NGHIÊN cứu TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, tâm vận ĐỘNG và một số yếu tố LIÊN QUAN ở TRẺ từ 18 đến dưới 60 THÁNG TUỔI tại 4 xã THUỘC HUYỆN NAM TRỰC, NAM ĐỊNH - Pdf 56

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................................................1
CHƯƠNG 1.............................................................................................................................................3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU.............................................................................................................................3
1.1. Sự tăng trưởng thể chất, tinh thần, vận động ở trẻ em............................................................3
1.1.1. Khái niệm.............................................................................................................................3
1.1.2. Các chỉ tiêu để đánh giá.......................................................................................................3
1.2. Các thời kỳ phát triển của trẻ em...............................................................................................4
1.2.1. Trẻ sơ sinh............................................................................................................................5
1.2.2. Trẻ 2 tháng tuổi....................................................................................................................6
1.2.3. Trẻ 4 tháng tuổi....................................................................................................................6
1.2.4. Trẻ 5 tháng tuổi....................................................................................................................7
1.2.5. Trẻ 6 tháng tuổi....................................................................................................................7
1.2.6. Trẻ 7 - 9 tháng tuổi...............................................................................................................7
1.2.7. Trẻ 10 - 12 tháng..................................................................................................................7
1.2.8. Trẻ 18 tháng tuổi..................................................................................................................8
1.2.9. Trẻ 24 tháng tuổi..................................................................................................................8
1.2.10. Trẻ 2 - 3 tuổi.......................................................................................................................8
1.2.11. Trẻ 4 - 6 tuổi.......................................................................................................................9
1.2.12. Trẻ 7 - 15 tuổi.....................................................................................................................9
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng trẻ em.........................................................................9
1.3.1. Yếu tố di truyền ...................................................................................................................9
1.3.2. Yếu tố môi trường..............................................................................................................10
1.3.3. Dinh dưỡng và sự phát triển não bộ trong những năm đầu đời.....................................10


1.3.4 Hậu quả lâu dài của việc thiếu dinh dưỡng.......................................................................13
1.4. Tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em trên thế giới và Việt Nam...............................................16
1.4.1. Tình hình suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em trên thế giới...............................................16
1.4.2. Tình hình suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em Việt Nam................................................18
1.5. Các phương pháp đánh giá.......................................................................................................20

4.1.2. Tình trạng phát triển tâm - vận động của trẻ...................................................................68
4.2. Xác định một số yếu tố liên quan đến sự phát triển tâm vận động, tình trạng dinh dưỡng
của trẻ em từ 18 đến dưới 60 tháng tuổi tại 4 xã thuộc huyện Nam Trực tỉnh Nam Định...........74
KẾT LUẬN..............................................................................................................................................83
KIẾN NGHỊ............................................................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................................................86


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Phân bố trẻ theo giới và nhóm tuổi....................................................................................37
Bảng 3.2. Thông tin chung về gia đình trẻ...........................................................................................37
Bảng 3.3. Giá trị trung bình một số chỉ số nhân trắc của trẻ theo giới..............................................38
Bảng 3.4. Phân bố tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo giới tính.......................................................38
Bảng 3.5. Phân bố tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo nhóm tuổi....................................................39
Bảng 3.6. Phân bố tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo trình độ học vấn mẹ....................................40
Bảng 3.7. Phân bố tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo nghề nghiệp mẹ..........................................41
Bảng 3.8. Mức độ phát triển khu vực cá nhân – xã hội của trẻ tại địa bàn nghiên cứu....................42
Bảng 3.9. Mức độ phát triển khu vực cá nhân – xã hội của trẻ theo nhóm tuổi...............................42
Bảng 3.10. Mức độ phát triển khu vực vận động tinh tế của trẻ theo giới tính................................43
Bảng 3.11. Mức độ phát triển khu vực vận động tinh tế của trẻ theo nhóm tuổi............................44
Bảng 3.12. Mức độ phát triển khu vực giao tiếp của trẻ theo giới tính.............................................44
Bảng 3.13. Mức độ phát triển khu vực giao tiếp của trẻ theo nhóm tuổi.........................................45
Bảng 3.14. Mức độ phát triển khu vực vận động toàn thân của trẻ theo giới tính...........................46
Bảng 3.15. Mức độ phát triển khu vực vận động toàn thân của trẻ theo nhóm tuổi.......................46
Bảng 3.16. Mức độ phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề của trẻ theo giới tính...............................47
Bảng 3.17. Mức độ phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề của trẻ theo nhóm tuổi............................47
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với mức độ phát triển ở khu vực cá nhân xã
hội của trẻ........................................................................................................................50
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và mức độ phát triển ở khu vực vận động
tinh tế của trẻ..................................................................................................................50

