TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở TRẺ 3- 4 TUỔI TẠI TRƢỜNG MẦM NON NGỌC LINH VÀ
TRƢỜNG MẦM NON HUA LA - THÀNH PHỐ SƠN LA
Thuộc nhóm ngành: Khoa học - Giáo dục
Sơn La, tháng 05 năm 2017
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở TRẺ 3 - 4 TUỔI TẠI TRƢỜNG MẦM NON NGỌC LINH VÀ
TRƢỜNG MẦM NON HUA LA - THÀNH PHỐ SƠN LA
Thuộc nhóm ngành: Khoa học - Giáo dục
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Lịnh
Nam, Nữ: NữDân tộc:
Mường
Đinh Thị Giang
Nam, Nữ: NữDân tộc: Kinh
Nguyễn Thị Ngọc
Đinh Thị Giang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ...........................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................................2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................................2
6. Đóng góp của đề tài ......................................................................................................3
7. Cấu trúc của đề tài ........................................................................................................3
NỘI DUNG ......................................................................................................................4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ...........................................................4
1.1. Đặc điểm sinh lý của trẻ em mầm non ......................................................................4
1.2. Tình trạng dinh dưỡng ...............................................................................................5
1.2.1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng.......................................................................5
1.2.2. Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ em ...........................................................6
1.2.3. Suy dinh dưỡng .......................................................................................................9
1.2.4. Thừa cân - béo phì ................................................................................................16
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................25
2.1. Địa điểm và đối tượng nghiên cứu ..........................................................................25
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu .............................................................................................25
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu ...........................................................................................26
2.1.3. Thời gian nghiên cứu ............................................................................................26
2.2. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................................26
2.2.1. Chọn mẫu ..............................................................................................................26
2.2.2. Thu thập số liệu.....................................................................................................27
2.2.3. Các bước tiến hành ...............................................................................................31
SDD
suy dinh dưỡng
2
CN/T
cân nặng/tuổi
3
CC/T
chiều cao/tuổi
4
TC – BP
thừa cân - Béo phì
5
BP
béo phì
6
Bảng 3.1. Thông tin chung về đặc điểm cơ bản hộ gia đình của đối tượng tham gia nghiên
cứu...................................................................................................................................................... 32
Bảng 3.2. Đặc điểm giới tính của đối tượng nghiên cứu ...............................................34
Bảng 3.3. Đặc điểm nhân trắc của trẻ em trong nghiên cứu .........................................34
Bảng 3.4. Tình trạng dinh dưỡng chung........................................................................35
Bảng 3.5. Tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em theo trường................................................36
Bảng 3.6. Tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em theo giới tính .............................................38
Bảng 3.6. Tỉ lệ thừa cân – béo phì của trẻ em nghiên cứu ............................................39
Bảng 3.7. Giá trị dinh dưỡng khẩu phần của đối tượng nghiên cứu .............................39
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng dinh dưỡng CN/T của trẻ
em ....................................................................................................................................41
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình trạng dinh dưỡng CC/T của trẻ
em ....................................................................................................................................42
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1. Diễn biến SDD trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc (2008-2015) ..............15
Biểu đồ 3.1. Tình trạng dinh dưỡng chung của trẻ em nghiên cứu ...............................35
Biểu đồ 3.2. Tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em theo trường ............................................36
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa Tiểu học – Mầm non
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: Tình trạng dinh dƣỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ 3- 4 tuổi
tại trƣờng mầm non Ngọc Linh và trƣờng mầm non Hua La – thành phố
Sơn La.
- Sinh viên thực hiện:
1) Bùi Thị Lịnh
5. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc
phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
- Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non, khoa Tiểu
học – mầm non, trường Đại học Tây Bắc.
- Làm tài liệu tham khảo cho giáo viên trường mầm non Ngọc Linh và
trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La.
6. Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ
tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả
nghiên cứu (nếu có):
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Ngày tháng năm 2017
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Nhận xét của ngƣời hƣớng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Xác nhận của Khoa
Ngày
tháng năm 2017
Người hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Được giấy chứng nhận Sinh viên có thành tích cao trong học tập
môn Giáo dục Quốc phòng an ninh, tham gia cuộc thi “Sinh viên yêu thích bộ
môn” và đạt giải ba, đạt giải ba môn Điền kinh, tham gia Tiếng hát sinh viên cấp
khoa, tham gia vào đội văn nghệ của khoa, đội văn nghệ của trường và đạt được
nhiều giải cao.
