LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng
dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2017
Tác giả luận văn
Lưu Thu Thuỷ
1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ động viên
của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thiện luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và
biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS. Nguyễn Duy Bình đã tận tình hướng dẫn, dành
nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và
thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn
Hệ thống thông tin đất đai, Khoa Quản lý đất đai – Học viện Nông nghiệp Việt
Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong qua trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn
thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường
quận Nam Từ Liêm đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề
tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi
nên nét văn hóa riêng của từng quốc gia, từng dân tộc.
Đất đai là nguồn gốc của mọi tài sản vật chất của con người. Qua quá trình
sản xuất, khai thác từ nguồn lợi của đất, con người đã tạo ra lương thực, thực
phẩm, trang phục, nơi làm việc… Tuy nhiên, quỹ đất có hạn nó không thể sinh ra
thêm do đó cần phải quản lý tốt quỹ đất hiện có. Vấn đề quản lý việc sử dụng đất
đai ngày càng trở lên quan trọng trong bối cảnh bùng nổ dân số, hiện đại hóa,
công nghiệp hóa, tài nguyên ngày càng cạn kiệt như ngày nay. Vì vậy thực tế đòi
hỏi cần phải xây dựng một hệ thống thông tin về đất đai có chính xác và chặt chẽ
từ đó xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai tiềm năng, có hiệu quả cao
nhằm quản lý tốt các nguồn tài nguyên quý giá này.
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 quy định: “Đất đai, tài
nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài
nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản
công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản
lý”
Điều 22 Luật đất đai năm 2013 đã quy định 15 nội dung quản lý Nhà nước
về đất đai trong đó có công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng định kỳ. Đây là
công cụ quan trọng và đắc lực của Nhà nước nhằm thống nhất quy hoạch đất đai
hợp lý đồng thời là cơ sở để Nhà nước quản lý và nắm chặt toàn bộ diện tích đất
đai cùng với người sử dụng và quản lý đất theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày nay, công nghệ GIS phát triển đã cung cấp khả năng mới cho việc sử dụng
bản đồ địa chính, đó là xây dựng hệ thống thông tin đất đai trên cơ sở các loại
bản đồ dạng số, đặc biệt là bản đồ địa chính. Từ đó, giúp cho việc xử lý, quản lý
và khai thác thông tin về đất đai đạt hiệu quản cao. Ứng dụng hệ thống thông tin
địa lý (GIS) là một trong những công cụ được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
6
vực trên thế giới trong đó quản lý tài nguyên thiên nhiên là một trong các lĩnh
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài giới hạn trong những nội dung liên quan đến
ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch sử
dụng đất trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Tính từ ngày 01/01/2015 đến hết ngày 31/12/2020.
4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
4.1. Ý nghĩa khoa học của kết quả nghiên cứu
Luận văn sẽ đóng góp cơ sở khoa học, thực tiễn trong việc ứng dụng công
nghệ GIS nói chung và ứng dụng công nghệ GIS xây dựng cơ sở dữ liệu quy
hoạch sử dụng đất nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo tại các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, cũng như có giá trị tham khảo
đối với các cơ quan ứng dụng công nghệ GIS nói chung và ứng dụng công nghệ
GIS xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất nói riêng ở nước ta.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn của kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ đánh giá được khả năng ứng dụng hệ thống thông tin
địa lý (GIS) xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn quận
Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó giúp cho các cơ quan quản lý
nhà nước về đất đai thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất tốt hơn, hiệu quả
hơn. Đồng thời giúp cho việc cập nhật cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất trực
tuyến bằng trình duyệt web một cách dễ dàng và thuận tiện hơn.
8
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất đai
Theo Điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định : “Quy hoạch sử dụng đất là
việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu
khai ... thực hiện quy hoạch sử dụng đất.
- Toàn bộ Chương III từ Điều 7 đến Điều 12 của Nghị định số 43/2014/NĐCP ngày 15 tháng 5 năm 2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Đất đai
- Thông tư số 29/2014/TT- BTNMT ngày 02/06/2014 Quy định chi tiết việc
lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Công văn 1244/TCQLĐĐ-CQHĐĐ 2014 hướng dẫn quy hoạch sử dụng
đất hàng năm cấp huyện
- Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 20 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính
phủ về công tác điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch
sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia.
1.1.2.2 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo các nguyên tắc sau
đây :
1. Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh.
2. Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới
phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải
phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt. Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên
kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện
nội dung sử dụng đất của cấp xã.
3. Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả.
10
4. Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng
với biến đổi khí hậu.
5. Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
6. Dân chủ và công khai.
7. Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì quy hoạch đất đai là: “Việc bố trí, sắp
xếpvà sử dụng các loại đất đai một cách hợp lý để sản xuất ra nhiều nông sản
chất lượng cao, hiệu quả kinh tế lớn.
Quy hoạch đất đai chia làm hai loại:
- Quy hoạch đất đai cho các vùng, các ngành
- Quy hoạch đất đai trong nội bộ xí nghiệp.
Việc quy hoạch giữa các vùng, các ngành tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên
và có mối liên hệ chặt chẽ của lực lượng sản xuất với phân vùng của cả nước.
Đất cần quy hoạch không chỉ là đất nông nghiệp mà còn nhiều loại đất khác nữa
như đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn, đất khu công nghiệp, đất xây dựng
công trình hạ tầng kinh tế xã hội như giao thông, thủy lợi, thủy điện, khai
khoáng, khu công nghiệp, bệnh viện, trường học, khu vui chơi giải trí... bởi vậy
khái niệm trên chưa bao quát được tất cả loại đất.
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO, 1993)
định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất đai là sự đánh giá tiềm năng đất nước có hệ
thống, tính thay đổi trong sử dụng đất đai và những điều kiện kinh tế xã hội để
chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất. Đồng thời quy
hoạch sử dụng đất đai cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những sử dụng đất
đai đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn
tài nguyên trong tương lai”.
Ở đây, chức năng của quy hoạch đất đai được hiểu là hướng dẫn sự quyết
định sử dụng đất đai nhưng cũng đồng thời bảo vệ cho tương lai. Căn cứ vào quy
định hiện hành về nội dung quy hoạch sử dụng đất có thể hiểu quy hoạch sử dụng
đất là sự tính toán khoa học về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian...nhằm
phục vụ cho các mục tiêu kinh tếxã hội.
12
Nó là sự bảo đảm cho các mục tiêu kinh tế xã hội có cơ sở khoa học và thực
- Đối với cấp xã: có 6.516 đơn vị hành chính cấp xã được cấp có thẩm
quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm 58,41%); có 2.907 đơn
vị hành chính cấp xã đang triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (chiếm
26,06%); còn lại 1.733 đơn vị hành chính cấp xã chưa triển khai lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất (chiếm 15,53%).
Về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử
dụng đất kỳ cuối (2016- 2020): Bộ Tài nguyên và môi trường đã triển khai việc
điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất 05
năm kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại
Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 20/5/2015.
Đến hết tháng 6 năm 2015 đã có 06 Bộ, ngành và 52 tỉnh gửi Báo cáo kết
quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đăng ký nhu cầu sử dụng đất
giai đoạn 2016-2020 và còn một số tỉnh, thành phố chưa gửi báo cáo. Kế hoạch
tổ chức và thực hiện việc kiểm tra các địa phương trong việc thực hiện quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) các cấp.
đã được thành lập. Điển hình như, Hội đồng nhân dân (HĐND) Thành phố vừa
thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và
kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020) của Thành phố.
Theo đó, HĐND Thành phố nhất trí thông qua điều chỉnh chỉ tiêu quy
hoạch sử dụng đất đến năm 2020 với diện tích, cơ cấu các loại đất cụ thể như
sau:
- Đất rừng: điều chỉnh tăng 4.346ha so với chỉ tiêu phân bổ, trong đó:
+ Đất rừng phòng hộ tăng 589ha; đất rừng đặc dụng giảm 2.347ha;
+ Đất rừng sản xuất tăng 3.766ha so với chỉ tiêu phân bổ.
- Đất quốc phòng giảm 1.425ha,
- Đất an ninh điều chỉnh tăng lên 627ha đến năm 2020.
- Đất xây dựng khu, cụm công nghiệp, điều chỉnh giảm 1.316ha.
- Đất bãi thải, xử lý chất thải, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm
Đất phi nông nghiệp 139.336,95 144.473,93 149.589,61 153.364,09 159.716,20
Đất chưa sử dụng
5.831,50
: 5.022,53
3.747,13
2.606,06
1.756,38
Bảng 2.1 Diện tích các loại đất trong kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối
(2016-2020) thành phố Hà Nội
HĐND Thành phố yêu cầu UBND Thành phố thực hiện phân bổ chỉ tiêu sử
dụng đất cho các quận, huyện, thị xã; tổ chức phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020)
Thành phố Hà Nội.
Thực tế quá trình tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch sử dụng đất đã và
đang đạt được nhiều chỉ tiêu sử dụng đất quan trọng, góp phần to lớn trong việc
thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh.
