Tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong dạy học văn bản nhật dụng ở trường THPT mai sơn, tỉnh sơn la - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC
VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRƢỜNG THPT MAI SƠN,
TỈNH SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Phƣơng pháp dạy học

Sơn La, 5/2017


TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TÍCH HỢP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC
VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRƢỜNG THPT MAI SƠN,
TỈNH SƠN LA

Thuộc nhóm ngành khoa học: Phƣơng pháp dạy học
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Việt Hùng
Vũ Thị Hiền

Nam,

Dân tộc: Kinh

Nữ,

ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2017
Nhóm sinh viên
Nguyễn Việt Hùng
Vũ Thị Hiền


DANH MỤC VIẾT TẮT
1. CNXH

Chủ nghĩa xã hội

2. DHTH

Dạy học tích hợp

3. GV

Giáo viên

4. HS

Học sinh

5. KN

Kĩ năng

6. KNS


14. VB

Văn bản

15. VBND

Văn bản nhật dụng

16. VN

Việt Nam


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1. Bảng phân loại các nhóm KNS cơ bản đối với HS phổ thông ......................13
Bảng 1.2. Bảng hệ thống các VBND và khả năng tích hợp KNS..................................19
Bảng1.3. Bảng khảo sát nhận thức của HS về KNS ......................................................20
Bảng 1.4. Bảng đánh giá môi trường giáo dục KNS của HS.........................................22
Bảng 1.5. Bảng đánh giá của HS về mức độ được giáo dục KNS qua môn Ngữ văn ..23
Bảng 3.1: Đánh giá mức độ hứng thú với giờ học của HS ............................................62
Bảng 3.3: Bảng khảo sát sự hiểu biết của HS qua bài học .............................................64
Bảng 3.4: Mức độ rèn luyện KNS của HS sau bài học ..................................................64
Biểu đồ 1.1. Đánh giá môi trường tác động đến KNS của HS ......................................22
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ mô phỏng hình thức dạy học truyền thống .........................................28
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ mô phỏng hoạt động đối thoại đa dạng ..............................................28
Sơ đồ 2.3. Sơ đồ mô phỏng kĩ thuật “khăn trải bàn” .....................................................41
Sơ đồ 2.4. Sơ đồ mô phỏng “nhóm mảnh ghép” ............................................................43
Sơ đồ 2.5. Mô phỏng kĩ thuật sơ đồ tư duy ....................................................................45
Biểu đồ 3.2: Mức độ hứng thú của HS với giờ học .......................................................63

1.2.1.1. Kết quả khảo sát nhận thức của HS về KNS.....................................................20
1.2.1.2. Nhu cầu được giáo dục về KNS ở HS THPT ...................................................21
1.2.1.3. Đánh giá về môi trường giáo dục KNS của HS ................................................21


1.2.2. Thực trạng dạy học tích hợp giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT
Mai Sơn, tỉnh Sơn La ......................................................................................................22
1.2.2.1. Khảo sát qua phiếu hỏi của học sinh ........................................................................... 22
1.2.2.2. Khảo sát qua phiếu hỏi và phỏng vấn giáo viên ..............................................23
1.2.3. Nguyên nhân của thực trạng ................................................................................24
CHƢƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TÍCH
HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT................................26
2.1. Các nguyên tắc chỉ đạo việc đề xuất biện pháp.....................................................26
2.1.1. Tương tác .............................................................................................................26
2.1.2. Trải nghiệm ..........................................................................................................26
2.1.3. Tiến trình ..............................................................................................................26
2.1.4. Thay đổi hành vi ..................................................................................................26
2.1.5. Thời gian – môi trường giáo dục .........................................................................27
2.2. Một số biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học VBND .............27
2.2.1.Tổ chức hoạt động giao tiếp, đối thoại đa dạng, phong phú trong giờ học ...............27
2.2.2. Tạo ra các tình huống liên hệ thực tiễn ...............................................................31
2.2.3. Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực ......................................33
2.2.3.1. Một số phương pháp dạy học tích cực ..............................................................34
2.2.3.2. Một số kĩ thuật dạy học tích cực .......................................................................41
2.3. Các bước thực hiện một bài dạy VBND tích hợp giáo dục KNS .........................48
CHƢƠNG 3: THƢ̣C NGHIỆM SƢ PHẠM...............................................................52
3.1. Các yêu cầu cơ bản của thực nghiệm ....................................................................52
3.1.1. Mục đích thực nghiệm .........................................................................................52
3.1.2. Nhiê ̣m vu ̣ thực nghiệm ........................................................................................52
3.1.3. Đối tượng và thời gian thực nghiệm....................................................................52

