1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LỘC
Đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng theo phương pháp tổng thể chủ quan
(SGA) và một số yếu tố liên quan ở trẻ viêm phế quản phổi tại khoa Nội Nhi,
bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc năm 2014 - 2015”
Chuyên ngành : Dinh dưỡng
Mã số
: 60720303
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) cấp tính là một bệnh thường hay gặp ở
trẻ nhỏ. Trong cộng đồng hàng năm trung bình tần suất mắc NKHH cấp tính
của mỗi trẻ từ 4 - 5 lần. Tử vong do viêm phổi, viêm phế quản phổi ở trẻ dưới
5 tuổi chiếm 1/3 trong tổng số các nguyên nhân tử vong. Trẻ dưới 5 tuổi mắc
bệnh cao nhất là ở Đông nam châu Á với tỷ lệ là 0,36 đợt/trẻ/năm còn nơi trẻ
Vĩnh Phúc còn cao. Đúng trước yêu cầu đó, tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã có các chiến
lược để giảm tỷ lệ SDD của trẻ em. Do đó, chúng tôi tiến hành đánh giá TTDD
của trẻ bệnh tại bệnh viện Sản Nhi tỉnh Vĩnh Phúc để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng
tới TTDD của trẻ để từ đó có các giải pháp giảm tỷ lệ SDD bệnh viện cũng như ở
cộng đồng.
Hiện nay có rất nhiều cách để đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của
trẻ khi nằm viện như phương pháp nhân trắc, phương pháp đo vòng cánh tay,
phương pháp sinh hóa và phương pháp SGA. Năm 2006, một nghiên cứu tại
bệnh viện “ cho trẻ bệnh” tại Toronto, Canada cho thấy: SGA là công cụ đánh
giá TTDD cho trẻ em phù hợp, giúp tiên lượng được các nguy cơ biến chứng và
thời gian nằm viện của bệnh nhi [6]. Tuy nhiên, SGA mới chỉ áp dụng phổ biến
sàng lọc nguy cơ SDD cho các bệnh nhân sau phẫu thuật, bệnh nhân ung thư,
bệnh nhân suy thận và tập trung chủ yếu ở người lớn, các số lượng nghiên cứu ở
trẻ em còn ít và hạn chế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá nguy
cơ suy dinh dưỡng theo phương pháp tổng thể chủ quan (SGA) và một số yếu
tố liên quan ở trẻ viêm phế quản phổi tại khoa Nội Nhi, bệnh viện Sản Nhi
Vĩnh Phúc năm 2014 - 2015” với hai mục tiêu:
4
1.
Đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng của trẻ viêm phổi tại khoa Nội
Nhi, bệnh viện Sản Nhi tỉnh Vĩnh Phúc.
2.
Mô tả một số yếu tố liên quan đến nguy cơ suy dinh dưỡng của trẻ bị
viêm phổi tại khoa Nội Nhi, bệnh viện Sản Nhi tỉnh Vĩnh Phúc.
6
(tương thích ở tuyến ức) có vai trò quan trọng trong miễn dịch qua trung gian
tế bào và các lympho bào B (tương thích ở tuỷ xương) chịu trách nhiệm về
miễn dịch dịch thể nghĩa là tạo ra các kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên
tấn công cơ thể. Người ta nhận thấy ở các trẻ em SDD đặc biệt là
Kwashiorkor, số lượng lympho T luân chuyển giảm sút và quá trình tương
thích của chúng bị rối loạn [8].
- Ảnh hưởng của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tới tình trạng dinh dưỡng:
Theo Tomkins và Watson thì SDD và các bệnh nhiễm trùng là nguyên
nhân chính của vấn đề sức khỏe tại cộng đồng. Trẻ bị các bệnh tiêu chảy kéo
dài, viêm phổi, ho gà, lao, sởi ảnh hưởng đến sự phát triển làm giảm miễn
dịch, giảm khả năng chống đỡ lại vi khuẩn, giảm cân nặng dễ bị SDD và SDD
kéo dài dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn, dễ dàng chuyển thành nặng dẫn tới tử
vong. Tuy vẫn còn các tranh luận về mối liên quan giữa thiếu dinh dưỡng với
tỷ lệ mắc mới các bệnh NKHH cấp và tiêu chảy nhưng không mấy ai còn nghi
ngờ về mối liên quan giữa chậm tăng trưởng và mức độ nặng của NKHH cấp
và tiêu chảy [9], [10], [11].
