Dự trữ ngoại hối và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia trong bối cảnh khủng hoảng tài chính - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

MAI LÊ KHÁNH CHI

DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC
QUỐC GIA TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh- 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀ O TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

MAI LÊ KHÁNH CHI

DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC
QUỐC GIA TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS.Nguyễn Khắc Quốc Bảo

TP. Hồ Chí Minh- 2016



CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ................................................................................... 3

1.4

PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU..................................................... 3

1.5

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................................... 4

1.6

BỐ CỤC LUẬN VĂN ......................................................................................... 4

1.7

Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI ........................................................... 5

CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA
VIỆC TÍCH LŨY DỰ TRỮ NGOẠI HỐI ĐẾN TỐC ĐỘ HỒI PHỤC SAU
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ CỦA MỘT QUỐC GIA ................................................. 7
2.1 MỤC TIÊU CỦA DỰ TRỮ NGOẠI HỐI QUỐC GIA ...................................... 7
2.2

CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM .............................................................. 8

2.2.1

Tích lũy dự trữ ảnh hưởng tới tăng trưởng GDP .............................................. 8



Mô hình hồi quy ............................................................................................ 31


3.1.7
3.2
3.2.1
3.3

Các giả thuyết nghiên cứu .............................. Error! Bookmark not defined.
DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU ................................................................................. 35
Nguồn dữ liệu ................................................................................................. 35
PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG....................................................................... 36

3.3.1 Ưu điểm phương pháp nghiên cứu dữ liệu bảng ............................................... 36
3.3.2

Các kiểm định liên quan ................................................................................... 37

3.3.3

Phương pháp ước lượng ................................................................................... 40

3.3.3. 1 Ưu điểm của GMM ......................................................................................... 40
3.3.3.2 Tính chất của phương pháp ước lượng GMM. ................................................ 42
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ....................................... 43
4.1 PHÂN TÍCH THÔNG KÊ MÔ TẢ GIỮA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH ....... 45
4.2

KIỂM ĐỊNH SỰ TƯƠNG QUAN CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH VÀ ĐA

Phân tích kết quả hồi quy ................................................................................... 55

KẾT LUẬN .................................................................................................................. 60
5.1

Kết luận chung: .................................................................................................. 60

5.2

Gợi ý chính sách................................................................................................. 60

5.3

Hạn chế đề tài:.................................................................................................... 60

5.4

Hướng mở rộng đề tài: ....................................................................................... 61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC ĐỊNH LƯỢNG
PHỤ LỤC


DANH MỤC VIẾT TẮT
OLS

Ordinary Least Square – Phương pháp ước lượng hồi quy tuyến tính

FEM

General Data Dissemination Standard – Hệ thống phổ biến dữ liệu chung

FER

Foreign Exchange Reserves – Dự trữ ngoại hối

RER

Real Exchange Rate – Tỷ giá hối đoái thực

COFER

Currency Composition of Official Foreign Exchange Reserves – Cơ sở dữ
liệu về thành phần tiền tệ trong dự trữ chính thức

IR

International Reserves – Dự trữ quốc tế

Forex R Foreign Exchange Reserves – Dự trữ ngoại hối
SDRs

Special Drawing Rights – Quyền rút vốn đặc biệt

Depo

Deposit – Tiền tệ và các khoản tiền gửi

SEC


Bảng 4.3: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và FEM .............................................. 51
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và REM .............................................. 52
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định lựa chọn FEM và REM ................................................. 52
Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi của các mô hình .............................. 53
Bảng 4.7 : Kết quả kiểm tra tự tương quan trong các mô hình .................................... 54
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình mô hình 1 ............................................................ 56
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy mô hình mô hình 2 ............................................................ 57


TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này với mục tiêu kiểm tra lại các bằng chứng từ các nghiên
cứu trước và làm sáng tỏ vai trò của dự trữ ngoại hối đối với tăng trưởng kinh tế ở
các quốc gia, đồng thời xem xét liệu những động thái tích lũy dự trữ quốc tế trước
khủng hoảng có thể giúp giải thích sự khác biệt trong hoạt động kinh tế giữa các
quốc gia thời kỳ hậu khủng hoảng hay không. Bằng việc phân tích số liệu của 8
quốc gia châu Á Thái Bình Dương trong thời gian từ năm 1991-2015, bài nghiên
cứu tìm thấy các kết quả đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, tồn tại bằng chứng mang ý nghĩa thống kê tác động cùng chiều ở
cả 4 phương pháp Pooled OLS, FEM, FGLS và GMM, với mức ý nghĩa lần lượt
là 5% ở 3 mô hình Pooled OLS, FEM, FGLS và 10% đối với phương pháp GMM.
Điều này đồng nghĩa với việc tăng trưởng GDP trước thời kì khủng hoảng có tác
động tới việc tăng trưởng GDP sau thời kì khủng hoảng.
Thứ hai, hệ số hồi quy của GDP trong giai đoạn khủng hoảng dương chứng
tỏ rằng việc tăng trưởng GDP trong thời kỳ này có tác động tới GDP sau thời kỳ
khủng hoảng. Tuy nhiên, kết quả định lượng của các mô hình khác không đồng
nhất.
Thứ ba, Biến Reserves/GDP không có ý nghĩa thống kê trong 3 mô hình hồi
quy Pooled OLS, FEM, FGLS nhưng có ý nghĩa thống kê dương ở mức 10% với
mô hình GMM. Các quốc gia có dự trữ trước thời kỳ khủng hoảng càng nhiều thì
tốc độ phục hồi sau giai đoạn khủng hoảng càng nhanh.

biệt là ở khu vực Trung Âu và Đông Âu), trong khi những quốc gia khác, chí ít là
lúc ban đầu, có nhiều sự bảo vệ hơn trước cuộc khủng hoảng tài chính. Nhiều quốc
gia trong số những thị trường mới nổi đã có một quá trình tích lũy tài sản ấn tượng
cho dự trữ ngoại hối trước khi cuộc khủng hoảng toàn cầu xảy ra. Trong những năm
năm 1990 kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng khu vực, một số quốc gia, đặc biệt là
ở khu vực Đông Á, được cho là đã xây dựng một danh mục dự trữ ngoại hối vượt
mức cần thiết. Nếu lý do chính đáng cho việc tích lũy dự trữ vượt mức này là cung
cấp phòng ngừa tự bảo hiểm, thì cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu có vẻ như là
bằng chứng xác thực cho chiến lược đó. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây của


2

Blanchard và cộng sự (2010) cũng như nghiên cứu của Aizenman và Sun (2010) đã
cho thấy ngay cả các quốc gia có mức dự trữ ngoại hối cao cũng đã buộc phải sử
dụng (hoặc sụt giảm) dự trữ của mình. Các nghiên cứu này đã tìm thấy một số bằng
chứng cho thấy dự trữ ngoại hối là một “tấm đệm giảm sốc” quan trọng cho nền
kinh tế trước cuộc khủng hoảng tài chính. Thật vậy, một lượng tài sản dự trữ cao
trước khủng hoảng có thể bảo vệ quốc gia chống lại các cuộc tấn công đầu cơ, mà
có thể làm sụt giảm dự trữ, dẫn tới các nguy cơ tấn công tiền tệ khác có thể xảy ra.
Dự trữ trong bối cảnh này có thể hiểu nôm na giống như chức năng người cho vay
cuối cùng của Ngân hàng trung ương.
Ở các nước mới nổi, dự trữ ngoại hối không chỉ đơn thuần là để đảm bảo
khỏi nguy cơ và tác động của khủng hoảng, họ xây dựng dự trữ ngoại hối để vô
hiệu hoá, chặn trước tấn công từ các nhà đầu cơ và có thể giải quyết tốt hơn những
cú sốc vĩ mô do dòng vốn đảo chiều đột ngột. Việc tự bảo hiểm cho mình bằng dự
trữ ngoại hối cũng giúp các quốc gia giảm mức độ phụ thuộc vào các cứu trợ từ
cộng đồng quốc tế như IMF hay WB, vì nó không chỉ tạo ra sự phụ thuộc vào các tổ
chức này, mà còn đưa đến những hệ lụy về chính trị, vị thế quốc gia.., và đôi khi
những liều thuốc của IMF còn làm bệnh tình trở nên trầm trọng hơn. Thậm chí đối

bối cảnh khủng hoảng tài chính bằng cách xem xét liệu những động thái tích lũy dự
trữ quốc tế trước khủng hoảng, cũng như những quyết định chính sách dự trữ được
thực hiện trong thời kỳ khủng hoảng, có thể giúp giải thích sự khác biệt trong hoạt
động kinh tế giữa các quốc gia thời kỳ hậu khủng hoảng hay không.
1.3