Điều 28 của Luật giáo dục năm 2005 đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông,
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc
theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Theo đó, vấn đề giáo dục kỹ năng
sống được đặt ra như một yêu cầu và thách thức.
1.2. Năm 1996, trong báo cáo “Học tập – Một kho báu tiềm ẩn”, tổ chức giáo
dục thế giới UNESCO đã đưa ra bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI là: “Học để biết,
học đề làm, học để tự khẳng định mình, học để cùng chung sống” [7, tr.7].Báo cáo này
đã khẳng định vai trò cơ bản của giáo dục trong sự phát triển của xã hội và của mỗi cá
nhân. Nhấn mạnh học tập suốt đời như là một chìa khóa để mỗi cá nhân thích ứng với
những thách thức của thế kỷ XXI, mà thực chất là một cách tiếp cận giáo dục kỹ năng
sống. Từ đó, vấn đề rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh đã được Bộ giáo dục và Đào
tạo xác định là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” trong các nhà trường phổ thông.
Trong các môn học ở trường phổ thông, môn Ngữ văn vốn được coi là môn học
“rèn người”, văn học là nhân học, nội dung và mục tiêu dạy học hướng đến giáo dục
1


nhân cách con người, tác động trực tiếp vào tư tưởng, tình cảm, nhân sinh quan của con
người. Văn học giáo dục con người sống có bản lĩnh, có suy nghĩ, ứng xử, lí tưởng sống,
kỹ năng sống, lối sống đúng đắn, lành mạnh. Qua môn Ngữ văn, nhà giáo dục mong
muốn con người nói chung và học sinh nói riêng tiếp nhận được những giá trị tốt đẹp, có
lý tưởng cống hiến và sống có ý nghĩa. Do đó đây là môn học có nhiều điều kiện và lợi
thế để tích hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Trong các nội dung dạy học có các
bài học nhật dụng, với nội dung bàn về những vấn đề thời sự cấp thiết như đạo đức, lối
sống, văn hóa ứng xử; Về các tệ nạn xã hội như ma túy thuốc lá, lao động, trẻ em; Vấn
đề giáo dục trẻ em; Các vấn đề tương lai nhân loại như bảo vệ hòa bình, chống chiến
tranh, bảo vệ quyền lợi trẻ em, vấn đề hội nhập và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; Môi

độ khác nhau
+ Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học
Ở Việt Nam, thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông
Việt Nam từ những năm 1995 – 1996, thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức
khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường” do
UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, phối hợp cùng với Hội Chữ thập đỏ
Việt Nam thực hiện. Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã
tiến hành giáo dục KNS gắn với giáo dục các vấn đề xã hội: phòng chống ma túy,
phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, bảo vệ môi trường,…
Giáo dục phổ thông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới về cả mục tiêu, nội
dung và phương pháp dạy học (PPDH) gắn với bốn trụ cột giáo dục của thế kỉ XXI:
Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống, mà thực chất
là một cách tiếp cận của KNS. Đặc biệt, rèn luyện KNS cho học sinh (HS) đã được Bộ
Giáo dục và Đào tạo xác định là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “ Xây
dựng trường học thân thiện, HS tích cực ” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 –
2013. Trong đó, vấn đề giáo dục KNS bao gồm: Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với
các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn
luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối
nước và các tai nạn thương tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa
bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. Từ đó đến nay đã có một số tài liệu hướng
dẫn, tài liệu tập huấn và công trình nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này.
2.2. Lịch sử vấn đề giáo dục KNS trong dạy học ngữ văn
Một trong những tác giả đầu tiên có công trình nghiên cứu một cách hệ thống về
KNS và giáo dục KS là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, công
trình nghiên cứu, chuyên khảo… , tác giả đã đưa ra những hướng nghiên cứu về giáo
dục KNS ở Việt Nam như sau:
- Xác định các vấn đề lý luận cốt lõi về KNS và giáo dục KNS
3



