Bộ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
LƯONG TÁT THẮNG
THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG, THIẾU VITAMIN D
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ở TRẺ 12 ĐẾN 36 THÁNG
TUỔI
TẠI MỘT SÔ TRƯỜNG MẦM NON TỈNH HẢl DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BỈNH-2014
BỘ Y TẺ
LƯONG TÁT THẮNG
THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG, THIẾU VITAMIN D
VÀ MỘT SỐ YẾU TÔ LIÊN QUAN ở TRẺ 12 ĐẾN 36 THÁNG TUỔI
TẠI MỘT SỔ TRƯỜNG MẦM NON TỈNH HẢl DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TÉ CÔNG CỘNG
Mã số: 60 72 03 01
Huứng dẫn khoa học:
1. TS. Vũ Thị Thu Hiền
2. TS. Đặng Bích Thủy
học,
ơn
Cô
các
đến
Ban
trong
Thầy
Giám
Khoa
Cô
Y
trong
tế
Hội
đồng
công
nhân viên cúa Nhà trường.
Với
sâu
lòng
sắc
kính
trọng
nhất
hóa
dinh
viên
Khoa
đến
dưỡng,
Y
và
Thu
Hiền
-
Trưởng
Quốc
gia
và
TS.
tận
tình
chi
bảo,
lời
cảm
Khoa
thành
giúp
đỡ
tôi
trong suốt quá trình tiến hành làm luận văn.
Tôi
xin
chân
toàn
thề
cán
giúp
đỡ
tôi
thành
bộ,
hiệu,
Khoa
đắng
Y
Y
tế
tế
Phú
chất
cũng
như
tinh
thần
để
ơn
học cũng như hoàn thành luận văn.
Tôi
cũng
chuyến
xin
hóa
mầm
non
tỉnh
dinh
Gia
Hải
chân
dưỡng,
Viện
Xuyên,
trong
quá
sắc
đến
Khoa
Ban
Lộc
hóa
Giám
thuộc
trình
thu
hiệu
huyện
thập
sinh
Trường
học và luận văn này.
Thái Bình, ngày 12 tháng 10 năm 2014
Lương Tất Thắng
biết
động
ơn
sâu
viên,
chia
sẻ,
gia
giúp
đình,
đỡ
bạn
tôi
bè
hoàn
và
trong Luận văn đã được chi rõ nguồn gốc.
Học viên
Lương Tất Thắng
là
khoa
công
văn
học
trình
là
trung
nào
nghiên
thực
khác.
cứu
và
dẫn
HAZ
MGRS
NCHS
(Height-for-age Zscore)
Chiều cao theo tuổi
(Multicenter Growth Reference Study)
Trung tâm nghiên cứu tăng trưởng của
WHO
(National Center for Health Statistics)
Trung tâm thống kê y tể Hoa Kỳ
PTH
(Parathyroid hormone)
Hormone tuyến cận giáp
SD
(Standard deviation)
Độ lệch chuẩn
SDD
4.1.
4.2.
Một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD thấp còi cùa trẻ từ 12 đến 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Báng 3.18. Mối liên quan giữa SDD thấp còi với năng lượng
khấu phần của trẻ 47
Báng 3.19. Mối liên quan giữa tình trạng SDD thấp còi ớ trẻ với 1 số yếu tố
nguy cơ...........................................................................................
Báng 3.20. Mối liên quan giữa tình trạng thiếu vitamin D huyết thanh của trẻ
Biểu đồ 3.8. Mức độ thiếu vitamin D huyết thanh theo nhóm tuổi của trẻ .... 44
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ SDD thấp còi theo tình trạng vitamin D huyết thanh của trẻ ..
49
11
ĐẶT VÁN ĐÈ
Trước ngưỡng cửa thập kỷ thứ 2 của thế kỷ XXI, Việt Nam là một
trong những nước được đánh giá có mức tăng trướng kinh tế nhanh nhưng
cũng đang đối diện với nhiều thách thức. Tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng
nhỏ và trẻ vị thành niên, vì đó là giai đoạn phát triển nhanh về hệ xương và
thề chất nói chung [55]. Việt nam là một nước nhiệt đới nhưng tỷ lệ thiếu
Vitamin D khá cao so với các nước trong khu vực, chiếm 55,3% ở phụ nừ tuổi
sinh đẻ 15- 49 tuối [9] và 23,6% ở trẻ 1-6 tháng tuổi [8], Cho đến nay, chưa
có nghiên cứu nào công bố về tỷ lệ thiếu vitamin D ờ trẻ 1 2 -3 6 tháng tuổi ở
cộng đồng.
Với những lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng dinh
dưỡng, thiếu Vitamin D và một sổ yếu to liên quan ở trẻ tù' 12 đến 36 tháng
tuổi tại một số trường mầm non thuộc tinh Hải Dương” với các mục tiêu
nghicn cứu như sau:
1. Mô tá thực trạng dinh dưỡng và tý lệ thiếu vitamin D của trẻ từ 12
đến 36 tháng tuổi tại 2 trường mầm non thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh
Hái Dương năm 2014.
Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD thấp còi
và
thực trạng thiếu Vitamin D ở đối tượng nghiên cứu.
Chương 1
TỎNG QUAN
1.1. Tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan
ì. 1.1. Khái quát các giai đoạn phát triển của trẻ và đặc điếm sinh học cư
bản của trẻ từ 12 đến 36 tháng tuổi.
1.1.1.
ỉ. Các giai đoạn phát triển và tăng trưởng
của trẻ em
Khái niệm về sự tăng trướng
Tốc độ tăng trưởng nhanh, nhu cầu dinh dưỡng cao, quá trình đồng
Trẻ bú mẹ (Infant): 1 đến 23 tháng
Trẻ tiền học đường (Preschool child): 2 đến 5 tuối
Trẻ em nhi đồng (Child): 6 đến 12 tuổi
Trẻ vị thành niên (Adolescent): 13 đen 18 tuổi
ỉ. 1.1.2. Đặc điếm sinh học cơ bản của trẻ từ 12 đến 36 thảng tuổi [20]
hóa mạnh hơn quá trình dị hóa.
-
Chức năng các bộ phận phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện đặc
biệt là chức năng tiêu hóa, tình trạng miền dịch thụ động (IgG từ mẹ truyền
sang giảm nhanh trong khi khá năng tạo Globulin miền dịch còn yếu).
- về đặc điếm bệnh lý thời kỳ này hay gặp là các bệnh dinh dưỡng và
chuyền hóa (suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương, tiêu chây cấp) và các
bệnh nhiễm khuấn mắc phải (viêm phồi, viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm
màng não mú.
1.1.2.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em
1.1.2.
ỉ. Các khái niệm
40
SDD thể gầy còm
15
Theo đó SDD thấp còi ở Việt Nam hiện ờ mức cao (29,3%)
Béo phì:
Là tình trạng tích lũy thái quá và không bình thường của lipid trong các
tổ chức mỡ tới mức có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Phân biệt với “Thừa cân” là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng
“nên có” so với chiều cao trong khi ubẻo phì” là khi lượng mỡ tăng không
bình thường một cách cục bộ hay toàn thể.
1.1.2.2.
Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em
Chiều cao theo tuổi: Phản ánh tiền sử dinh dưỡng. Chiều cao theo tuổi
thấp phán ánh tình trạng dinh dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ làm cho trẻ
bị còi (stunting). Chỉ số này đã được khuyến cáo sử dụng của WHO đế phát
hiện trẻ "thấp còi". Tý lệ thấp còi cao nhất là từ 2 đen 3 tuổi, tỷ lệ hiện mắc cúa
thấp còi phồ biến hơn tỷ lệ hiện mắc cùa nhẹ cân ở mọi nơi trên thế giới [68].
Cân nặng theo chiều cao: Là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dường hiện
tại. Chỉ số này phản ánh tình trạng SDD cấp hay còn gọi là “wasting”. Khi chi
Số này dưới - 2 độ lệch chuẩn so với quần thể tham khảo được định nghĩa là
gầy còm, hay SDD cấp tính. Tỷ lệ gầy còm được quan sát rõ nhất khi xảy ra
các nạn đói, mất mùa hoặc những bệnh nặng [67], Có nhiều thang phân loại
SDD như sau:
1.1.2.3. Phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em theo Tố chức Y tế thế giới
Hầu hết các số đo nhân trắc của tất cả các nhóm người dân tộc khác
nhau đều tuân theo quy luật phân phối bình thường Gaussian. Giới hạn
thường được sử dụng nhất là từ -2 đến +2 độ lệch chuần (SD). Vào thập kỷ
70, WHO đã khuyến nghị sử dụng quần thể tham kháo cúa NCHS (National
Center for Health Statistic) của Hoa Kỳ để phân loại SDD, đây là cách phân
loại đon giản cho phép đánh giá nhanh các mức độ SDD và có thể áp dụng
rộng rãi trong cộng đồng. Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng quần thể tham
khảo NCHS không thích hợp cho những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ và có
những sai lệch nhất định nên từ năm 2005 WHO đưa ra “chuẩn tăng trướng
mới ở trẻ em” và đề nghị áp dụng trên toàn thể giới [31]. WHO đề nghị lấy
điếm ngưỡng < 2 độ lệch chuẩn (< -2SD) so với quần the WHO 2005 đế đánh
giá trẻ bị SDD.
