Đánh giá tác dụng ức chế enzym acetylcholinesterase in vitro của các phân đoạn dịch chiết hoàng liên (coptis chinensis franch) - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC

NGUYỄN BÍCH HẠNH

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ỨC CHẾ ENZYM
ACETYLCHOLINESTERASE IN VITRO CỦA
CÁC PHÂN ĐOẠN DỊCH CHIẾT HOÀNG LIÊN
(COPTIS CHINENSIS FRANCH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC

NGUYỄN BÍCH HẠNH

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ỨC CHẾ ENZYM
ACETYLCHOLINESTERASE IN VITRO CỦA
CÁC PHÂN ĐOẠN DỊCH CHIẾT HOÀNG LIÊN
(COPTIS CHINENSIS FRANCH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
(NGÀNH DƯỢC HỌC)

Khóa: QH.2012.Y
Người hướng dẫn: TS. BÙI THANH TÙNG


AChE
ACTI
BuOH
CV
DTNB
EtOAc
EtOH
HCl
HPLC
IC50
IU
MeOH
NXB
pH
RSD
SD
STT
TCL
UV

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Độ hấp thụ (Absorbance)
Acetylcholin
Enzym actylcholinesterase
Acetylthiocholine iodid
Butanol
Hệ số biến thiên (Coefficient of Variation)
Acid 5-5’-dithiobis-2-nitrobenzoic
Ethyl acetat
Ethanol

Hình 1.2. Công thức cấu tạo một số chất trong thân rễ Hoàng liên .................... .7
Hình 1.3. Các vị trí hoạt động của enzym AChE................................................ 14
Hình 2.1. Sơ đồ chiết xuất phân đoạn dược liệu Hoàng liên .............................. 20
Hình 2.2. Quá trình phản ứng diễn ra trong phương pháp đo quang sử dụng
thuốc thử Ellman ................................................................................................. 21
Hình 2.3. Sơ đồ quy trình thử nghiệm tác dụng ức chế AChE in vitro .............. 23
Hình 2.4. Sơ đồ quy trình đánh giá đặc điểm động học ức chế AChE in vitro .. 25
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn khả năng ức chế hoạt độ enzym AChE của các
phân đoạn dịch chiết cây Hoàng liên chân gà ..................................................... 29
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn khả năng ức chế hoạt độ enzym AChE của
Berberin clorid..................................................................................................... 29
Hình 3.3. Đồ thị Lineweaver-Burk cho phân đoạn dịch chiết n-BuOH. ............ 31
Hình 3.4. Đồ thị Dixon cho phân đoạn dịch chiết n-BuOH để xác định hằng
số ức chế Ki. ........................................................................................................ 31


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN.......................................................................... 3
1.1. Tổng quan về Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis Franch) – Họ
Hoàng liên (Ranunculaceae)........................................................................... 3
1.1.1. Đặc điểm thực vật ................................................................................... 3
1.1.2. Phân bố, trồng trọt và thu hái ............................................................... 4
1.1.3. Thành phần hóa học .............................................................................. 5
1.1.4. Bộ phận dùng ......................................................................................... 8
1.1.5. Tác dụng dược lý .................................................................................... 8
1.2. Tổng quan về nghiên cứu sàng lọc tác dụng ức chế enzym