40
Biểu đồ 3.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại địa bàn nghiên cứu theo nhóm tuổi 40
Biểu đồ 3.3: Mức độ phát triển khu vực cá nhân – xã hội của trẻ theo giới 42
Biểu đồ 3.4. Mức độ phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề của trẻ theo nhóm tuổi 48
Biểu đồ 3.5. Mối liên quan giữa mức độ phát triển ở khu vực vận động tinh tế của trẻ với tình
trạng dinh dưỡng thấp còi 52
Biểu đồ 3.6. Mối liên quan giữa mức độ phát triển ở khu vực cá nhân xã hội với trình độ học vấn
của mẹ 60
61
Biểu đồ 3.7. Mối liên quan giữa mức độ phát triển ở khu vực vận động tinh tế với trình độ học vấn
của mẹ 61


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Quá trình tăng trưởng của trẻ em bị chi phối bởi nhiều yếu tố: yếu tố di
truyền bên trong và môi trường bên ngoài trong đó có dinh dưỡng, bệnh tật và
môi trường sống. Các yếu tố bên ngoài có tác động rất mạnh đến sự phát triển
của trẻ em đặc biệt giai đoạn cơ thể đang phát triển nhanh [1],[3],[18].
Bước sang thế kỷ 21, không chỉ riêng nước ta mà nhiều nước trên thế
giới vẫn đang còn phải đương đầu với thách thức của tình trạng nghèo và suy
dinh dưỡng (SDD). SDD là tình trạng cơ thể thiếu Protein, năng lượng và các
vi chất dinh dưỡng. Bệnh thường gặp nhiều nhất ở trẻ dưới 5 tuổi, biểu hiện ở
những mức độ khác nhau, không những gây ảnh hưởng đến sự phát triển thể
chất, tâm lý và vận động của trẻ, mà còn ảnh hưởng đến sức lao động của xã
hội sau này, trường hợp nặng hơn có thể gây tử vong.
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy trẻ SDD trong những năm đầu
đời ảnh hưởng không tốt đến hành vi, nhận thức và sự phát triển tâm lý, vận
động dù sau này được chăm sóc dinh dưỡng tốt [3].

biến. Hơn nữa vẫn còn ít nghiên cứu về sự phát triển thể lực, vận động và tinh
thần của trẻ em, đặc biệt là sự liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và sự phát
triển tâm lý vận động của trẻ trong những năm đầu đời. Do vậy chúng tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng, tâm vận động và một số
yếu tố liên quan của trẻ từ 18 đến dưới 60 tháng tuổi tại 4 xã thuộc huyện
Nam Trực tỉnh Nam Định” với các mục tiêu sau:
1. Mô tả tình trạng nhân trắc dinh dưỡng và sự phát triển tâm vận động
của trẻ em từ 18 đến dưới 60 tháng tuổi tại 4 xã thuộc huyện Nam Trực tỉnh Nam
Định.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến sự phát triển tâm vận động,
tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 18 đến dưới 60 tháng tuổi tại 4 xã thuộc
huyện Nam Trực tỉnh Nam Định.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sự tăng trưởng thể chất, tinh thần, vận động ở trẻ em
1.1.1. Khái niệm
Tăng trưởng là một khái niệm bao gồm quá trình lớn (growth) và phát
triển (development). Quá trình lớn chỉ là sự tăng khối lượng do sự tăng sinh
và phì đại của tế bào, còn quá trình phát triển là sự biệt hoá về hình thái và sự
trưởng thành về chức năng của các bộ phận và hệ thống trong cơ thể. Có thể
nói có hai loại tăng trưởng: tăng trưởng về thể chất (physical growth) hay thân
thể (somatic growth), và tăng trưởng về chức năng (funtional growth). Hai
quá trình này có mối liên quan mật thiết với nhau.
1.1.2. Các chỉ tiêu để đánh giá
1.1.2.1. Sự phát triển thể chất: có thể xếp làm 3 nhóm: 1) Nhóm các chỉ
tiêu về nhân trắc: cân nặng, chiều cao, chu vi các vòng, tỷ lệ giữa các phần