mặc dù đã được định hướng bởi mục tiêu, chương trình giáo dục nhưng triển khai
chương trình này trong hoạt động giáo dục của nhà trường còn nhiều hạn chế. Các đề
4


tài đã xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận và đề xuất các định hướng giáo dục KNS
nhưng còn thiếu các kết quả thử nghiệm một cách rõ ràng, do đó tính thuyết phục chưa
cao. Đặc biệt, đối với phân môn Ngữ văn, môn học có nhiều điều kiện và ưu thế trong
việc tích hợp giáo dục KNS, có nhiều bài VBND gắn với các vấn đề thường gặp trong
đời sống hàng ngày của học sinh nhưng lại chưa có nhiều đánh giá, kiểm nghiệm thực
tế. Vì vậy, cần có thêm những đúc kết thực tế, kết quả thực nghiệm để việc đánh giá
hoạt động giáo dục KNS được hiệu quả hơn. Đó cũng chính là lý do xác đáng và cấp
thiết để nhóm nghiên cứu chúng tôi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất và xây dựng các phương pháp dạy học văn bản nhật dụng tích hợp giáo
dục KNS cho học sinh trường THPT Mai Sơn nói riêng và học sinh THPT nói chung,
góp phần định hướng cho giáo viên, đặc biệt là sinh viên sư phạm trong việc đổi mới
phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vấn đề tích hợp giáo dục KNS cho học
sinh thông qua dạy học các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THPT.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung làm rõ một số biện pháp giúp giáo viên tích hợp
giáo dục KNS trong dạy học VBND cho học sinh trường THPT Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến nội
dung nghiên cứu: dạy học tích hợp, vấn đề giáo dục KNS, dạy học văn bản nhật dụng.
Khảo sát đánh giá thực trạng dạy học văn bản nhật dụng tích hợp với giáo dục kĩ
năng sống ở trường THPT hiện nay.
Đề xuất các biện pháp dạy học văn bản nhật dụng tích hợp giáo dục kĩ năng sống
theo định hướng phát huy tính tích cực và năng lực người học, thiết kế giáo án và thực

nào đó trong lĩnh vực khoa học giáo dục. Cụ thể, ở đề tài này chúng tôi đã tiến hành sử
dụng phương pháp nghiên cứu này để mô tả, thiết kế nội dung, biện pháp và vai trò
dạy học bài học nhật dụng tích hợp kĩ năng sống cho học sinh trường THPT Mai Sơn,
tỉnh Sơn La nhằm nâng cao chất lượng học và kĩ năng sống cho học sinh.
7. Đóng góp của đề tài
Thực hiện đề tài này, nhóm tác giả muốn tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về vấn
đề dạy học tích hợp giáo dục KNS, một trong những định hướng đổi mới dạy học đang
được giáo dục và xã hội quan tâm. Đặc biệt, trong việc dạy học văn bản nhật dụng
môn Ngữ văn – môn học được coi là “nhân học”, có nhiều lợi thế và điều kiện giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh. Từ đó đề xuất những phương pháp dạy học tích cực
phát huy tính chủ động sáng tạo và nâng cao năng lực, kĩ năng sống cho học sinh.

6


Dự kiến đề tài này thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên sư phạm và
các giáo viên Ngữ văn THPT quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học. Đây
cũng là quá trình tập dượt nghiên cứu khoa học cho nhóm tác giả trong quá trình học
tập và làm việc sau này.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề
tài gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2. Đề xuất biện pháp dạy học
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