Việc cho ăn bổ sung quá sớm trong quá trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp
tính cũng được đề cập trong một nghiên cứu của Lagrutta và Castillo. Để xác
định xem việc cho trẻ ăn có cải thiện được tình trạng lâm sàng của trẻ NKHH
cấp tính đường hô hấp dưới không, các tác giả đã nghiên cứu 42 trẻ em nằm
viện do viêm phổi. Kết quả cho thấy trẻ được nuôi dưỡng tốt có thời gian nằm
viện ngắn hơn và các chỉ số suy hô hấp được cải thiện nhanh hơn có ý nghĩa
thống kê [12].
Như vậy SDD và giảm khả năng miễm dịch đều có liên quan với tỷ lệ
nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính đường hô hấp ở trẻ dưới 5 tuổi. Tác giả rút ra
kết luận là việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng và khả năng miễn dịch có thể
bệnh này làm tăng nhu cầu năng lượng, giảm ngon miệng và hấp thu. Tình
trạng phổ biến của suy dinh dưỡng liên quan chặt chẽ với tình trạng kinh tế xã
hội, sự nghèo đói, sự kém hiểu biết, trình độ học vấn thấp, thiếu an ninh thực
8
phẩm, vệ sinh kém và sự lưu hành của các bệnh nhiễm khuẩn. Các nguyên nhân này
thường đa dạng và đan xen phức tạp, đặc biệt là ở các cộng đồng nghèo [8].
Suy dinh dưỡng liên quan tới bệnh tật, thiếu khẩu phần ăn uống, nghèo đói
và do hiểu biết. Suy dinh dưỡng do bệnh tật xuất hiện khi khẩu phần dinh dưỡng
không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng do giảm khẩu phần, tăng nhu cầu dinh
dưỡng và do rối loạn hấp thu và sử dụng các chất dinh dưỡng trong cơ thể.
Giảm khẩu phần khi thực
phẩm sẵn có:
Giảm khẩu phần khi thiếu thực
phẩm,chất lượng thực phẩm thấp,
thực phẩm không sẵn có:
Chán ăn vì bệnh tật, do triệu
chứng của bệnh tật (ví dụ:
nôn), do điều trị, lo lắng
hoặc chán nản.
Khó đưa thức ăn vào miệng
(yếu cơ, rung cơ-Parkinson),
đau miệng.
Khó nhai (thiếu răng), kém
về vị giác (thay đổi vị giác
khi hoá trị liệu), khó nuốt
năng lượng cơ bản và
nhu cầu các chất dinh
dưỡng khác.
Rối loạn hấp thu và
mất các chất dinh
dưỡng do bệnh tật
hoặc do điều trị bằng
thuốc.
Thiếu khẩu phần
để thoả mãn nhu
cầu dinh dưỡng
Không quan tâm tới dinh
dưỡng và những số liệu
về dinh dưỡng.
Không có thông tin đầy
đủ cho cán bộ tiết chế
dinh dưỡng.
Thiếu hiểu biết, thiếu tập
huấn cho bác sỹ, điều
dưỡng về dinh dưỡng.
Thiếu các nguồn lực hoặc
không có hoạt động dinh
dưỡng trong bệnh viện.
Suy dinh dưỡng
Hình 1.1: Mô hình nguyên nhân gây suy dinh dưỡng bệnh viện
Nguồn: Sylvia Escott-Stump. Food and Nutrition & Diet Theraphy [13]
vong ở trẻ em [14].
