lượng bụi lơ lửng tại KCN Đại An và
KCN Nam Sách qua các năm 2006, 2007, 2008 đều vượt QCVN. [2]

Hình 1.1 Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí xung quanh một số KCN
miền bắc và miền trung từ năm 2006 - 2008.
- Các khí ô nhiễm CO, SO2, NO2: Kết quả quan trắc tại các KCN của nhiều
năm không thay đổi nhiều. Tại KCN Đại An thành phố Hải Dương nồng độ khi SO2
năm 2006 là 0,092mg/m3 xuống còn 0,048mg/m3 trong năm 2008. [2]

Lê Thị Thảo - KTMTC810

-19-



hiện Quy chế bảo vệ môi trường KCN (2002). Ngoài ra, các phương tiện và nhân sự
cũng chưa sẵn sàng hay chưa được chuẩn bị đầy đủ cho việc ứng cứu các sự cố môi
trường đối với KCN.
- Đối với công tác thu gom, xử lý chất thải trong KCN:
+ Về thu gom và xử lý khí thải: nhìn chung việc thu gom và xử lý hơi/khí thải
độc hại tại các KCN được thực hiện theo phương thức tự xử lý cục bộ tại các doanh
nghiệp trong KCN.
+ Về thu gom và xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại: hầu hết các doanh
nghiệp trong KCN đã tự tổ chức phân loại chất thải; ký hợp đồng kinh tế với các tổ
chức, cá nhân có chức năng kinh doanh về thu gom và vận chuyển chất thải (nguy
hại hay không nguy hại) để đưa chất thải ra khỏi nhà máy ở các KCN. Tuy nhiên
qua thực tế, hoạt động này đã bộc lộ nhiều trường hợp vi phạm quy định về bảo vệ
môi trường trong thu gom, vận chuyển chất thải:
* Các doanh nghiệp chưa phân loại tại nguồn đối với các dạng chất thải.
* Chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ môi trường trong tồn trữ, chứa
chất thải nguy hại;
* Chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm đăng ký về chủ nguồn thải đối với chất
thải nguy hại theo quy định.
+ Về thu gom và xử lý nước thải và tiêu thoát nước: hiện tạ i nhiều doanh
nghiệp kinh doanh, phát triển hạ tầng KCN đã thực hiện xây dựng trạm xử lý nước
thải tập trung nhưng đa phần các trạm xử lý đó đều không hoạt động được do vận
hành không đúng hoặc không phù hợp với công suất hiện tại của KCN. Nhiều doanh
nghiệp trong KCN chưa tự giác đầu tư công trình xử lý nước thải cục bộ hay ký hợp
đồng/phối hợp các đơn vị chức năng về xử lý nước thải để thực hiện trách nhiệm xử
Lê Thị Thảo - KTMTC810

-21-


Luận văn Thạc sĩ Khoa học

Khái niệm STCN còn được xem xét ở khía cạnh tạo thành mô hình hệ công
nghiệp bảo toàn tài nguyên là chiến lược có tính chất đổi mới nhằm phát triển công
nghiệp bền vững bằng cách thiết kế những hệ công nghiệp theo hướng giảm đến
mức thấp nhất sự phát sinh chất thải và tăng đến mức tối đa khả năng tái sinh - tái sử
dụng nguyên liệu và năng lượng. Khái niệm STCN bao hàm tái sinh, tái chế, tuần
hoàn các loại phế liệu, giảm thiểu chi phí xử lý, tăng cường việc sử dụng tất cả các
giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm bao gồm cả sản xuất sạch hơn và xử lý cuối đường
ống. Ở đây sản xuất sạch hơn là hướng tới ngăn ngừa ô nhiễm ở mức cơ sở sản xuất
riêng lẻ, trong khi đó STCN hướng tới ngăn ngừa ô nhiễm ở mức hệ công nghiệp.
Mặc dù khái niệm STCN vẫn còn "non trẻ" và chưa có một định nghĩa thống nhất,
tuy nhiên có thể thấy sự nhất trí rằng khái niệm STCN thể hiện những quan điểm
chính sau đây:
- STCN là sự tổ hợp toàn diện và thống nhất tất cả các thành phần của hệ công
nghiệp và các mối quan hệ của chúng với môi trường xung quanh.
- STCN nhấn mạnh việc xem xét các hoạt động do con người điều khiển sao
cho có thể phát triển công nghiệp theo hướng bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi
trường.
- STCN xem quá trình tiến hóa (cải tiến) công nghệ sản xuất là yếu tố quan
trọng để chuyển tiếp từ hệ công nghiệp không bền vững hiện tại sang hệ STCN bền
vững trong tương lai.
Cơ sở hình thành khái niệm STCN là dựa trên hiện tượng trao đổi chất công
nghiệp. Đó là toàn bộ các quá trình vật lý chuyển hóa nguyên liệu và năng lượng
Lê Thị Thảo - KTMTC810

-23-


Luận văn Thạc sĩ Khoa học
cùng với sức lao động của con người thành sản phẩm, phế phẩm và chất thải ở điều
kiện ổn định. Khái niệm này giúp chúng ta hiểu được hoạt động của hệ công nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status