biệt đối với từng đứa trẻ, giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau. Các
cách chia đều dựa vào những đặc điểm cơ bản về sinh học của trẻ, nhưng
cách gọi tên mỗi thời kỳ cũng như phân đoạn thời gian cũng khác nhau tuỳ
theo từng trường phái.
Cách phân chia các thời kỳ sau đây là của trường phái các nhà Nhi
khoa Liên Xô (A.F Tua), đã được sử dụng rộng rãi ở nước ta: 1) Thời kỳ trong
tử cung (hay thời kỳ bào thai), gồm thời kỳ phôi (embryon) và thai nhi
(foetus); 2) Thời kỳ sơ sinh: Từ lúc trẻ đẻ cho đến 28 ngày (4 tuần hoặc 1
tháng); 3) Thời kỳ bú mẹ, hay còn gọi là nhũ nhi: Từ 1- 12 tháng sau đẻ. Các
tác giả phương tây cho thời kỳ bú mẹ tới 24 – 36 tháng; 4) Thời kỳ răng sữa:
Từ 1 – 5 tuổi; 5) Thời kỳ thiếu niên, hay tuổi học đường: từ 6 – 15 tuổi; 6)
Thời kỳ dậy thì. Hiện nay theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới thì tuổi vị


5

thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi (WHO, 1995) và từ 20 tuổi trở lên là
người trưởng thành [33].
Để đánh giá sự phát triển tâm thần và vận động của trẻ em, có thể dựa
vào việc theo dõi các khía cạnh sau:
- Sự hiểu biết của trẻ (Trẻ biết những gì ?).
- Sự phát triển về vận động: Các động tác vận động và sự kết hợp khéo
léo các động tác đó (Trẻ biết làm gì? Và làm như thế nào).
- Sự phát triển về các giác quan, trong đó trọng tâm là nghe và nhìn.
- Sự phát triển về lời nói (Khả năng nói của trẻ đến đâu?).
- Sự ứng xử và giao tiếp với môi trường xung quanh.
1.2.1. Trẻ sơ sinh
Trẻ sơ sinh ngủ nhiều (ngủ tới 22 - 23 giờ/ngày) và đôi khi trẻ cười
trong khi ngủ.
Năm giác quan của trẻ sơ sinh đã hoạt động:

Thời gian thức và chơi tăng dần.
Trẻ có thể nhìn theo một vật di động.
Có thể chăm chú nhìn một vật nắm trong tay.
Trẻ có thể nắm lấy những vật người lớn đưa và cho vào mồm, mặc dù
chưa tự điều khiển được một cách mau lẹ.
Trẻ lẫy được từ tư thế ngửa sang tư thế nghiêng.
Ở tư thế nằm sấp trẻ có thể nhấc cằm khỏi mặt giường khá lâu.
1.2.3. Trẻ 4 tháng tuổi
Ham thích môi trường xung quanh.
Trẻ thích cười đùa với mọi người.
Có thể vận động tự ý như cầm và kéo đồ chơi.
Thích đạp, thích vùng vẫy chân tay.
Lẫy được từ ngửa sang sấp.
Nằm sấp trẻ nâng đầu được lâu hơn.


7

Giữ cho trẻ ngồi, đầu của trẻ không bị rủ xuống, không lắc lư.
1.2.4. Trẻ 5 tháng tuổi
Trẻ có thể quay mặt về phía có tiếng động.
Biết đưa tay ra nhận đồ chơi.
Ngồi được khi có người đỡ.
Có thể lẫy được từ sấp sang ngửa.
Có thể phát âm được vài phụ âm.
1.2.5. Trẻ 6 tháng tuổi
Trẻ biết phân biệt mẹ và người lạ.
Trẻ ngồi vững và trườn người ra xung quanh để lấy đồ chơi.
Biết chộp lấy đồ chơi, cầm lâu và chuyển từ tay này sang tay khác.
Biết nhặt đồ chơi có kích thước nhỏ bằng cả 5 ngón tay.

Biết tự cầm bát cơm và xúc ăn bằng thìa.
Nói được các câu ngắn.
1.2.9. Trẻ 24 tháng tuổi
Thích xếp đồ chơi thành hàng dài.
Tự mặc được quần áo, rửa mặt nhưng còn vụng về.
Tự lên xuống cầu thang, nhảy được 1 chân.
Vẽ được vòng tròn, đường thẳng.
Nói được câu dài, hát được bài hát ngắn.
1.2.10. Trẻ 2 - 3 tuổi
Tự phục vụ được các việc đơn giản: cởi bỏ/mặc quần áo, xúc cơm ăn...
Học thuộc bài hát ngắn.
Hay đặt câu hỏi.
Thích sống tập thể.
Chân tay bớt vụng về, các động tác khéo léo hơn.
Thích leo trèo.
Trẻ thích múa hát.