Như tại Tuyên Quang, theo Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường
Tuyên Quang, ông Phạm Văn Lương cho biết, kế hoạch sử dụng đất 2016 là xác
định nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, lĩnh vực, để thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh năm 2016.
Đây là căn cứ để thực hiện thu hồi đất chuyển mục đích sử dụng, giao đất,
cho thuê đất, phát huy nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế, an sinh xã hội,
bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững.
Trong kế hoạch sử dụng đất của thành phố Tuyên Quang, dự kiến, năm
thực hiện. Việc không đồng nhất các chỉ tiêu thống kê các loại đất dẫn đến việc
đánh giá các chỉ tiêu thực hiện quy hoạch không đầy đủ, chính xác.
Ba là, Chỉ tiêu phê duyệt chưa đảm bảo diện tích đất tối thiểu so với quy
chuẩn xây dựng về giao thông, y tế, giáo dục…Nhiều địa phương còn gặp khó
khăn, bị động khi giải quyết đối với trường hợp biến động các chỉ tiêu sử dụng
17
đất trong quá trình thực hiện so với các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch được duyệt,
phát sinh các dự án, công trình chưa có trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp
huyện. Hay, một số hạng mục công trình đã có trong chỉ tiêu kế hoạch sử dụng
đất hàng năm nhưng cơ quan chủ đầu tư chưa lập xong dự án và hồ sơ đất đai,
phải lùi tiến độ thực hiện.
Bốn là, Quy hoạch, kiến trúc đô thị thiếu đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ
tầng xã hội, chưa thực sự chú ý tới yếu tố bảo vệ môi trường, phát triển bền
vững. Công tác quản lý thực hiện quy hoạch còn nhiều hạn chế, bất cập về cơ
chế, nhiều nơi bị buông lỏng, thiếu sự phân cấp, phân công hợp lý về chức năng
đối với các sở chuyên ngành như xây dựng, quy hoạch – kiến trúc và ủy ban nhân
dân các quận, huyện trong quản lý, theo dõi việc lập, thẩm định, trình duyệt và
thực hiện quy hoạch. Lực lượng cán bộ chuyên trách cho công tác này còn nhiều
hạn chế về năng lực.
Năm là, Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, thường xuyên
dẫn tới tình trạng vi phạm quy hoạch diễn ra phổ biến nhưng chưa được phát hiện
và xử lý kịp thời và gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế, nhất là trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh và Hà Nội. Công tác lấy ý kiến của nhân dân về quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đai chưa thực sự được chú trọng.
Sáu là, Tình trạng quy hoạch “treo” còn phổ biến. Trên cả nước vẫn còn
hàng ngàn dự án “treo” chưa được thu hồi. Việc xử các dự án sau khi thu hồi
cũng đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Sau khi chấm dứt pháp lý dự án, trả
hoạt động của các ngành kinh tế - nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); cơ sở dữ
liệu xã hội (dân số, lao động văn hoá, giáo dục, y tế, thể thao); cơ sở dữ liệu đất đai
là một thành phần không thể thiếu được của cơ sở dữ liệu quốc gia.
b. Cơ sở dữ liệu đất đai
Cơ sở dữ liệu đất đai: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính,
dữ liệu quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai
được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên
bằng phương tiện điện tử.( Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013).
CSDL đất đai là một trong 7 nhóm dữ liệu của CSDL Tài nguyên môi
trường quốc gia. Xét về nội dung thì thông tin, dữ liệu về đất đai bao gồm:
+ Thông tin về chính sách, pháp luật đất đai;
19
+ Thông tin về hiện trạng sử dụng đất;
+ Thông tin về đăng ký và thống kê đất đai (cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, giao đất, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất, thực hiện các
quyền của người sử dụng đất ...);
+ Thông tin về hồ sơ địa chính;
+ Thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
+ Thông tin về giá đất và phát triển quỹ đất;
+ Thông tin về thanh tra đất đai;
+ Thông tin về đánh giá chất lượng đất và phân hạng đất;
+ Thông tin về dữ liệu có liên quan về đất đai khác.
Xét về cấu trúc thì CSDL đất đai gồm:
+ Dữ liệu không gian: là dữ liệu về bản đồ thể hiện tính không gian địa lý
của các thửa đất theo một hệ tọa độ xác định.
+ Dữ liệu phi không gian là dữ liệu thuộc tính gắn liền với từng thửa đất
1.2.2. Nội dung của cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất
các thông tin không gian nhằm thực hiện các mục đích cụ thể.
Xét dưới góc độ là phần mềm, GIS làm việc với các thông tin không gian,
phi không gian nhằm thực hiện các mục đích cụ thể.