tăng của bệnh suy giảm trí nhớ - đặc biệt là Alzheimer không chỉ ở người cao
tuổi mà thậm chí người trẻ tuổi cũng mắc phải. Năm 2012, Tổ chức y tế thế
giới đã cảnh báo về mối lo ngại do bệnh này gây ra và đưa bệnh Alzheimer
vào vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được ưu tiên [11]. Nghiên cứu cho thấy
có khoảng 35 triệu người mắc bệnh Alzheimer, thống kê tại châu Á có khoảng
gần 13 triệu người mắc bệnh Alzheimer, dự đoán đến năm 2050 con số này có
thể tăng lên đến 62,8 triệu người. Việt Nam có khoảng hơn 9 triệu người bị sa
sút trí tuệ mà dạng điển hình là Alzheimer. Đây được coi là căn bệnh nặng
nhất trong các nhóm bệnh sa sút trí tuệ, hiện nay là mối quan tâm hàng đầu
của những nhà lão khoa trên toàn thế giới cũng như ở nước ta khi tuổi thọ
trung bình ngày càng cao, số người mắc bệnh ngày càng nhiều [6].
Bệnh nhân bị Alzheimer sẽ bị giảm khả năng xét đoán, định hướng
không gian và thời gian, ngôn ngữ, tư duy nhận thức và hành động... ảnh
hưởng nặng nề đến chức năng và chất lượng cuộc sống, gây nhiều khó khăn
cho người bệnh, cho gia đình và xã hội.
Các thuốc điều trị Alzheimer chủ yếu gồm các thuốc ức chế
cholinesterase, thuốc kháng thụ thể N-methyl – D – Aspartat, thuốc tăng
cường hoạt tính serotonin. Ba nhóm thuốc này đa số là các thuốc tân dược, giá
thành còn tương đối cao và có nhiều tác dụng phụ không mong muốn. Do đó
nhu cầu nghiên cứu phát triển thuốc mới có nguồn gốc từ dược liệu để hỗ trợ
và điều trị Alzheimer là rất cần thiết.
Acetylcholinesterase (AChE) là enzym có mặt ở khe synap của hệ thần
kinh trung ương và có vai trò duy trì sự ổn định nồng độ của chất dẫn truyền
thần kinh Acetylcholin [8]. Với việc Whitehouse lần đầu tiên đưa ra giả
thuyết về vai trò của hệ cholinergic đối với bệnh Alzheimer vào năm 1982,
AChE cũng được xác định là một trong những đích phân tử đối với bệnh này.
Trên cơ sở đó, một vài phương pháp thử in vitro đã được xây dựng. Trong đó,
phương pháp đo quang sử dụng thuốc thử Ellman được sử dụng khá phổ biến
trong các nghiên cứu sàng lọc tác dụng ức chế AChE in vitro. Đây cũng là
một hướng quan trọng và nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học

1.1. Tổng quan về Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis Franch) –
Họ Hoàng liên (Ranunculaceae)
1.1.1. Đặc điểm thực vật
Hiện nay có rất nhiều loài Hoàng liên chân gà được đưa vào sử dụng và
nghiên cứu như Coptis chinensis Franch, Coptis teeta Wall, Coptis deltoidea
C.Y.Cheng et Hsiao, Coptis quinqueseeta. Họ Hoàng liên: Ranunculaceae.
Hoàng liên: Coptis chinensis Franch, là một cây thuốc thuộc loại quý
với nhiều tác dụng được dùng trong nhiều bài thuốc ở Việt Nam. Tên khác:
Hoàng liên chân gà, Xuyên liên, Phàng lình (H’Mông) [9]. Read Coptis
(Anh), Coptis savoyard (Pháp) [2,9] Gia liên (Trung Quốc) [9].
Hoàng liên: Coptis chinensis Franch là cây thân thảo, sống nhiều năm,
cao 10-25 cm. Thân rễ có màu vàng thường phân nhánh, lá có cuống dài mọc
tập trung ở gốc, lá dài và mảnh chia thành 3 thùy chính. Mép khía răng không
đều, thùy giữa gần giống tam giác cân xẻ thùy hình dạng lông chim, không
đều. Hai thùy bên giống nhau có cuống lá ngắn hơn thùy giữa. Lá có màu
xanh lục, nhẵn bóng, cụm hoa gồm 3-5 hoa mọc tụ trên 1 cuống chung dài
khoảng 25 cm. Hoa nhỏ có màu vàng, lá bắc nhỏ, bao hoa màu lục. Năm lá
đài có hình mác, 5 cánh hoa thon dài, hoa có khoảng 20 nhị. Lá noãn rời nhau
khoảng 8-12 noãn. Cây ra hoa từ tháng 10-12. Quả có màu đen từ tháng 12
đến tháng 4 năm sau, nhỏ, dài 6-7 cm, có cuống ngắn. Vào mùa xuân cây con,
chồi có thể tái sinh từ thân rễ [2,4,5,7,9].