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Từ đó, bài nghiên cứu đi trả lời cho hai vấn đề chính sau đây:
-

Thứ nhất, có hay không sự tác động của các chính sách tích lũy dự trữ tới

hoạt động kinh tế và tài chính của các quốc gia?
-

Thứ hai, tác động này diễn ra như thế nào trong giai đoạn khủng hoảng

toàn cầu xảy ra cũng như trong thời kỳ không khủng hoảng?
1.4

PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu sữ dụng các số liệu vĩ mô của 8 quốc gia thuộc khu vực Châu
Á Thái Bình Dương trong giai đoạn từ 1991-2015 bao gồm: Úc, Hong Kong, New
Zealand, Nhật, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore.


4


trưởng kinh tế.


5

Trong chương này, sẽ nêu tổng quan về khái niệm cũng như vai trò của dự
trữ ngoại hối, đồng thời điểm qua những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về
các yếu tố tác động đến việc tích lũy dự trữ ngoại hối trước và trong giai đoạn
khủng hoảng và ảnh hưởng của việc tích lũy dự trữ ngoại hối đến tăng trưởng kinh
tế của quốc gia thời kỳ hậu khủng hoảng
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Nội dung chính của chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải
thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô
hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu để thực hiện
nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trong chương này, trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố
quyết định đến việc tích lũy dự trữ ngoại hối của một quốc gia giai đoạn trước và
trong giai đoạn khủng hoảng tài chính. Trên cơ sở mức tích lũy dự trữ này lại tiếp
tục kiểm định xem liệu với mức tích lũy ngoại hối trước và trong giai đoạn khủng
hoảng đã ảnh hưởng như thế nào đến khả năng hồi phục kinh tế sau khủng hoảng
(thể hiện qua tỉ lệ tăng trưởng GDP), mức độ ảnh hưởng ra sao, tác động như thế
nào; đồng thời thảo luận các kết quả thực nghiệm nhận được.
Chương 5: Kết luận.
Ở chương này, tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực
nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng
đề tài.
1.7

Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

tệ chiếm một vị trí khá quan trọng trong vai trò là phương tiện dự trữ của cải,
phương tiện để mua, để thanh toán và hạch toán quốc tế.
Trong điều kiện kinh tế ngày nay, quan hệ quốc tế ngày càng phát triển, sự
hội nhập và giao thương mua bán giữa các nước trên toàn thế giới ngày một gia
tăng, sự xuất hiện các phương tiện thanh toán mang tính quốc tế sẽ hết sức cần
thiết. Do đó, ngoại hối được xem như là phương tiện thiết yếu trong quan hệ kinh
tế, chính trị, văn hóa,…giữa các quốc gia trên thế giới.
Thêm vào đó, để đáp ứng những mục tiêu trong giai đoạn thị trường ngày
một sôi động đòi hỏi phải có sự hợp tác liên minh giữa các nước trong các lĩnh vực
như là kinh tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật,…nhà nước cần nắm giữ trong tay các
công cụ cần thiết. Và dự trữ ngoại hối là một trong những công cụ khá quan trọng
để điều tiết đạt đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô đó.
Dự trữ ngoa ̣i hố i Nhà nước biể u hiện là tài sản nơ ̣ đố i với nề n kinh tế và là
tài sản chung trên bảng cân đố i tài sản của NHNN. Ở đó NHNN đươ ̣c giao sử du ̣ng
quỹ dự trữ ngoa ̣i hố i để tiế n hành mua bán trên thi tru
̣ ̛ ờng ngoa ̣i hố i nhằ m thực hiện
chính sách tiề n tệ quố c gia.
Dự trữ ngoa ̣i hố i đươ ̣c sử du ̣ng nhằ m tài trơ ̣ cho sự mấ t cân bằ ng cán cân
thanh toán hoặc gián tiế p tác động thông qua việc can thiệp trên thi ̣trường ngoa ̣i
hố i giữ vai trò ngăn ngừa những biế n động trong nguồ n thu xuấ t khẩ u, thanh toán
nhập khẩ u, cũng như chu chuyể n quá lớn luồ ng vố n đố i với một quố c gia.