7


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC

huy được tính chủ động tích cực của HS.
8


1.1.2. KNS và vấn đề giáo dục KNS trong trường phổ thông
1.1.2.1. Khái niệm kĩ năng sống
Thuật ngữ kĩ năng sống (KNS) bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông
Việt Nam từ những năm 1995 – 1996, thông qua Dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức
khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường” do
UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, phối hợp cùng với Hội Chữ thập đỏ
Việt Nam thực hiện. Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã
tiến hành giáo dục KNS gắn với giáo dục các vấn đề xã hội: phòng chống ma túy, phòng
chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, bảo vệ môi trường,… Giáo
dục phổ thông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới về cả mục tiêu, nội dung và
phương pháp dạy học (PPDH) gắn với bốn trụ cột giáo dục của thế kỉ XXI: Học để biết,
học để làm, học để tự khẳng định, học để cùng chung sống, mà thực chất là một cách
tiếp cận của KNS. Đặc biệt, rèn luyện KNS cho học sinh (HS) đã được Bộ Giáo dục và
Đào tạo xác định là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “ Xây dựng trường
học thân thiện, HS tích cực ” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013.
Vậy, KNS là gì? Ngay từ khi vấn đề giáo dục KNS được đặt ra như một nhu cầu
thiết yếu thì trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam đã có nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên
cứu đặt ra cách hiểu về KNS.
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là “khả năng để có hành vi thích ứng
(adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các
nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [7, tr.7]. Đó cũng là khả năng của
một cá nhân duy trì trạng thái khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, biểu hiện qua các
hành vi hợp tác tích cực và ứng xử phù hợp khi tương tác với môi trường xung quanh.
Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS được hiểu là cách tiếp cận giúp
thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu
kiến thức, hình thành thái độ và KN. Theo cách hiểu này, KNS là khả năng phân tích tình

cầu, thách thức của cuộc sống”. Bản chất của KNS là KN tự quản lí bản thân và KN
xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói
cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù
hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình
huống của cuộc sống.
Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân
loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
+

Nhóm KN nhận biết và sống với chính mình

+

Nhóm các KN nhận biết và sống với người khác

+

Nhóm KN ra quyết định một cách có hiệu quả

10


Trong quá trình nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, cũng như căn cứ tình hình thực
tế của việc giáo dục KNS trong nhà trường THPT, chúng tôi cũng thống nhất đi theo
cách đề xuất nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông như trên.
1.1.2.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh THPT
KNS thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội
Có thể nói KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành
thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có KNS phù hợp sẽ luôn
vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách

nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Luật Giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là
đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm
mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng nhu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông là xu thế chung của nhiều
nước trên thế giới
Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào
trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở Tiểu học và Trung
học. Việc giáo dục KNS cho HS ở các nước được thực hiện theo ba hình thức:
- KNS là một môn học riêng biệt
- KNS được tích hợp vào một vài môn học chính
- KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình.
Như vậy, có thể thấy việc giáo dục KNS cho HS trong các trường phổ thông là rất
cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự hình thành nhân cách HS, đồng thời
cũng phù hợp với sự phát triển chung của xu thế giáo dục trên thế giới.
1.1.2.3. Nội dung giáo dục KNS trong nhà trường phổ thông
Theo định hướng giáo dục KNS trong nhà trường phổ thông hiện nay như đã phân
tích ở trên, chúng tôi phân loại được các nhóm KNS với các KN thành phần như sau:
1. KN tự nhận thức.
2. KN xác định giá trị bản thân.
Nhóm KN nhận biết và
sống với chính mình

3. KN ứng phó với căng thẳng.
4. KN tìm kiếm sự hỗ trợ.
5. KN thể hiện sự tự tin.
6. KN tự nhìn nhận, đánh giá về bản thân mình.
7. KN ứng phó với căng thẳng

tuổi, cấp học, môn học, hoạt dộng giáo dục và điều kiện cụ thể. Ngoài các KNS cơ bản
trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương, GV có thể lựa chọn thêm một số KNS
khác để giáo dục cho HS của trường, lớp cho phù hợp.
1.1.2.4. Khả năng giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THPT
Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm
vụ hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn
bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp HS có được những hiểu
biết về xã hội, văn hóa, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người. Với tính chất
là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp HS có năng lực ngôn ngữ để học tập, giao
tiếp và nhận thức về xã hội và con người. Với tính chất giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ
văn giúp HS bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị
hiếu để hoàn thiện nhân cách. Vì thế, Ngữ văn là một môn học có những khả năng đặc
biệt trong việc giáo dục các KNS cho HS. Điều đó thể hiện qua các phương diện sau:
- Mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn ở trường THPT được xác định: Trang bị
cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ thống về văn học và tiếng
13