3


Hình 1.1. Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis Franch)
1.1.2. Phân bố, trồng trọt và thu hái
 Phân bố
Hoàng liên là loại cây thân thảo mọc hoang trên các đỉnh núi cao.
Trong cuốn “Thần Nông bản thảo kinh” (Trung Quốc) có viết Hoàng

trong các mô khác nhau (như phloem (libe), xylem (chất gỗ) và medulla (lõi))
và rizhome (thân rễ) của Coptis Chinensis Franch. Kết quả cho thấy khác biệt
đáng kể trong việc phân bố của 7 alkaloid trong các mô được kiểm tra, tổng
hàm lượng alkaloid trong xylem tương đối thấp so với hàm lượng trong
phloem, medulla và rhizome của Hoàng liên [47,48].
Berberin tinh khiết là dạng tinh thể kết tinh màu vàng, điểm nóng chảy
1450C, tan nhiều trong nước ở 200C, tan trong ethanol, ít tan trong clorofom,
benzen, không tan trong ether ethylic. UVmax 265, 243nm, pk = 2,47 [2-4].
Hàm lượng berberin trong Hoàng liên đạt 5-6% có khi tới 9% [9].
Theo quy định của Dược điển Việt Nam IV, Dược liệu phải chứa ít
nhất 3,5 % beberin (C20H18NO4. HCl) và 0,5% (C21H22NO4. HCl) palmatin
tính theo dược liệu khô kiệt [3].

5


Trong cây, berberin tồn tại dưới dạng clohydrat. Hàm lượng alkaloid
thay đổi tùy theo vùng và thời kỳ sinh trưởng của cây. Ở Tứ Xuyên (Trung
Quốc), hàm lượng berberin cao nhất vào tháng 9 và 10, thấp nhất vào thời kỳ
cây ra hoa. Ngoài thân rễ, lá cũng chứa berberin, hàm lượng cao nhất ở lá già.
Ở Nhã Liên (Trung Quốc), hàm lượng berberin chứa 5% vào tháng 9-10. Lá
già chứa 2,5 – 2,8% berberin vào tháng 7-10 [4,7,9].
Ngoài ra, trong dịch chiết EtOH của Hoàng liên còn phân lập được 13 hợp
chất non-alkaloid như 7 hợp chất lignan, 3 phenylpropanoid đơn giản, 2 hợp chất
flavon và 1 hợp chất phenolic acid. Đó là các hợp chất: erythro-guaiacylglycerol8-O-4'-(coniferyl alcohol) ether, threo-guaiacylglycerol-8-O-4'-(coniferyl
alcohol) ether, (+)-pinoresinol, (+)-medioresinol, (+)-lariciresinol, (+)-5'methoxylariciresinol, (+)-isolariciresinol, chlorogenic acid, ferulic acid, Zoctadecyl caffeat, rhamnetin, wogonin, and vanillic acid [12].

6



Blastocystis hominis rất mạnh với nồng độ 100 µg/ml [1].
Về cơ chế tác dụng kháng khuẩn: berberin có khả năng ức chế quá trình
phiên mã và dịch mã tạo ARN và protein ở vi khuẩn. Các chất vitamin B6,
nicotinamid, acid p – aminobenzoic đều có tác dụng đối kháng với berberin.
Có hiện tượng kháng thuốc xảy ra khi dùng dài ngày berberin sulfat trên các
bệnh liên quan đến các chủng tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn tán huyết, trực
trùng lỵ, nhưng đối với bài thuốc có Hoàng liên như bài “Hoàng liên giải độc
thang” thì không có hiện tượng kháng thuốc, ngược lại tác dụng kháng khuẩn
lại mạnh hơn [7,9].
Dịch chiết nước Hoàng liên có khả năng ổn định phức hợp không bền
với enzym ADN topoisomerase I ở động vật có vú. Nghiên cứu cho thấy rằng