* Năm thứ 2:
Ngành học: Giáo dục mầm non
Khoa: Tiểu học – mầm non
Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích:
Tham gia cuộc thi “TBU got talent” và đạt giải khuyến khích, đạt giải nhất
môn Điền kinh, tham gia Tiếng hát sinh viên cấp khoa và được công nhận, tham
gia vào đội văn nghệ của khoa, đội văn nghệ của trường và đạt nhiều giải cao.
* Năm thứ 3:
Ngành học: Giáo dục mầm non
Khoa: Tiểu học – mầm non
Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích:
Đạt giải nhất thi giảng mầm non, đạt giải ba Tiếng hát sinh viên cấp khoa,
đạt giải khuyến khích cuộc thi “Gala Tiếng hát Học sinh - Sinh viên” cấp
trường, tham gia cuộc thi nghiệp vụ sư phậm cấp trường và đạt giải nhì, t ham
gia cuộc thi “Sinh viên yêu thích nghệ thuật” và đạt giải nhất, tham gia vào đội
văn nghệ của khoa, đội văn nghệ của trường và đạt nhiều giải cao.
Sơn La, Ngày
gây ra những hậu quả xấu về mặt thể lực, ảnh hưởng đến khả năng học tập và làm việc
của con người, đặc biệt là đối với trẻ em. Như ta thấy: thời kì quan trọng nhất của cuộc
đời trẻ chính là thời kì trẻ mầm non, bởi vì lúc này não bộ của trẻ đang ở giai đoạn
phát triển mạnh nhất và các tế bào thần kinh cũng được vận dụng tối đa để trẻ có thể tự
có những suy nghĩ và hành động riêng của mình. Đây là giai đoạn phát triển nền tảng,
có ý nghĩa quan trọng trong các giai đoạn tiếp theo.
Sơn La là một tỉnh nghèo miền núi phía Bắc, giao thông không thuận lợi, kinh tế
dựa chủ yếu vào hoạt động sản xuất nông nghiệp lạc hậu, trình độ dân trí còn thấp.
Dân cư chủ yếu là dân tộc Thái, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu. Chính vì thế,
việc chăm sóc - giáo dục trẻ còn chưa được chú trọng nên tỉ lệ SDD của trẻ em nơi đây
còn rất cao. Bên cạnh đó, hiện tượng thừa cân – béo phì bắt đầu có xu hướng gia tăng.
Chính vì những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình trạng
dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ 3- 4 tuổi tại trường mầm non Ngọc Linh
và trường mầm non Hua La - thành phố Sơn La”
1
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trường mầm non Ngọc Linh và
trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La dựa trên các chỉ số thể lực (chiều cao và
cân nặng).
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trường
mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố Sơn La.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Tình trạng dinh dưỡng của 3 - 4 tuổi tại trường mầm non Ngọc Linh và trường
mầm non Hua La – thành phố Sơn La.
Các trẻ được lựa chọn để nghiên cứu có sức khỏe bình thường, không có dị tật
bẩm sinh hoặc bệnh truyền nhiễm, trạng thái tâm - sinh lý bình thường.
Trường mầm non Ngọc Linh - thành phố Sơn La và trường mầm non Hua La thành phố Sơn La.
của trẻ.
- Phương pháp nhân trắc:
Đo chiều cao và cân nặng của trẻ mầm non
- Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học:
Các số liệu thu thập được sẽ được nhập vào máy tính và xử lí trên phần mềm
Microsoft Excel, phần mềm WHO Anthro.
6. Đóng góp của đề tài
Thống kê số liệu về chiều cao, cân nặng để qua đó đánh giá tình trạng dinh
dưỡng của trẻ trường mầm non Ngọc Linh và trường mầm non Hua La – thành phố
Sơn La bằng phần mềm WHO Anthro và WHO Anthroplus. Đây sẽ là tư liệu để tham
khảo, thông qua đó các nhà quản lí giáo dục, các giáo viên mầm non, các sinh viên
ngành Giáo dục mầm non có cơ sở thực tế để từ đó xây dựng được các biện pháp phù
hợp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận.