- Chậm phát triển thể chất: Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân trực tiếp
làm cho tất cả các hệ cơ quan của cơ thể giảm phát triển, bao gồm của cả hệ
cơ xương, nhất là khi tình trạng thiếu dinh dưỡng diễn ra sớm như suy dinh
10
dưỡng trong giai đoạn bào thai và giai đoạn sớm trước khi trẻ được 2 tuổi.
Nếu tình trạng suy dinh dưỡng kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ
sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn. Chiều cao của trẻ được quy định bởi di
truyền, nhưng dinh dưỡng chính là điều kiện cần thiết để trẻ đạt tối đa tiềm
năng di truyền của mình.
- Chậm phát triển tâm thần: Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự phát
triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ dưới 6 tuổi. Trẻ bị thiếu dinh
dưỡng thường là thiếu đồng bộ nhiều chất trong đó có những chất tối cần thiết
cho sự phát triển não và trí tuệ của trẻ như chất béo, chất đường, sắt, iốt,
DHA, Taurine... Trẻ bị suy dinh dưỡng cũng thường chậm chạp lờ đờ dẫn đến
giao tiếp xã hội thường kém, kéo theo sự giảm học hỏi, tiếp thu.
- Nguy cơ về mặt xã hội:
+ Tầm vóc của dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng suy dinh
dưỡng không được cải thiện qua nhiều thế hệ.
+ Khả năng lao động về thể lực cũng như về trí lực của những người
suy dinh dưỡng trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức
tối ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn với những nước đang phát triển có nhu
cầu về nguồn nhân lực rất cao.
+ Nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và
thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản.
1.3. Suy dinh dưỡng trong bệnh viện và các yếu tố liên quan
1.3.1. Tình hình SDD trên thế giới và ở Việt Nam
nghĩa thống kê (p < 0,042) [7]. Theo Beheshti Maryam MSc và cộng sự
nghiên cứu 61 trẻ tại khoa thần kinh bệnh viện Mofid Tehran từ tháng 1 đến
tháng 3 năm 2008 cho kết quả 52,7% trẻ bị suy dinh dưỡng theo bộ công cụ
SGNA [23].
Năm 2010, Jessie M.Hulst và cộng sự đã nghiên cứu và thấy trong 424
trẻ ở 44 bệnh viện ở Hà Lan có 62% trẻ có nguy cơ suy dinh dưỡng theo bộ
công cụ Strongkids [24].
12
Năm 2013, một nghiên cứu đa trung tâm đã thực hiện ở 12 bệnh viện ở
Ý, trong 144 trẻ (tuổi trung bình là 6,5 ± 4,5 năm), kết quả là 46 (32%) trẻ có
nguy cơ thấp, 76 (53%) trẻ có nguy cơ trung bình và 22 (15%) trẻ có nguy cơ
cao suy dinh dưỡng [25].
SDD làm tăng nguy cơ các biến chứng như nhiễm khuẩn, viêm phổi,
chậm liền sẹo sau phẫu thuật, suy hô hấp. Detsky AS nghiên cứu 202 bệnh
nhân phẫu thuật đường tiêu hóa ở bệnh viện thực hành Toronto cho thấy
10% bị biến chứng liên quan đến dinh dưỡng, nghiên cứu của Detsky AS cho
thấy tỷ lệ biến chứng ở bệnh nhân SDD nặng là 67% [26].
SDD làm tăng biến chứng, làm kéo dài thời gian nằm viện do đó làm
tăng chi phí điều trị [7]. Giảm được tỷ lệ SDD sẽ tiết kiệm được một số lượng
lớn tiền cho các quốc gia nói riêng và toàn cầu nói chung. Để làm được điều
đó cần làm hạn chế sự gia tăng của SDD bệnh viện.
1.3.1.2. Tình hình SDD tại Việt Nam
Tại Việt Nam vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tỷ lệ SDD là trên 50%.
Từ năm 2000 tới năm 2013 tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em đã giảm đi
đáng kể. Việt Nam được coi là một quốc gia duy nhất trong khu vực đạt tốc
độ giảm SDD nhanh theo tiến độ WHO và UNICEF. Đặc biệt là thể nhẹ
cân giảm từ 33,8% vào năm 2000 xuống còn 15,3% vào năm 2013.