8


hai tiền chất epiberberin và gloenlandicin của berberin là những tiểu phân
hoạt động có hoạt tính phân tách ADN qua trung gian topoisomerase I; song 2
alkaloid này lại không phân tách AND qua trung gian topoisomerase II. Chỉ
có tiền chất berberrubin (alkaloid loại protoberberin) là chất đặc hiệu phân
tách ADN qua trung gian topoisomerase II in vitro.
Những kết quả này cho thấy alkaloid gốc berberin là nhóm hợp chất có
khả năng tạo phức không bền với topoisomerase I và II [30].
 Tác dụng kháng virus
Dịch chiết nước Hoàng liên thí nghiệm trên phôi gà có tác dụng ức chế
sự phát triển của virus cúm chủng PR8 [1].
Palmatine có trong Hoàng liên có khả năng ức chế không cạnh tranh
enzym protease NS2B-NS3 của virus West Nile (WNV), với IC50 là 96 µM,
không gây độc tính tế bào. Hơn nữa, palmatin cũng có thể ức chế virus
dengue và virus sốt vàng theo các liều lượng. Hợp chất này có thể được phát
triển để điều trị các nhiễm trùng do virus [21].

chất trong dịch chiết với nhóm sulfhydryl của vị trí hoạt động trên enzym
urease [32,51].
 Tác dụng chống viêm
Coptisin, thành phần chính của Coptis chinensis Franch, đã cho thấy
khả năng ức chế mạnh sản xuất oxit nitơ (NO) bằng cách ức chế protein và
các biểu hiện mARN của enzym tổng hợp oxi nitric (iNOS) trong
lipopolysaccharid (LPS) kích thích các đại thực bào RAW 264.7. Coptisin
cũng ức chế sản xuất các cytokin gây viêm là interleukin-1β (IL-1β) và
interleukin-6 (IL-6) bằng cách ức chế sự biểu hiện mARN của cytokin; đồng
thời ức chế sự thoái hoá của protein ức chế nhân tố nhân κBα (IκBα) và
phosphoryl hóa yếu tố điều chỉnh tín hiệu ngoại bào (ERK), c-Jun NH2terminal kinase (JNK), p38 mitogen-activated protein kinase (MAPK), và
phosphoinositide 3-kinase/Akt (PI3K/Akt). Coptisin cũng ức chế sự xuất hiện
của TNF-α và NO trong các mô viêm ở chuột thí nghiệm.
Các kết quả này cho thấy coptisin trong Hoàng liên ức chế sự viêm LPS
bằng cách ngăn chặn sự kích hoạt yết tố nhân κB, MAPK và PI3K / Akt trong
các đại thực bào có tác dụng chống viêm đặc hiệu [19,45].
Dịch chiết thân rễ Coptis chinensis Franch kích hoạt tế bào MOLT-4,
Th1, MAPK giúp tăng cường miễn dịch trong viêm, đóng vai trò như các chất
bổ trợ, bổ sung để điều trị trong suy giảm hệ thống miễn dịch [20].
 Tác dụng chống oxy hóa
Dịch chiết ethanol hoa cây Hoàng liên cho thấy khả năng làm tăng
lượng superoxid dismutase (SOD), catalase (CAT) and glutathion (GSH)
trong tế bào giúp trung hòa các gốc tự do có tác dụng chống oxy hóa mạnh cả
in vitro và in vivo [46].

10


Jatrorrhizin chứng tỏ khả năng chống oxy hóa do độc tính của hydrogen
peroxid gây ra ở tế bào não chuột thí nghiệm [39].