9

1.2.11. Trẻ 4 - 6 tuổi
Tinh thần phát triển nhanh.
Trẻ thích tìm hiểu môi trường xung quanh, thích chơi một mình.
Tiếng nói phát triển mạnh: trẻ hát được bài hát dài, thuộc nhiều bài thơ ngắn.
Biết học chữ, học vẽ, viết được.
6 tuổi trẻ bắt đầu đi học.
Vận động khéo léo, nhanh nhẹn, mềm dẻo: múa, đi thăng bằng, leo
trèo, chạy, nhảy ...
1.2.12. Trẻ 7 - 15 tuổi
Tiếp thu giáo dục tốt.

Ngoài hai yếu tố cơ bản là di truyền và môi trường, các yếu tố khác
cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng: yếu tố nội tiết (hormon các tuyến giáp, tụy,
thượng thận, sinh dục, tuyến yên); yếu tố bệnh tật [10],[19],[28].
Sự tăng trưởng là kết quả của mối tương tác liên tục của yếu tố di
truyền và môi trường. Trong các yếu tố môi trường, quan trọng nhất là dinh
dưỡng. Dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình tăng trưởng
và phát triển của cơ thể [2],[9],[23],[26].
1.3.3. Dinh dưỡng và sự phát triển não bộ trong những năm đầu đời
Dinh dưỡng đầy đủ cho bà mẹ mang thai và trẻ nhỏ rất cần thiết cho sự
phát triển não bộ của trẻ. Thời kỳ mang thai và những năm đầu đời là giai
đoạn quan trọng đối với sự hình thành não bộ của trẻ, đặt nền móng cho sự
phát triển các kỹ năng nhận thức, vận động và cảm xúc xã hội trong suốt thời
thơ ấu và khi trưởng thành. Trẻ bị hạn chế phát triển những kỹ năng này trong
những năm đầu đời sẽ có nguy cơ gặp phải các vấn đề về tâm lý thần kinh sau
này, có thành tích học tập thấp, bỏ học sớm, có trình độ chuyên môn kém và
chăm sóc con cái không đúng cách, từ đó góp phần lưu truyền cuộc sống
nghèo nàn từ thế hệ này sang thế hệ khác [2],[27],[28].


11

Nhiều bà mẹ và trẻ em ở cả những quốc gia có thu nhập thấp và có thu
nhập cao đều có nguy cơ thiếu dinh dưỡng ở mức độ vừa. Dinh dưỡng bào
thai kém có thể là do nghèo đói, do chế độ ăn kiêng của bà mẹ, do bà mẹ
mang thai sớm (ở tuổi vị thành niên) và các vấn đề về mạch tử cung. Thiếu
dinh dưỡng trong thời kỳ năm đầu sau sinh có thể là hậu quả của các thực
hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ kém hoặc do không đủ điều kiện tiếp cận các thực
phẩm dinh dưỡng bổ sung cho việc nuôi con bằng sữa mẹ (không có sẵn,
không đủ tiền....) [20],[24],[25],[26]. Nhiều trẻ em trên toàn thế giới phải đối
mặt với tình trạng này. Ví dụ như vào năm 2010, 925 triệu người trên toàn thế

với mỗi can thiệp đơn lẻ. Các quốc gia có thu nhập thấp nhất và 21/1000 phụ
nữ tại các quốc gia có thu nhập cao hơn. Theo ước tính, thiếu dinh dưỡng là
một trong những nguyên nhân khiến cho khoảng 200 triệu trẻ em dưới 5 tuổi
tại những quốc gia có thu nhập trung bình và thấp có nguy cơ không đạt được
tiềm năng phát triển tối đa về khả năng nhận thức, vận động và cảm xúc xã hội.
Cấu trúc và chức năng của não bộ được phát triển thông qua những tác
động hai chiều liên tục giữa các yếu tố sinh học (như dinh dưỡng), yếu tố di
truyền, trải nghiệm của trẻ và hành vi của chúng.
Thiếu dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ thông
qua tác động trực tiếp vào quy trình của não bộ hay tác động gián tiếp đến trải
nghiệm và hành vi của trẻ. Đầu tiên, thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai
và năm đầu sau sinh ảnh hưởng đến quá trình phát triển cấu trúc và chức năng
của não bộ. Hệ thần kinh của trẻ bắt đầu hình thành sau 16 ngày kể từ ngày
thụ thai và trong vòng 7 tháng sẽ có hình dạng như não bộ của người trưởng
thành. Các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhiều quá trình sinh học điều khiển
sự biến đổi này.
Thiếu năng lượng, protein, axit béo và các vi chất dinh dưỡng làm
chậm các quá trình phát triển thần kinh này. Các chất dinh dưỡng này cũng
quan trọng cho hoạt động của não bộ trong suốt thời thơ ấu và trưởng thành