8

Dự trữ ngoa ̣i hố i là một cơ sở cho việc phát hành đảm bảo cho mố i tương
quan giữa tiề n – hàng trong nước. Nhà nước có thể chủ động sử du ̣ng ngoa ̣i hố i như
là một lực lươ ̣ng để can thiệp, điề u tiế t thi ̣trường tiề n tệ theo những mu ̣c tiêu theo
kế hoa ̣ch.
Đố i với những nước mà đồ ng tiề n tự do chuyể n đổ i, dự trữ ngoa ̣i hố i là lực

sự tăng trưởng của dự trữ ngoại hối trong suốt giai đoạn khủng hoảng GFC sử dụng
chuỗi quản lý chủ động (không bao gồm thu nhập lãi và sự thay đổi định giá), dữ
liệu này chỉ có sẵn đối với những nước thuộc SDDS. Tăng trưởng thực của GDP
trước GFC thì có quan hệ dương với tăng trưởng GDP sau khủng hoảng, qua đó cho
thấy những quốc gia có xu hướng tăng trưởng cao trước khủng hoảng thì thường có
tăng trưởng cao sau khủng hoảng. Tăng trưởng thực của GDP trong suốt khủng
hoảng không ảnh hưởng đến quá trình hồi phục kinh tế sau khủng hoảng. Tác giả
tìm ra rằng, các nước có quy mô dự trữ ngoại hối lớn, tương ứng với GDP trước khi
GFC bắt đầu thường có tốc độ tăng trưởng cao hơn sau khủng hoảng. Ý nghĩa thống
kê về hệ số của tỉ giá hối đoái thay đổi, điều kiện thương mại thay đổi, và dự trữ
thay đổi trong suốt thời gian khủng hoảng có vẻ ít đồng bộ (chặt chẽ) giữa các
nhóm nghiên cứu, nhưng những ước tính thường thấy rằng những quốc gia trải qua
thời kì giảm giá lớn trong thời kì khủng hoảng và những cải thiện lớn về điều kiện
thương mại có một thời kì khôi phục mạnh mẽ. Tương tự, sử dụng nguồn dự trữ
trong khủng hoảng, điều kiện là có tích lũy dự trữ trước khủng hoảng, cũng cải
thiện tăng trưởng sau khủng hoảng.
Polterovich, Victor, và Vladimir Popov (2003), nghiên cứu thực hiện hồi quy
không gian, nghiên cứu cho giai đoạn 1960-1999, tác giả tìm thấy bằng chứng cho
rằng sự tích lũy dự trữ ngoại hối (FER) góp phần vào tăng trưởng kinh tế của một
nền kinh tế tại các quốc gia đang phát triển bằng cách tăng cả đầu tư tỷ lệ GDP / và
năng suất vốn. Tác giả cung cấp các giải thích sau đây của các sự kiện: (1) FER tích
tụ gây ra sự sụt giảm tỷ giá thực (RER) có thể có ảnh hưởng lâu dài, nếu phá giá
như vậy được thực hiện định kỳ và đột xuất; (2) RER sụt giá cho phép tận dụng đầy
đủ các yếu tố bên ngoài xuất khẩu và kích thích tăng trưởng dựa vào xuất khẩu; (3)
FER xây dựng, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bởi vì nó làm tăng độ tin cậy của
chính phủ của một nước tiếp nhận và làm giảm giá USD tài sản thực. Một mô hình
thứ ba nghiên cứu lĩnh vực tăng trưởng nội sinh kinh tế (bao gồm cả một khu vực
hàng tiêu dùng, lĩnh vực đầu tư và khu vực thương mại xuất khẩu) được đề nghị để