11


Franch có tác dụng ức chế MAO (monoaminoxidase- enzym xúc tác quá trình
phân hủy chất dẫn truyền thần kinh monoamin).
Jatrorrhizin ức chế không cạnh tranh MAO-A và B ở ty thể của tế bào
não chuột với giá trị IC50 lần lượt là 4 và 62 µM. Berberin chỉ ức chế cạnh
tranh với giá trị IC50 là 126 µM. Trong khi palmatin không có khả năng ức
chế mặc dù nồng độ dùng là 200 µM [31,39].
Dịch chiết Hoàng liên cho thấy khả năng tăng tiết và tăng hoạt tính của
enzym tyrosin hydroxylase kích thích nơ-ron thần kinh trong mô hình in vitro
và in vivo ở bệnh Parkinson gây ra bởi MPTP (1-methyl-4-phenyl-1,2,3,6tetrahydropyridin)[41].
Trong mô hình gây stress oxy hóa tế bào thần kinh bằng tertbutylhydroperoxid (t-BOOH), dịch chiết nước Hoàng liên nồng độ 100 µg/ml
cho thấy khả năng tăng sự sống sót của tế bào, giảm tỷ lệ tế bào tự chết theo
chương trình (apoptosis) và tăng hoạt lực của ty thể trêng màng; tác dụng bảo
vệ tế bào thần kinh [40].
Hiện nay có một số nghiên cứu mới chứng minh tác dụng ức chế
enzym Acetylcholinesterase của dịch chiết toàn phần Hoàng liên in vitro cải
thiện tình trạng suy giảm trí nhớ và tiến tới điều trị bệnh Alzheimer [17,26].
 Tác dụng chống ung thư
Hoạt chất berberin phân lập từ chiết xuất Hoàng liên cho thấy tác dụng
chống ung thư trên đích tác dụng ephrin-B2, ức chế tế bào khối u ZR-75-30
phát triển và dự di căn của chúng [43]. Trong nghiên cứu trên tế bào ung thư
tuyến tiền liệt in vitro, berberin cho thấy tác dụng ức chế sự ra tăng tế bào ưng
thư thông qua khả năng kích thích quá trình tế bào tự chết theo chương trình
apoptosis hoặc ngừng chu trình tế bào bằng cách ức chế tín hiệu của yếu tố
tăng trưởng biểu bì EGFR (epidermal growth factor receptor) [50].
Trong thành phần dịch chiết Hoàng liên chứa jatrorrhizin hydrochlorid
có tác dụng chống u ác tính trên da do có khả năng ức chế tăng sinh tân mạch

Trong những năm gần đây, ACh được thấy có liên quan tới nhiều chức
năng khác bên cạnh chức năng dẫn truyền thần kinh. Trong đó, ACh được
xem là có liên quan đến sự tiến triển của bệnh viêm dây thần kinh và quá trình
sản sinh sợi amyloid, những đặc điểm điển hình được thấy trong tế bào não
của bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer [33].
1.2.1.2. Enzym Acetylcholinesterase
AChE, với vai trò thủy phân ACh, là một protêin có hình elip chứa một
rãnh sâu, được gọi là hẻm. Quá trình thủy phân ACh được xúc tác bởi AChE
diễn ra ở đáy của hẻm enzym theo cơ chế khá phức tạp. Ở đáy của hẻm, nơi
xảy ra sự thủy phân cơ chất ACh, có 4 vị trí hoạt động chính là vị trí este hóa,

13


vị trí oxy-anion, vị trí anion và túi acyl [27]. Những vị trí hoạt động này của
AChE được minh họa ở hình 1.3.

Hình 1.3. Các vị trí hoạt động của enzym AChE
AChE là một trong những enzym thủy phân nhanh nhất. Hoạt tính của
nó mạnh gấp khoảng 10 lần so với serin protease hoặc butyrylcholinesterase
(enzym thủy phân ACh chủ yếu ở tế bào thần kinh đệm) ở cùng điều kiện
nhiệt độ và pH [23].
1.2.1.3. Giả thuyết về vai trò hệ cholinergic đối với bệnh Alzheimer
AChE chủ yếu có mặt trong hệ thần kinh trung ương, xúc tác thủy phân
chất dẫn truyền ACh. Quá trình này cần thiết để chuyển tế bào thần kinh hệ
cholinergic từ trạng thái hoạt động sang tình trạng nghỉ [8,27]. Ở bệnh nhân
Alzheimer thấy có sự giảm trầm trọng nồng độ chất dẫn truyền thần kinh
ACh. Tình trạng này gây suy giảm khả năng nhận thức đối với người bệnh.
Giả thuyết về vai trò của hệ cholinergic trong bệnh Alzheimer được đưa ra lần
đầu tiên vào năm 1982 bởi tác giả Whitehouse và cộng sự. Sau đó, giả thuyết