13

1.3.4 Hậu quả lâu dài của việc thiếu dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng trẻ em thường để lại những hậu quả nặng nề. Suy dinh
dưỡng ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi khả năng học hành của
trẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành. SDD thể vừa và nhẹ thường
gặp và có ý nghĩa sức khoẻ quan trọng nhất vì ngay cả SDD nhẹ cũng làm
tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ em. Trẻ có cân nặng theo tuổi
thấp thường hay bị bệnh như tiêu chảy và viêm phổi [7],[12],[29],[30],[31].

sớm) với bệnh tim và coi đó như là một yếu tố nguy cơ. Cân nặng thấp, chu vi
vòng đầu lúc sinh và cân nặng thấp lúc 1 tuổi có mối liên quan với việc tăng
nguy cơ mắc bệnh tim mạch khi trưởng thành. Kích thước lúc sinh và đến lúc
1 tuổi cũng có mối liên quan với cao huyết áp, nồng độ glucose, insulin,
fibrinogen, yếu tố VII và apolipoprotein B. Phát hiện quan trọng này như là
một giả thuyết về dinh dưỡng thời kỳ bào thai, dinh dưỡng bà mẹ nghèo nàn
có mối liên quan với bệnh tim mạch, cao huyết áp và tiểu đường [36].
Chính vì thế, phòng chống suy dinh dưỡng bào thai hoặc trong những năm
đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa rất quan trọng trong dinh dưỡng theo
chu kỳ vòng đời [37] .
Suy dinh dưỡng cấp tính nặng (cân nặng thấp so với chiều cao) trong
những năm đầu đời có thể gây ra những hậu quả lâu dài đối với sự phát triển
trí tuệ của trẻ thậm chí cả sau khi tình trạng dinh dưỡng đã được phục hồi.
Nhiều nghiên cứu đã so sánh trẻ em ở độ tuổi đến trường có một thời gian bị
suy dinh dưỡng cấp tính nặng trong những năm đầu đời với những trẻ khỏe
mạnh khác hoặc với anh chị em ruột không bị suy dinh dưỡng. Những nghiên
cứu này thường phát hiện rằng những trẻ bị suy dinh dưỡng từ sớm có chỉ số
thông minh (IQ), khả năng nhận thức và thành tích học tập thấp hơn và có
nhiều vấn đề về hành vi hơn. Để điều trị cho trẻ em bị suy dinh dưỡng, Tổ
chức Y tế Thế Giới (WHO) khuyến cáo nên cho trẻ tham gia các hoạt động


15

được xây dựng để thúc đẩy phát triển nhận thức kết hợp với chăm sóc sức
khỏe và dinh dưỡng hợp lý [37],[42],[47],[61].
Suy dinh dưỡng mạn tính (tăng trưởng thể chất kém) cũng liên quan
đến giảm phát triển nhận thức và vận động ở trẻ nhỏ. Từ khi sinh ra cho đến
độ tuổi đi học, những trẻ có chiều cao thấp hơn so với tuổi (bị thấp còi) hoặc
cân nặng thấp hơn so với tuổi thường biểu hiện kém hơn những trẻ có chiều