11

(Aizenman và Lee (2007)), đồng thời cũng tìm thấy bằng chứng rằng các động cơ
này không hoàn toàn giải thích được sự gia tăng đột ngột tích lũy dự trữ tại các
nước đang phát triển bắt đầu từ năm 2000 (Jeanne, 2007; Jeanne và Ranciere,
2007).
Có 03 nghiên cứu gần đây đã đi đến kết luận rằng việc các nước tích lũy dự
trữ ngoại hối xuyên suốt thời kỳ 2007 không phải là dự trữ vượt mức, các nghiên
cứu đó bao gồm:
 Nghiên cứu của Obstfeld et al. (2010), so sánh sự tương xứng của quy
mô dự trữ quốc tế với quy mô của khu vực ngân hàng.
 Nghiên cứu của Hashimoto (2007), tập trung vào vấn đề dự trữ quốc tế
bao nhiêu là phù hợp để duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái; và
 Nghiên cứu của Dominguez (2010), tập trung vào vai trò của dự trữ quốc
tế ở các nước có thị trường tài chính chưa phát triển.
Ngoài ra còn có một vài nghiên cứu về chính sách dự trữ của các quốc gia
trong cuộc khủng hoảng toàn cầu gần đây nhất. Aizenman và Sun (2010) nghiên
cứu việc nhiều nước thị trường mới nổi đã quyết định không làm cạn kiệt nguồn dự
trữ ngoại hối của mình như một phần của cơ chế điều chỉnh. Hơn nữa, họ thấy rằng
nhân tố chính để phân biệt các quốc gia đã dựa vào dự trữ là định hướng thương
mại lớn của họ (được đo bằng độ mở thương mại, thị phần xuất khẩu dầu và xuất
khẩu hàng hóa). Nghiên cứu của Aizenman và Sun cho rằng các quốc gia này ít đề
phòng việc dự trữ ngoại hối bị suy giảm khi thị trường xuất khẩu bị sụp đổ, trong
khi hầu hết các quốc gia khác lựa chọn điều chỉnh thông qua điều chỉnh giảm tỷ giá
hối đoái chứ không làm suy giảm dự trữ.
Obstfeld et al. (2009) và Aizenman et al. (2011) nghiên cứu sự phụ thuộc
quá nhiều vào mức hoán đổi tín dụng liên chính phủ của một số quốc gia trong suốt
cuộc khủng hoảng, đặc biệt là các quốc gia phát triển mà không có dự trữ ngoại hối


Aizenman và

2007

Sự tích lũy dự trữ quốc tế ở các nước công
nghiệp hóa cũng như các nước phát triển với

Lee

động cơ phòng ngừa hay động cơ ổn định tỷ giá
hối đoái.
Hashimoto

2007

Các nước tích lũy dự trữ xuyên suốt thời kỳ

Obstfeld et al

2010

2007 không phải là dự trữ vượt mức.

Dominguez

2010


13


chiều với sự suy thoái của sản lượng

2013

Tăng trưởng thực của GDP trước khủng hoảng

Saravelos
Kathryn M.E.
Dominguez,
Yuko
Hashimoto,
Takatoshi Ito

thì có quan hệ tích cực, qua đó cho thấy những
quốc gia có xu hướng tăng trưởng cao trước
khủng hoảng thì thường có tăng trưởng cao sau
khủng hoảng


14

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1

MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM

3.1.1 Đo lường dự trữ ngoại hối
Thuật ngữ "dự trữ quốc tế" không được sử dụng thường xuyên trong các tài
liệu. Tài sản được nắm giữ bởi Chính phủ và các Cơ quan tiền tệ cho các mục đích