3
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 . Đặc điểm sinh lý của trẻ em mầm non
Trẻ em là cơ thể đang lớn và phát triển. Quá trình sinh trưởng và phát triển của
trẻ em là quá trình liên tục. Quá trình lớn và phát triển của trẻ em cũng tuân theo quy
luật chung của sự tiến hóa sinh vật: đi từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Quá
trình tiến hóa này không phải là một quá trình tuần tiến mà có những bước nhảy vọt,
có sự khác nhau về chất chứ không đơn thuần về mặt số lượng.
Ở tuổi lên 3, bé cao 90 - 93 cm là tốt. Sau đó, mỗi tháng bé cao thêm 0,5 - 1 cm.
Lúc 4 tuổi, bé cao 1m là đúng tiêu chuẩn. Cân nặng lúc 3 tuổi của trẻ khoảng 14 -14,5
kg. Lúc này, trẻ tăng cân chậm, khoảng 100 - 200g mỗi tháng. Nếu trẻ tăng cân nhanh
trên 500g mỗi tháng và trong nhiều tháng liên tiếp, cần xem chừng nguy cơ béo phì.
Sau 1 năm đến khi tròn 4 tuổi, trẻ tăng thêm 2 kg, tức là nặng khoảng 16 - 16,5 kg.
Chiều cao và cân nặng của trẻ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như di truyền,
dinh dưỡng trong quá trình nuôi hoặc yếu tố bệnh tật.
Để tạo điều kiện cho các cơ quan trong cơ thể có thể hoàn thiện vào cuối giai
đoạn này trong điều kiện hệ thần kinh chưa hoàn thiện, cần tổ chức chế độ sinh hoạt
hợp lý, thực hiện chế độ dinh dưỡng cân đối và tăng cường các biện pháp rèn luyện cơ
thể cho trẻ.
1.2 . Tình trạng dinh dƣỡng
1.2.1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng
Từ lâu người ta đã biết có mối liên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng và tình trạng
sức khoẻ. Tình trạng dinh dưỡng có thể được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm cấu
trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp
ứng nhu cầu dinh dưỡng. Khi mới hình thành khoa học dinh dưỡng, để đánh giá tình
trạng dinh dưỡng, người ta chỉ dựa vào các nhận xét đơn giản như gầy, béo; tiếp đó là
một số chỉ tiêu nhân trắc như Brock, Quetelet, Pignet. Nhờ phát hiện về vai trò các
chất dinh dưỡng và các tiến bộ kỹ thuật, phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
ngày càng hoàn thiện và ngày nay trở thành một chuyên khoa của dinh dưỡng học.
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các nhu
cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (ví dụ:
thời kỳ có thai, cho con bú...) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực. Cơ thể sử dụng
các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá,
hấp thu, phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá và sinh lý trong quá trình chuyển
hoá. Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể. Ví
dụ: tiêu chảy ảnh hưởng tức thì đến tiêu hoá hấp thu thức ăn. Tình trạng dinh dưỡng
tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể có tình
5
Suy dinh dưỡng nhẹ
Suy dinh dưỡng độ I
60 – 75%
Suy dinh dưỡng trung bình
Suy dinh dưỡng độ II
< 60%
Suy dinh dưỡng nặng
Suy dinh dưỡng độ III
Cách phân loại này không phân biệt giữa Marasmus và Kwashiorkor cũng như
suy dinh dưỡng cấp hay mãn bởi vì cách phân loại này không để ý tới chiều cao.
- Hiện nay, người ta nhận định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em chủ yếu dựa vào 3
chỉ tiêu sau:
+ Cân nặng theo tuổi
+ Chiều cao theo tuổi
+ Cân nặng theo chiều cao
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đề nghị lấy điểm ngưỡng ở dưới 2 độ lệch chuẩn (2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS (National Center for Health Statistics) để coi
là nhẹ cân. Từ đó có thể chia thêm các mức độ sau đây:
Từ dưới -2SD đến -3SD : suy dinh dưỡng độ I
Từ dưới -3SD đến -4SD : suy dinh dưỡng độ II
Dưới -4SD : suy dinh dưỡng độ III
6
+ Theo độ lệch chuẩn (Z score hay SD score):
Zscore hay SD score = (Kích thước đo được - Số trung bình của quần thể tham
chiếu) / Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu
7
Cách biểu hiện theo tỷ lệ % dưới giới hạn ngưỡng cho một kết luận tổng quát,
nhưng để so sánh hiệu quả các can thiệp thì cách so sánh số trung bình (+SD) hoặc số
trung bình của Z score tỏ ra thích hợp hơn. Giữa số trung bình Z score và tỷ lệ % dưới
-2SD có mối tương quan với nhau.