Dựa vào Z- Score, tính theo công thức [73]:
Kích thước đo được - so trung bình của quần thồ tham chiếu
SDD là Châu Mỹ La tinh và Đông Á Thái Bình Dương với tỷ lệ SDD là 7%
và 15%; tuy nhiên ở đây có sự chênh lệch giữa các cộng đồng dân cư, trẻ
SDD chủ yếu ở các cộng đồng nghèo và ở nhóm dân tộc thiểu số [67], Tại các
quốc gia đang phát triển trung bình chì giảm 5% trong 15 năm qua. Gần % trẻ
em thiếu cân trên toàn thế giới đang sống ở 10 quốc gia và hơn một nửa số đó
ở 3 nước: Bangladesh (48%), Ấn độ (43%), Pakixtan (38%) [68]. Đối với khu
vực Đông Nam Á, các nước có tỷ lệ SDD cao và không có khả năng đạt được
mục tiêu phát triển thiên niên kỷ bao gồm: Lào (40%), Campuchia (36%),
Myanmar (32%) và Đông Timor (46%). Các nước đã đạt được tiến bộ tronggiảm
SDD cấp độ quốc gia song một bộ phận dân cư vần phải đối mặt với
điều kiện chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng kém là Indonesia (28%),
Philippine (28%) và Việt Nam (21%) [68].
Thừa cân héo phì
Trong nhũng năm gần đây, thừa cân béo phì đang trở thành một vấn đề
sức khỏe cộng đồng ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Béo phì đă trở thành
đại dịch toàn cầu, tỉ lệ thừa cân ở trẻ em đã tăng lên một cách đáng báo động
ở hầu hết các quốc gia. Thừa cân, béo phì đã tăng hon đáng kể ở các nước
phát triển và trong các quần thể đô thị hóa. Tý lệ này càng tăng cao ớ trẻ em
và người lớn, tỷ lệ béo phì của nữ nhiều hơn nam [59].
Theo số liệu của Tồ Chức Y tế Thế giới, năm 2000, có khoảng 17,6
triệu trẻ em dưới 5 tuối bị thừa cân, béo phì, trẻ 6-17 tuồi có khoảng 155 triệu
bị thừa cân và có khoảng 30-45 triệu trẻ em béo phì. Trong năm 2010 số trẻ
em thừa cân dưới năm tuổi ước tính là hon 42 triệu, gần 35 triệu trong số này
đang sống ở các nước đang phát triển [70],
Mức độ béo phì trẻ em đang gia tăng ở mức độ đáng báo động tại một số
SDD vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam. Theo
kết quả điều tra về tình trạng dinh dưỡng cùa trẻ em, tỉ lộ trẻ em SDD thể nhẹ
cân ở Việt Nam tuy đã giảm nhưng vần ở mức cao, năm 2009 là 19%, năm
2010 là 17,5% đối với thố nhẹ cân, tuy nhicn tỷ lộ SDD thấp còi chung toàn
quốc vần ở mức 30% năm 2009 và 29,3% năm 2010.
Phân bố SDD theo khu vực: Phân bố SDD ở nước ta không đồng đều
giữa các vùng sinh thái, nhiều địa phương miền núi tỷ lệ SDD cao hơn hắn
vùng đồng bằng. Trong khu vực đồng bằng thì tỷ lệ SDD nông thôn cũng cao
hơn ở thành thị. Tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Nguyên (24,7% với SDD nhẹ cân
và 35,2% với SDD thấp còi). Ở vùng Đông Nam Bộ tỷ lệ SDD thấp hơn so
với các vùng khác (10,7% với SDD nhẹ cân và 19,2% với SDD thấp còi),
thấp nhất trong các vùng sinh thái của cả nước. Riêng tỷ lệ SDD thấp còi caonhất
ớ vùng Tây Nguyên (35,2%), Trung du và miền núi phía Bắc (33,7%),
thấp nhất ở vùng đồng bằng Sông Hồng (25,5%) và vùng Đông Nam Bộ
(19,2%) [2], SDD cũng có liên quan mật thiết với tinh trạng kinh tế, xã hội
của người dân. Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở vùng nông thôn (17,9%) cao
hon vùng thành thị (14,1%) và vùng nghèo (27%) cao hơn so với vùng bình
thường (14%). Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn
(28,9%) cao hơn vùng thành thị (19,1%) và vùng nghèo (35,7%) cao hơn so
với vùng không nghèo (25.6%) [21],
Phân bố SDD theo nhóm tuổi: Tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi
là thấp nhất đối với cả 3 thể (nhẹ cân, thấp còi và gầy còm), sau đó SDD tăng
dần. Thời kỳ trẻ 6-24 tháng, là thời kỳ trẻ có nguy cơ bị SDD cao nhất. SDD
thể nhẹ cân tăng nhanh trong năm đầu tiên, tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và
đạt tý lệ cao nhất lúc trẻ được 3 6 -4 1 tháng tuối. SDD thấp còi xuất hiện sớm
ngay trong 6 tháng tuổi đầu tiên, tăng nhanh từ tháng 6 đến 23 tháng và gần
như đi ngang, thậm chí giám đi vào 54 - 59 tháng tuổi [21].