SDD làm tăng nguy cơ các biến chứng như nhiễm khuẩn, viêm phổi,
chậm liền sẹo sau phẫu thuật, suy hô hấp. Detsky AS 202 bệnh nhân phẫu
thuật đường tiêu hóa ở bệnh viện thực hành Toronto cho thấy 10% bị biến
chứng liên quan đến dinh dưỡng, nghiên cứu của Detsky AS cho thấy tỷ lệ
biến chứng ở bệnh nhân SDD nặng là 67%. SDD liên quan chặt chẽ với thời
gian nằm viện. Thời gian nằm viện càng kéo dài thì tỷ lệ suy dinh dưỡng càng
cao [26].
Theo nghiên cứu của Kenneth EC (2002) suy dinh dưỡng làm tăng biến
chứng, làm kéo dài thời gian nằm viện do đó làm tăng chi phí điều trị [32].
1.3.2. Các yếu tố liên quan
1.3.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em như:
* Chăm sóc bà mẹ khi có thai và cho con bú.
Khi mang thai, dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp
đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ mang thai, cho sự lớn lên
và phát triển của thai nhi. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố nguy
cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấp trước tiên là tình trạng dinh dưỡng
kém của bà mẹ trước khi mang thai và chế độ ăn không cân đối, không đủ
năng lượng khi có thai hoặc thiếu các vi chất cần thiết như khoáng chất,
canxi, sắt… Những bà mẹ trong khi có thai lao động nặng nhọc, không
được nghỉ ngơi đầy đủ cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới cân nặng của
trẻ sơ sinh. Yếu tố bệnh tật của người mẹ và đẻ thiếu tháng cũng làm tăng
tỷ lệ trẻ sơ sinh có cân nặng thấp [33].
15
* Thực hành nuôi dưỡng trẻ:
Chế độ ăn của trẻ đóng vai trò quan trọng đối với tình trạng dinh dưỡng
của trẻ, phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức và sự hiểu biết của bà mẹ về dinh
là thời kỳ hệ thần kinh và các cơ quan đã phát triển khá đầy đủ nhờ đó mà trẻ
có thể nhai, cắn được. Nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra rằng sữa mẹ chỉ
cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ trong 6
tháng đầu. Do vậy, trẻ cần phải ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ để
phát triển, lúc này một chế độ ăn bổ sung hợp lý là vô cùng cần thiết. Ăn bổ
sung được coi là hợp lý khi trẻ ăn được các loại thức ăn cung cấp đủ năng
lượng (có thể ước tính qua số bữa ăn trong ngày kết hợp với số lượng ăn trong
mỗi bữa) và đủ chất dinh dưỡng (thể hiện bằng sự kết hợp đúng, đủ các nhóm
thực phẩm bổ sung cho trẻ). Để đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng của trẻ cần
cho trẻ ăn đủ số bữa với số lượng thích hợp.
* Thời gian nằm viện:
Thời gian nằm viện kéo dài làm ảnh hưởng tới chăm sóc dinh dưỡng
cho trẻ. Việc dùng kháng sinh kéo dài cũng làm ảnh hưởng tới khả năng hấp
thu và chuyển hóa dinh dưỡng của trẻ.
1.3.2.2. Một số yếu tố khác
Ngoài ra còn một số yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ
như cơ cấu kinh tế xã hội, đường lối chính sách của mỗi quốc gia, thu nhập
của gia đình, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, yếu tố dân tộc của bà mẹ, số trẻ
trong một gia đình, yếu tố môi trường đặc biệt là tình trạng bệnh tật của trẻ.