Việt; Hình thành và phát triển các năng lực Ngữ văn, bao gồm: năng lực sử dụng tiếng
Việt thể hiện ở 4 KN cơ bản (nghe, nói, đọc, viết), năng lực tiếp nhận văn học, năng
lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học và năng lực thực hành ứng dụng; Bồi dưỡng cho
HS tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa; tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng
tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ,
nhân văn; nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc
tế; ý thức tôn trọng, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại. Mục tiêu và
nội dung môn Ngữ văn đã chứa đựng những yếu tố của giáo dục KNS, phù hợp với các
nội dung cơ bản của giáo dục KNS (bao gồm KN tư duy sáng tạo: nêu vấn đề, tìm kiếm
và xử lí thông tin: bình luận, phân tích đối chiếu, phê phán, bác bỏ; KN hợp tác nhóm:
thảo luận, phân tích đối chiếu, phê phán, bác bỏ; KN hợp tác nhóm: thảo luận, tham gia
hiệu quả; KN giao tiếp: lắng nghe, phản hồi, trình bày…), phù hợp với cách tiếp cận làm

thoại, tương tác giữa người học với nhau để thực hành, vận dụng linh hoạt vào các tình
huống trong cuộc sống phù hợp với lứa tuổi.
Như vậy, có thể khẳng định được rằng việc giáo dục KNS trong môn Ngữ văn là
có nhiều ưu thế. Quá trình học tập môn học theo hướng nhấn mạnh tới KNS trong
trường phổ thông có khả năng tạo điều kiện giúp HS nâng cao năng lực lĩnh hội trong
học tập, hình thành thái độ, hành vi và giúp các HS có động lực tìm hiểu, cân nhắc các
chọn lựa và có quyết định đúng đắn để giải quyết vấn đề cũng như có cơ hội thuận lợi
để rèn luyện các KN ứng xử hiệu quả.
1.1.2.5. Mục tiêu giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở THPT
Giáo dục KNS thông qua các giờ học Ngữ văn theo phương pháp tích cực ở
trường THPT nhằm giúp HS:
- Về kiến thức:
+ Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như những giá
trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc sâu kiến thức đã
học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, về định
hướng nghề nghiệp.
+ Nhận thức được sự cần thiết của các KNS giúp cho bản thân sống tự tin, lành
mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất và
tinh thần của bản thân và người khác.
+ Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các KNS.
- Về kĩ năng
+ Có KN làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả và tự
tin trong các tình huống giao tiếp hằng ngày.
+ Có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn trong
cuộc sống.
15


+ Có KN quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước
những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc sống (tệ nạn xã hội,

tài của văn bản có tính cập nhật, gắn với cuộc sống bức thiết hàng ngày, gắn

với những vấn đề cơ bản của cộng đồng. Cái thường nhật gắn với những vấn đề lâu dài
16


của sự phát triển lịch sử xã hội.
+ Các

vấn đề được bàn luận trong VBND thường được các phương tiện thông tin

đại chúng nhắc đến, được xã hội và địa phương quan tâm như tệ nạn xã hội, văn hóa,
chính trị, giáo dục, đào tạo, môi trường, chiến tranh….
+ Nội

dung của VBND còn là nội dung chủ yếu của nhiều nghị quyết, chỉ thị của

Đảng và Nhà nước, của nhiều thông báo, công bố của các tổ chức quốc tế.
- Hình thức:
+ Phương

thức biểu đạt của VBND khá phong phú, đa dạng (có thể kết hợp nhiều

phương thức biểu đạt trong một văn bản).
+ Về

thể loại, VBND có thể tồn tại dưới hình thức của nhiều thể loại, nhưng chủ yếu

là trong các văn bản báo chí, chính luận, các thể loại ký…
1.1.3.3. Hệ thống các bài VBND và khả năng tích hợp giáo dục KNS

về ý nghĩa, giá trị của những người
hiền tài đối với đất nước.
- Xác định trách nhiệm cá nhân đối
với đất nước, dân tộc.

Lớp 11
1

Về luân lí xã Vấn đề giữ gìn đạo - KN tự nhận thức: tinh thần yêu
hội ở nƣớc ta

đức và luân lý xã nước, tư tưởng tiến bộ của Phan Chu
hội

Trinh khi kêu gọi gây dựng nền luân
lí xã hội cho đất nước.
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status