Từ 576 cuộc điều tra đại diện của các quốc gia và vùng lãnh thổ trong
giai đoạn 1990 đến 2010 cho thấy năm 1990 trên thế giới tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi
bị SDD thể thấp còi chiếm khoảng 40% tương ứng là 253,1 triệu trẻ. Vùng
châu Mỹ Latinh và Caribe là 24,6% (13,7 triệu). Tỷ lệ SDD thấp còi châu Á
năm 1990 là 48,4% (188,7 triệu). Các quốc gia đang phát triển là 44,6%
(248,4 triệu); các quốc gia phát triển 6,1% (4,7 triệu). Đến năm 2010 trên toàn
cầu, thấp còi ở trẻ em đã giảm từ 39,7% xuống còn 26,7%. Xu hướng này dự
kiến sẽ còn 21,8% vào năm 2020 [39]. Tuy nhiên, mức độ giảm tỷ lệ SDD
thấp còi có sự khác nhau rõ rệt giữa các khu vực. Ở Châu Phi tỷ lệ thấp còi
hầu như ít thay đổi. Sau 20 năm, tỷ lệ SDD thấp còi vẫn dao động trong mức
40%, trong khi đó Châu Á có những chuyển biến mạnh mẽ, giảm đáng kể tỷ
lệ SDD thấp còi từ 49% năm 1990 xuống còn 28% trong năm 2010 [58]. Tuy
nhiên, ở đa số các nước đang phát triển, thấp còi vẫn còn là một vấn đề có ý
nghĩa sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn hiện nay [51],[54],[56]. Khoảng
80% trẻ dưới 5 tuổi thấp còi trên thế giới nằm ở 14 quốc gia trong đó 4 nước
là Đông Timor, Burundi, Niger và Madagascar có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thấp
còi cao nhất (hơn một nửa trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi). Đến năm 2012
tỷ lệ thấp còi chung toàn thế giới khoảng 25,0%, tương đương với 162 triệu
trẻ; trong đó 56% ở Châu Á, 36% ở châu Phi [39],[58].
Tỷ lệ SDD trên thế giới hiện giảm bình quân khoảng 0,7%/năm. Khu
vực châu Mỹ Latinh và vùng Carribe đạt mức giảm 0,6%/năm và khu vực


17

Châu Phi chỉ đạt được mức giảm 0,3%/năm. Diễn biến tỷ lệ SDD thể thấp còi
cho thấy tốc độ giảm suy SDD không hoàn toàn song hành với mức tăng
trưởng kinh tế, ở một số quốc gia tuy kinh tế tăng trưởng không cao nhưng tỷ
lệ SDD thể thấp còi giảm nhanh do tiến hành các can thiệp có hiệu quả. Khi tỷ
lệ SDD thấp còi càng xuống thấp thì tốc độ giảm sẽ càng chậm lại.

Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 cùng sự chung tay của cộng
đồng đã yêu cầu giảm tỷ lệ SDD là một trong những chỉ tiêu đánh giá sự phát
triển kinh tế, xã hội. Trong những năm gần đây các thể SDD nặng đã giảm rất
nhiều, hiện nay SDD chủ yếu là thể nhẹ và vừa, số trẻ em SDD gầy còm cấp
tính đã hạ thấp đáng kể, nhưng tỷ lệ thấp còi vẫn còn rất cao. SDD thấp còi là
hậu quả của thiếu dinh dưỡng kéo dài, ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao
của trẻ em. Trong mấy thập kỷ qua, tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam
đã có những mức giảm mạnh tương đương với xu hướng giảm tỷ lệ SDD
trong khu vực.
Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 59,7% năm
1985 xuống 56,5% năm 1990 và 36,5% năm 2000, đến năm 2005 tỷ lệ SDD
thể thấp còi là 29,6% (theo quần thể tham chiếu NCHS). Tuy nhiên kết quả
cho thấy tỷ lệ SDD thể thấp còi thay đổi 31,9% năm 2009 và 29,3% năm 2010
(do từ năm 2006 sử dụng quần thể tham chiếu của WHO). Mặt khác giảm
SDD thể thấp còi là một thách thức, khó hơn rất nhiều so với giảm SDD thể
nhẹ cân. Nếu như năm 1999, tỷ lệ SDD nhẹ cân và thấp còi không có sự khác
biệt đáng kể thì sau hơn 1 thập kỷ, 2 tỷ lệ này có sự chênh lệch rất rõ ràng. Từ
năm 1999 đến năm 2010 trong cả nước tỷ lệ SDD thể nhẹ cân giảm xuống
một cách bền vững từ 36,7% xuống còn 17,5%, đến năm 2012 là 16,2%. Tuy
nhiên tỷ lệ SDD thể thấp còi giảm chậm hơn từ 38,7% năm 1999 xuống
29,6% năm 2005. Đến năm 2006 và 2007 tỷ lệ SDD thấp còi tăng lên 31,9%
và 33,9% là do thay đổi việc áp dụng chuẩn từ quần thể tham khảo của Mỹ


19

sang áp dụng chuẩn của WHO năm 2006 và tiếp tục giảm xuống 29,3% năm
2010 và đến năm 2012 là 26,7% [32].
Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi khác nhau theo lứa tuổi. Các nghiên cứu đã
chỉ ra rằng tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi là thấp nhất đối với cả 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status