Tiêu chảy cấp và NKHH cấp tính là các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp
ở trẻ em. Khi trẻ bị bệnh cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng, các chất dinh
17
dưỡng, cảm giác thèm ăn giảm, tiêu hóa và hấp thu thức ăn kém, khả năng
cung cấp các chất dinh dưỡng giảm các chất dinh dưỡng không còn đủ để đáp
ứng nhu cầu của cơ thể, do đó bệnh tật trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến SDD trẻ em. Nhiễm khuẩn dẫn đến SDD do rối loạn tiêu hóa và ngược lại
SDD dẫn đến nhiễm khuẩn do sức đề kháng giảm. Do vậy, tỷ lệ SDD thường
trạng thiếu dinh dưỡng ở thời kỳ hiện tại hay gần đây làm cho đứa trẻ không
tăng cân hay giảm cân.
Có nhiều tác giả đã nghiên cứu về cách phân loại SDD như Gomez
(1956) phân làm ba mức độ; Wellcome (1970) phân loại để phân biệt giữa
SDD thể phù và thể teo đét; Waterlow (1972) phân loại SDD thể thể gầy
còm và còi cọc. Hiện nay cách phân loại SDD theo chỉ số nhân trắc theo
WHO (2006).
Dựa vào quần thể tham chiếu NCHS để đánh giá tình trạng dinh dưỡng
của trẻ em là không còn phù hợp với thực tế. Vì vậy để đánh giá tình trạng
dinh dưỡng của trẻ em từ năm 2006 WHO đã đưa ra “chuẩn tăng trưởng mới
của trẻ em” và đề nghị áp dụng trên toàn thế giới. WHO đề nghị lấy ngưỡng
dưới 2 độ lệch chuẩn (< - 2SD) so với quần thể tham chiếu để đánh giá tình
trạng dinh dưỡng. Dựa vào Z - Score theo công thức sau:
Chỉ số đo được - số trung bình của quần thể chuẩn
Z-Score
=
Độ lệch chuẩn của quần thể chuẩn
19
Khi CN/T Z – Score ≤ - 2SD, SDD thể nhẹ cân.
Khi CC/T Z – Score ≤ - 2SD, SDD thể thấp còi.
Khi CN/CC Z – Score ≤ - 2SD, SDD thể gầy còm [39].
1.4.2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng công cụ subjective global
assessment (SGA)
1.4.2.1. Định nghĩa
SGA là viết tắt của: S (subjective) có nghĩa là chủ quan, G (global) có
nghĩa là tổng thể, A (assessment) có nghĩa là đánh giá, là một phương
năm nay. Ban đầu áp dụng ở người trưởng thành như ở bệnh viện Chợ Rẫy,
năm 2007 của Lưu Ngân Tâm và cs [43], nghiên cứu của Nguyễn Đức Vinh,
Nguyễn Đỗ Huy và cs tại bệnh viện đa khoa Hải Dương [29], ở bệnh viện Nhi
trung ương của Tô Thị Huyền năm 2012 [30].
1.4.2.3. Phương pháp đánh giá bằng công cụ SGA.
SGA là phương pháp đánh giá tổng thể đối tượng một cách chủ quan
dựa vào bộ công cụ đã được xây dựng sẵn theo các tiêu chí sau:
1. Thay đổi cân nặng (6 tháng qua, 3 tháng qua, 2 tuần)
- Là sự thay đổi cân nặng của trẻ tại thời điểm hiện tại so với cân nặng
của trẻ trước đó 2 tuần, 3 tháng và 6 tháng.
- Hỏi mẹ trẻ hoặc người chăm sóc trẻ có thấy trẻ sụt cân không? Mức
độ sụt cân như thế nào?
* Đối với trẻ từ 6 tháng đến 1 tuổi là giai đoạn trẻ đang tăng nhanh về
cân nặng thì hỏi:
- Trong 3 tháng qua trẻ có tăng cân không? Tăng như thế nào?
21
- Nếu không tăng cân, đứa trẻ giữ cân hay sụt cân trong vòng 3 tháng
qua? trong 2 tuần qua?
* Đối với trẻ trên 1 tuổi :
- Hỏi trong 6 tháng qua trẻ có tăng cân không? Tăng như thế nào?