Tài sản dự trữ khác (Other) bao gồm các tài sản tài chính phái sinh, các
khoản vay phi ngân hàng phi chính phủ và những tài sản khác, thường chiếm tỷ
trọng rất nhỏ trong quỹ dự trữ chính thức.
Dữ liệu đa quốc gia được thu thập cho các biến IR, ForexR , Gold , SDRs ,
IMF reserve, và Other, vì vậy chúng ta có thể đo lường mỗi thành phần trong
Phương trình (3.1). Tuy nhiên, một trong những thành phần của dự trữ mà không có
sẵn là sự tách biệt rõ giữa 2 thành phần: chứng khoán (SEC) và tiền gửi (Depo)
trong Dự trữ ngoại hối (ForexR). Do đó, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng một
nguồn dữ liệu mới được cung cấp thông qua SDDS trong Reserve Template, nguồn
dữ liệu này cung cấp dữ liệu của tất cả các thành phần của dự trữ bao gồm cả sự
tách biệt giữa (SEC) và (Depo).
Định nghĩa về dự trữ chính thức (Official Reserve) dường như khá đơn giản
và dễ hiểu, tuy nhiên các thành phần chi tiết của dự trữ cần đánh giá xem tài sản
nào nên bao gồm hay loại trừ giá trị theo thời gian. Dự trữ quốc tế (International
Reserve) phải được ghi nhận bằng ngoại tệ, là tài sản thuộc sở hữu của chính phủ
hoặc cơ quan tiền tệ, và phải là những tài sản có tính thanh khoản cao. Dự trữ tại
IMF, bao gồm cả "reserve tranche" của một quốc gia cũng như các khoản vay của
IMF, cũng giống như những tài sản cố định được nắm giữ bởi các quỹ vì mục đích
đặc biệt của chính phủ (thường được gọi là Quỹ lợi ích quốc gia “Sovereign Wealth
funds- SWFs) và các tài sản tạo ra trên cơ sở những thể thức cho vay tương trợ
(thoả thuận tương trợ tín dụng - swap arrangements) 10.
Một số tài sản thuộc Quỹ lợi ích quốc gia SWF, bao gồm cả tài sản được
quản lý bởi Tổng công ty Đầu tư Chính phủ Singapore (GIC), được đưa vào quỹ dự
trữ quốc tế của đất nước, kể từ khi GIC được chỉ định là tổ chức quản lý quỹ dự trữ
quốc tế. Tuy nhiên, tài sản trong TEMASEC của Singapore, một quỹ SWF khác, thì
không bao gồm trong dự trữ quốc tế của quốc gia này, vì các tài sản này bao gồm
cổ phiếu thường và các tài sản không có tính thanh khoản cao. Tài sản trong các
Quỹ lợi ích quốc gia của Trung Quốc, CIC, dường như không thuộc quỹ dự trữ


Template) đã được thông qua tại Hội nghị Ban lãnh đạo năm 1998. Ban đầu SDDS
chỉ yêu cầu các quốc gia cung cấp dữ liệu tổng dự trữ quốc tế đơn thuần, mặc dù


17

các thông tin về các nghĩa vụ liên quan đến dự trữ quốc tế cũng được khuyến khích
công bố. Khi Mẫu dự trữ- Reserve Template có hiệu lực, các quốc gia thành viên
của SDDS được yêu cầu cung cấp dữ liệu chi tiết của dự trữ quốc tế hàng tháng
theo từng loại tài sản cụ thể (Gold, SDRs, tiền tệ và các khoản tiền gửi , chứng
khoán , và các tài sản tài chính phái sinh ) và vị trí hiện tại của các tài sản đó (dự trữ
được nắm giữ tại các ngân hàng quốc gia khác; tại BIS, IMF, hoặc tại các Ngân
hàng thương mại trong và ngoài nước) cũng như thông tin chi tiết về các nghĩa vụ
liên quan đến dự trữ quốc tế.
Một điều đáng chú ý là ngoài giai đoạn khủng hoảng tài chính, quốc gia có
tích lũy dự trữ quốc tế lớn có thể đã không công bố đúng về quy mô dự trữ của
mình, nhằm tránh những chỉ trích dự trữ vì động cơ thương mại hay dự trữ vượt
mức cần thiết. Một hệ quả khác của việc tích lũy dự trữ lớn ở các quốc gia mới nổi
là sự lo ngại về rủi ro mất giá của dự trữ quốc tế cũng như những lời chỉ trích từ
phía Mỹ liên quan đến việc quốc gia đã tích luỹ quá nhiều tài sản bằng đồng USD.
Để tránh những chi phí kinh tế và chính trị một số nước có trữ lượng lớn tài sản dự
trữ đã bắt đầu theo đuổi chiến lược đa dạng hóa tài sản dự trữ của mình và tạo ra
các loại quỹ mới. Mặc dù các quỹ này thường không được chính thức định nghĩa là
dự trữ quốc tế dưới quy tắc IMF (BPM6), nhưng trong giai đoạn khủng hoảng,
chúng vẫn được tính là một phần của tài sản dự trữ.
Sovereign Wealth Fund/ SWF / Quỹ lợi ích quốc gia - là khoản tài sản
được trích ra từ các khoản dự trữ của một quốc gia và để riêng để thực hiện các
mục đích đầu tư, các khoản đầu tư này sẽ đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc gia
và người dân. Nguồn cung cấp cho quỹ là là khoản dự trữ của ngân hàng trung
ương được tích lũy lại do thặng dư thương mại và thặng dư ngân sách, và thậm chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status