Xét dưới góc độ là các phần mềm, GIS làm việc với các thông tin không
gian, phi không gian, thiết lập quan hệ không gian giữa các đối tượng. Có thể nói
các chức năng phân tích không gian đã tạo ra diện mạo riêng cho GIS.
Xét dưới góc độ ứng dụng trong quản lý nhà nước, GIS có thể được hiểu
như là một công nghệ xử lý các dữ liệu có tọa độ để biến chúng thành các thông
tin trợ giúp quyết định phục vụ các nhà quản lý.
Xét dưới góc độ hệ thống, GIS là hệ thống gồm các hợp phần: Phần cứng,
Phần mềm, Cơ sở dữ liệu, Phương pháp và Đội ngũ chuyên gia (Trần Thị Băng
Tâm, 2006).
21
1.3.2. Các bộ phận cấu thành của GIS
Công nghệ GIS bao gồm 5 hợp phần cơ bản: phần cứng, phần mềm, cơ sở
dữ liệu, con người, phương pháp.
Hình 2.1. Sơ đồ các thành phần cấu tạo GIS
(Nguồn: Thủ thuật GIS)
- Phần cứng: Là thiết bị bao gồm máy vi tính (Computer), máy vẽ (plotters),
máy in (printer), bàn số hóa (digitizer), thiết bị quét ảnh (scanners), các phương
tiện lưu trữ số liệu (Floppy diskettes, optical cartridges, C.D ROM v.v…).
- Phần mềm gồm có hệ điều hành và các phần mềm được cài đặt trong
hệ điều hành đó. Phần mềm cung cấp các chức năng và công cụ cần thiết để
lưu giữ, phân tích và hiển thị thông tin địa lý. Ngoại trừ hệ điều hành, các
phần mềm còn lại giúp người dùng trong các công việc của hệ thống. Các
công việc này có thể là chỉnh sửa, cập nhật dữ liệu, phân tích dữ liệu để phục vụ
mạng Internet tới các cấp độ khác nhau như CSDL địa lý cá nhân hay CSDL
của các doanh nghiệp. Về mặt công nghệ, hiện nay các chuyên gia GIS coi
công nghệ ESRI là một giải pháp mang tính chất mở, tổng thể và hoàn chỉnh,
có khả năng khai thác hết các chức năng của GIS trên các ứng dụng khác nhau
như: desktop (ArcGIS Desktop), máy chủ (ArcGIS Server), các ứng dụng Web
(ArcIMS, ArcGIS Online), hoặc hệ thống thiết bị di động (ArcPAD)... và có
khả năng tương tích cao đối với nhiều loại sản phẩm của nhiều hãng khác
nhau (Geo Việt, 2012).
23
Hình 2.2. Bộ phần mềm ứng dụng ArcGIS
(Nguồn ESRI)
ArcGIS Desktop là một sản phẩm của Viện nghiên cứu hệ thống môi
trường của Mỹ (ESRI). ArcGIS là một hệ thống thông tin địa lý cho phép
người sử dụng thực hiện những chức năng của GIS ở bất cứ nơi nào họ muốn:
trên màn hình, máy chủ, trên web, trên các field… ArcGIS lưu trữ và quản lý dữ
liệu địa lý ở nhiều khuôn dạng khá c nhau. Ba mô hình dữ liệu cơ bản mà
ArcGIS sử dụng là vector, raster và TIN. Ngoài ra, người dùng có thể nhập dữ
liệu bảng vào GIS (Geo Việt, 2012).
ArcGIS Desktop có 3 phiên bản (License) là: ArcView, ArcEditor,
ArcInfor. Tùy theo nhu cầu sử dụng của từng cơ quan, cá nhân mà chúng ta có
thể lựa chọn phiên bản cho phù hợp. Tất cả các phiên bản của ArcGIS Desktop
đều bao gồm các ứng dụng ArcMap, ArcCatalog và ArcToolbox (Geo Việt,
2012).
- ArcView: là một phần mềm đuợc sử dụng phổ biến nhất trên thế giới bởi
vì nó cung cấp cho người dùng một cách dễ dàng nhất để sử dụng thông tin
địa lý. ArcView có thể sử dụng rất nhiều định dạng dữ liệu khác nhau thậm
chí có thể lấy đuợc dữ liệu từ Internet. Đây là phần mềm hệ thống thông tin địa
tập và thành lập bản đồ, cũng như là để thực hiện các phép phân tích bản đồ.
ArcToolbox dùng để chuyển đổi các dạng dữ liệu và thực hiện các phép xử lý
dữ liệu về địa lý.
25