- Theo Xentin (Percentile): Nhiều khi người ta sắp xếp các kích thước nhân trắc
theo xentin so với quần thể tham chiếu. Ở mốc 3 xentin (nghĩa là có 3% số trẻ dưới
mốc này) gần tương đương với -2SD (chính xác là -1,881SD), nên dưới mốc này có
thể xếp vào loại thiếu dinh dưỡng. Thường các bảng xentin lấy mốc 3 và 97 xentin để
phân loại tình trạng dinh dưỡng. Khi áp dụng các chỉ tiêu nhân trắc để nhận định tình
trạng dinh dưỡng, cần chú ý rằng chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá tình trạng dinh
dưỡng cấp tính là cân nặng theo chiều cao, do đó nên sử dụng trong các đánh giá
nhanh sau thiên tai, các can thiệp ngắn hạn. Chiều cao theo tuổi lại là chỉ tiêu thích
hợp nhất để đánh giá tác động dài hạn, nghĩa là để theo dõi ảnh hưởng của các thay đổi
về điều kiện kinh tế xã hội.
Chỉ tiêu cân nặng theo tuổi là một chỉ tiêu chung, không mang giá trị đặc hiệu như
hai chỉ tiêu trên. Người ta không phủ nhận giá trị tương đối của nó, nhưng trong các
cuộc điều tra dinh dưỡng, việc thu thập cả cân nặng, chiều cao và tuổi là cần thiết để
tính ra các chỉ tiêu trên. Đồng thời, bên cạnh việc tính các tỷ lệ dưới một "Ngưỡng"
nào đó, nên tính số trung bình (hoặc trung bình Z score) cùng với độ lệch chuẩn để các
nhận định được toàn diện hơn, nhất là khi có ý định so sánh.
- Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng ở cộng đồng trẻ em dưới 5 tuổi:
Các thể suy
dinh dƣỡng
Tỷ lệ % suy
thấp còi
Tỷ lệ % suy
dinh dưỡng thể
gầy còm
8
Rất cao
1.2.3. Suy dinh dưỡng
1.2.3.1. Khái niệm
Suy dinh dưỡng là trình trạng bệnh lý do nhu cầu dinh dưỡng bình thường
của cơ thể không đáp ứng được, hậu quả là thiếu hoặc thừa dinh dưỡng.
Suy dinh dưỡng trẻ em gọi đầy đủ là suy dinh dưỡng là một rối loạn dinh dưỡng
thường gặp ở trẻ em do thiếu nhiều chất dinh dưỡng, chứ phải thiếu protetin - năng
lượng đơn thuần.
Suy dinh dưỡng là biểu hiện của sự chậm lớn, chậm tăng trưởng chủ yếu
là yếu tố nuôi dưỡng, bệnh tật hơn là nguyên nhân do di truyền, trẻ em dưới 5
tuổi nếu được nuôi dưỡng đầy đủ, mọi trẻ em có thể phát triển như nhau.
Suy dinh dưỡng thứ phát nếu thực phẩm cung cấp đủ về số lượng chất
lượng nhưng do trẻ không muốn ăn, do rối loạn hấp thu, do tăng chuyển hoá
bất thường, do sai lạc chuyển hoá hoặc sự bất thường khiến cho nhu cầu bên
trong cơ thể bị thiếu hụt.
1.2.3.2. Nguyên nhân suy dinh dưỡng
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng đó là các nguyên nhân:
nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân sâu xa và một số các
nguyên nhân khác.
a. Nguyên nhân trực tiếp phải kể đến là khẩu phần (thiếu ăn về số lượng và mất
cân đối về chất lượng) và mắc các bệnh nhiễm khuẩn.
* Yếu tố về khẩu phần:
quả chưa nhất quán, nhiều khả năng do các quần thể dân cư đó thiếu đồng thời nhiều
chất dinh dưỡng. Mặt khác, phần lớn các can thiệp có thể chưa tập trung vào lứa tuổi
nhỏ nhất và thời kỳ tăng trưởng chiều cao nhiều nhất. Nhiều chuyên gia cho rằng các
can thiệp về thực phẩm, thông qua đường ăn uống là các can thiệp hiệu quả và bền
vững, cần được quan tâm hơn là các can thiệp cải thiện tình trạng dinh dưỡng tập trung
vào một số chất dinh dưỡng đơn lẻ (trừ can thiệp cải thiện tình trạng thiếu iốt).