1961[18,33]. Nguyên tắc của phương pháp: cơ chất ATCI bị thủy phân nhờ
xúc tác của cholinesterase tạo thiocholin. Thiocholin phản ứng với thuốc thử
DTNB giải phóng ra hợp chất 5-thio-2-nitrobenzoic acid màu vàng. Hợp chất
này được xác định bằng cách đo độ hấp thụ của dung dịch ở bước sóng 412
nm.
Sau đó, nhiều nghiên cứu sàng lọc về tác dụng ức chế AChE in vitro
khác tiếp tục được thực hiện. Tuy nhiên, so với phương pháp gốc được công
bố bởi Ellman, phương pháp được triển khai trong các nghiên cứu sau đó đều
có một số thay đổi về: nguồn gốc và hoạt độ của enzym, loại đệm sử dụng,

15


nồng độ dung dịch cơ chất và thuốc thử… cũng như tỷ lệ phối hợp của chúng
vào hỗn hợp phản ứng.
 Phương pháp sắc ký lớp mỏng
Trên cơ sở phương pháp đo quang sử dụng thuốc thử Ellman, phương
pháp sắc ký lớp mỏng (TLC) đã được phát triển. Ở phương pháp này, sau khi
bản mỏng được triển khai, hỗn hợp gồm dung dịch thuốc thử DTNB và cơ
chất ATCI được phun lên bản mỏng, sau đó mới phun dung dịch enzym.
Những chất gây ức chế AChE sẽ làm xuất hiện các vết màu trắng trên nền
vàng [10].
Một trong những hạn chế của phương pháp TLC là có thể gặp phải hiện
tượng dương tính giả, hiện tượng vết màu trắng xuất hiện trên bản mỏng
không phải do tác dụng ức chế AChE. Để khắc phục hạn chế này, bên cạnh
bản mỏng thử phải tiến hành làm thí nghiệm với một bản mỏng khác (bản đối
chiếu). Các bước tiến hành trên bản đối chiếu tương tự như trên bản thử chỉ
khác ở giai đoạn phun thuốc thử hiện màu. Đối với bản thử, hỗn hợp dung
dịch thuốc thử DTNB và cơ chất ATCI được phun trước, sau đó mới phun
dung dịch AChE. Với bản đối chiếu, dung dịch thuốc thử DTNB được phun

cơ chất α-naphthyl acetat và dung dịch thuốc thử muối Fast Blue B được phun lên
bản mỏng. Những chất gây ức chế AChE sẽ làm xuất hiện các vết màu trắng trên
nền màu tím sẫm [15].
Cũng giống phương pháp BTLC sử dụng thuốc thử Ellman, phương
pháp TLC sử dụng thuốc thử muối Fast Blue B cũng có thể gặp phải hiện
tượng dương tính giả. Để loại trừ các vết dương tính giả, một bản mỏng đối
chiếu tương tự với bản mỏng thử được triển khai. Sau đó, các dung dịch αnaphthol và muối Fast Blue B được phun lên bản mỏng mà không có dung
dịch enzym. Nếu xuất hiện vết màu trắng thì vết đó là vết dương tính giả.
Bên cạnh 2 phương pháp được trình bày ở trên, phương pháp điện di
mao quản cũng đã được sử dụng để nghiên cứu sàng lọc tác dụng ức chế
AChE in vitro trong nghiên cứu của Tang Z. M. (2007) [38]. Tuy nhiên, mới
chỉ có rất ít nghiên cứu sử dụng phương pháp này được công bố. Lý do là bởi
phương pháp này đòi hỏi phải có trang thiết bị phù hợp với thao tác thử
nghiệm tương đối phức tạp. Ngoài ra, hạn chế về số lượng mẫu thử được đánh
giá ở mỗi lần thao tác máy cũng góp phần cản trở việc ứng dụng phương pháp
điện di mao quản trong nghiên cứu sàng lọc.
Như vậy, Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis Franch) có chứa một
lượng cao các alkaloid đặc biệt là berberin cho thấy tác dụng khả quan trên
enzym AChE để tiến tới điều trị các bênh thần kinh sa sút trí tuệ rất đáng quan
tâm. Tuy nhiên các nghiên cứu về tác dụng tiềm năng này của Hoàng liên còn
khá ít trong khi nhu cầu về thuốc điều trị và dự phòng bệnh Alzheimer càng
tăng. Đây cũng là cơ sở khoa học để hình thành ý tưởng của đề tài này.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status