- Nếu không tăng cân, đứa trẻ giữa cân hay sụt cân trong vòng 6 tháng
qua, 2 tuần qua.
2. Thay đổi về khẩu phần ăn
- Ghi lại thay đổi chế độ ăn và tìm ra thay đổi trong chế độ ăn và thời
gian thay đổi.
- Sự thay đổi chế độ ăn rõ rệt bệnh nhân có khả năng suy dinh dưỡng.
- Chế độ ăn dưới mức chuẩn: Là tiêu thụ các loại thực phẩm có số
cần ghi lại chẩn đoán bệnh của trẻ lúc nhập viện.
6. Dấu hiệu thực thể
a. Giảm lớp mỡ dưới da (vùng cơ tam đầu, cơ nhị đầu, nếp gấp da mạn
sườn…).
b. Giảm khối cơ (cơ delta, cơ tứ đầu đùi)
c. Phù (do dinh dưỡng)
+ Vị trí: Mặt trước xương chày, mu bàn chân.
Phương pháp SGA không tính bằng điểm số. Điểm nguy cơ SDD tổng
thể không dựa vào mối nguy cơ riêng lẻ. Hầu hết dựa vào các dấu hiệu: sụt
cân, khẩu phần ăn, giảm khối cơ, giảm dự trữ mỡ.
23
Phân loại theo
Tiêu chuẩn gợi ý đánh giá
SGA
- Cân nặng bình thường hoặc gần đây tăng cân trở lại.
SGA A
Không có nguy cơ
- Khẩu phần ăn bình thường hoặc cải thiện khẩu phần ăn.
- Mất lớp mỡ dưới da tối thiểu hoặc không mất.
- Không giảm khối cơ hoặc giảm tối thiếu.
- Sụt cân tổng thể so với trước khi đến viện (5 - 10%).
SGA B
pháp SGA nhận thấy tỷ lệ SDD theo SGA là 70,7% cao hơn chỉ số nhân trắc
là 48,5% với p< 0,001. Các tác giả đưa đến kết luận là SGA là công cụ nhạy
để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em và xác định những trẻ có nguy cơ
tiến triển thành SDD [44].
Nghiên cứu của Spagnuolo năm 2013 trên 144 trẻ nhập viện ở Ý cũng
thấy SGA xác định nguy cơ SDD tốt hơn các phương pháp truyền thống [25].
Nghiên cứu của bệnh viện Nhi trung ương năm 2010 bằng phương
pháp SGA cho thấy tỷ lệ SDD của trẻ nằm viện là 42,1% trong khi SDD theo
chỉ số nhân trắc với thể nhẹ cân là 18,2%, thể gầy còm là 18,1%, thể còi cọc
là 22,5% [45]. Nghiên cứu của bệnh viện Nhi Đồng 1 cho thấy tỷ lệ suy dinh
dưỡng theo SGA của trẻ em nhập viện là 17,46% và tỷ lệ sụt cân trong thời
gian nằm viện là 28% [28]. Theo tác giả Nguyễn Thuý Hồng và CS năm 2011
về tỷ lệ SDD của trẻ dưới 5 tuổi tại khoa hô hấp bệnh viện Nhi trung ương
năm 2010 cho thấy kết quả là 35% [46]. Một nghiên cứu khác ở Nhi trung
ương năm 2012 theo phương pháp SGA thì tỷ lệ SDD và nguy cơ SDD là
60% [30].
1.5. Khung lý thuyết về mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và viêm phế
quản phổi
Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ viêm phổi có thể tiến hành ở
các thời điểm sau:
- Đánh giá tại cộng đồng: Trước khi trẻ bị viêm phế quản phổi
- Đánh giá tại bệnh viện: Khi trẻ bị viêm phế quản phổi
Từ kết quả đánh giá chúng ta mới đưa ra được các giải pháp để cải
thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ để hạn chế tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ.
25
Các tác nhân gây bệnh: Vi khuẩn, vi rus, …
Yếu tố thuận lợi: SDD, nghèo đói, …
Hình 1.3: Mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và viêm phế quản phổi