* Yếu tố về bệnh nhiễm trùng:
Vòng xoắn bệnh lý giữa các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và SDD đã được chứng
minh. Bệnh nhiễm trùng dẫn đến SDD, SDD làm trẻ dễ mắc bệnh nhiễm trùng, làm
tăng mức độ trầm trọng của bệnh, vòng xoắn bệnh lý cứ thế tiếp diễn nếu không có can
thiệp hoặc xử trí phù hợp. Nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng đến tình trạng
dinh dưỡng của trẻ em. Tiêu chảy dẫn đến các tổn thương đường tiêu hóa do đó làm
giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều
hơn và dễ dàng xâm nhập. Nhiễm trùng làm tăng sự hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ
biếng ăn và ăn với số lượng ít hơn do giảm ngon miệng. Các nghiên cứu ước tính rằng
nhiễm trùng ảnh hưởng đến 30% sự giảm chiều cao ở trẻ em. Những trẻ có HIV
10
thường bị tiêu chảy và kéo theo là tình trạng SDD. Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do
rối loạn tiêu hoá, và ngược lại SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm. Do đó,
tỷ lệ SDD có thể dao động theo mùa và thường cao trong những mùa có các bệnh
nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, viêm hô hấp, sốt rét). Bên cạnh tiêu chảy,
các bệnh nhiễm trùng khác cũng ảnh hưởng nhiều tới dinh dưỡng như nhiễm khuẩn
đường hô hấp, sởi và các bệnh ký sinh trùng đường ruột.
b. Nguyên nhân tiềm tàng.
Nguyên nhân tiềm tàng của SDD do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ
trẻ em, thiếu kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, các
vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ
sinh. Yếu tố không kém quan trọng đó là sự chăm sóc của mẹ đối với con. Khi đời
Suy dinh duỡng làm cho trẻ em dễ bị cảm nhiễm với các bệnh nhiễm trùng, nhất
là các bệnh đường hô hấp, đường ruột và khi mắc thì diễn biến xấu hơn, gia tăng tỉ lệ
tử vong.
SDD là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý này xảy ra và kéo dài, làm cho trẻ em
ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng nên SDD ngày càng trở nên nặng nề hơn.
SDD làm trẻ em kém phát triển về thể chất. Mức độ chậm phát triển tăng song
song với thời gian kéo dài của bệnh và nhóm tuổi của trẻ. Các bằng chứng khoa học đã
cho thấy, giai đoạn đầu tiên của cuộc đời từ trong bụng mẹ đến 2 tuổi, nếu trẻ em bị
SDD có thể để lại những hậu quả về thể chất và tinh thần không phục hồi được và kéo
sang thế hệ sau. Nếu tình trạng SDD kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ
em sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn.
SDD làm trẻ em chậm phát triển tâm thần, nhất là ảnh hưởng đến sự phát triển
bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ em dưới 6 tuổi. Trí thông minh dễ dàng bị
ảnh hưởng nếu trẻ bị SDD bào thai và dưới 12 tháng tuổi. Tác hại của SDD càng nặng,
nếu bệnh xuất hiện lúc cơ quan chưa trưởng thành.
Ngoài ra, SDD tác động tiêu cực về mặt xã hội: tầm vóc của dân tộc sẽ chậm
tăng trưởng nếu tình trạng SDD không được cải thiện qua nhiều thế hệ. Khả năng lao
động về thể lực cũng như về trí lực của những người SDD trong quá khứ hay trong
hiện tại đều không thể đạt đến mức tối ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn đối với các
nước đang phát triển. Nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc
và thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản.
Như vậy, SDD vừa ảnh hưởng trước mắt, trực tiếp đến phát triển của trẻ; vừa dẫn
đến các hậu quả không khắc phục được như tầm vóc người trưởng thành thấp bé, kết
quả học tập kém, giảm khả năng lao động người lớn và ảnh hưởng tới thu nhập quốc
dân. Mặt khác, điều trị SDD phức tạp, tốn kém, trong khi việc phát hiện sớm và dự
phòng SDD có thể thực hiện được nhờ các biện pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu.
12
1.2.3.4. Phân loại suy dinh dưỡng
đã đạt được những kết quả nhất định. Mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm nhiều
13