Đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng theo phương pháp tổng thể chủ quan (SGA) và một số yếu tố liên quan ở trẻ viêm phế quản phổi tại Khoa nội nhi Bệnh viện Sản nhi - Pdf 40

1

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

NGUYN TH LC

Đánh giá nguy cơ suy dinh dỡng theo phơng pháp
tổng thể chủ quan (SGA) và một số yếu tố liên quan
ở trẻ viêm phế quản phổi tại khoa Nội Nhi,
bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc năm 2014 - 2015

LUN VN THC S Y HC

H NI, 2015


2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) cấp tính là một bệnh thường hay gặp ở
trẻ nhỏ. Trong cộng đồng hàng năm trung bình tần suất mắc NKHH cấp tính
của mỗi trẻ từ 4 - 5 lần. Tử vong do viêm phổi, viêm phế quản phổi ở trẻ dưới
5 tuổi chiếm 1/3 trong tổng số các nguyên nhân tử vong. Trẻ dưới 5 tuổi mắc
bệnh cao nhất là ở Đông nam châu Á với tỷ lệ là 0,36 đợt/trẻ/năm còn nơi trẻ
mắc viêm phổi thấp nhất là châu Âu với tỷ lệ tương ứng là 0,06 đợt/trẻ/năm.
Nếu xếp thứ tự và chọn ra 15 nước trên thế giới có số trẻ mắc NKHH hàng

ì
ăng gấp 2 lần so với tốc độ ăng ung
b nh của cả nước. Cùng với
phát
triển

Vùng

thì vấn đề
chăm sóc sức khỏe cũng nhận được sự quan tâm
tỉnh.s h tếVĩnh
Phú
củacủa
c làVĩn
một t nh bao gồm cả đồng
bằng,trtrung du và miền núi, tỉ
ệ SDD
.



nên tỷ l

ó các chiến lược
Phúc còn
giá hTTDD
của cao Đúng ước yêu cầu đó

.
,

đánh giá TTDD cho trẻ em phù hợp, giúp tiên lượng được các nguy cơ biến
chứng và thời gian nằm viện của bệnh nhi [6]. Tuy nhiên, SGA mới chỉ áp
dụng phổ biến sàng lọc nguy cơ SDD cho các bệnh nhân sau phẫu thuật, bệnh
nhân ung thư, bệnh nhân suy thận và tập trung chủ yếu ở người lớn, các số
lượng nghiên cứu ở trẻ em còn ít và hạn chế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “Đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng theo phương pháp tổng thể chủ quan
(SGA) và một số yếu tố liên quan ở trẻ viêm phế quản phổi tại khoa Nội Nhi,
bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc năm 2014 - 2015” với hai mục tiêu:


4

1.

Đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng của trẻ viêm phổi tại khoa Nội
Nhi, bệnh viện Sản Nhi tỉnh Vĩnh Phúc.

2.

Mô tả một số yếu tố liên quan đến nguy cơ suy dinh dưỡng của trẻ bị
viêm phổi tại khoa Nội Nhi, bệnh viện Sản Nhi tỉnh Vĩnh Phúc.


5

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Viêm phế quản phổi và suy dinh dưỡng
Viêm phế quản phổi là bệnh viêm các phế quản nhỏ, phế nang và các
tổ chức xung quanh phế nang rải rác 2 phổi làm rối loạn trao đổi khí, tắc

IgA. Người ta nhận thấy trẻ em suy dinh dưỡng tuyến ức giảm thể tích và có
biến đổi hình thái các mảng peyer ở ruột non cũng bị teo đét cùng với giảm
các nang lympho bào. Thiếu protein năng lượng hay gặp nhất ở trẻ em, bà mẹ
có thai, làm ảnh hưởng tới thai nhi. Chúng ta biết rằng các lympho bào T


6

(tương thích ở tuyến ức) có vai trò quan trọng trong miễn dịch qua trung gian
tế bào và các lympho bào B (tương thích ở tuỷ xương) chịu trách nhiệm về
miễn dịch dịch thể nghĩa là tạo ra các kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên
tấn công cơ thể. Người ta nhận thấy ở các trẻ em SDD đặc biệt là
Kwashiorkor, số lượng lympho T luân chuyển giảm sút và quá trình tương
thích của chúng bị rối loạn [8].
- Ảnh hưởng của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tới tình trạng dinh dưỡng:
Theo Tomkins và Watson thì SDD và các bệnh nhiễm trùng là nguyên
nhân chính của vấn đề sức khỏe tại cộng đồng. Trẻ bị các bệnh tiêu chảy kéo
dài, viêm phổi, ho gà, lao, sởi ảnh hưởng đến sự phát triển làm giảm miễn
dịch, giảm khả năng chống đỡ lại vi khuẩn, giảm cân nặng dễ bị SDD và SDD
kéo dài dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn, dễ dàng chuyển thành nặng dẫn tới tử
vong. Tuy vẫn còn các tranh luận về mối liên quan giữa thiếu dinh dưỡng với
tỷ lệ mắc mới các bệnh NKHH cấp và tiêu chảy nhưng không mấy ai còn nghi
ngờ về mối liên quan giữa chậm tăng trưởng và mức độ nặng của NKHH cấp
và tiêu chảy [9], [10], [11].
Việc cho ăn bổ sung quá sớm trong quá trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp
tính cũng được đề cập trong một nghiên cứu của Lagrutta và Castillo. Để xác
định xem việc cho trẻ ăn có cải thiện được tình trạng lâm sàng của trẻ NKHH
cấp tính đường hô hấp dưới không, các tác giả đã nghiên cứu 42 trẻ em nằm
viện do viêm phổi. Kết quả cho thấy trẻ được nuôi dưỡng tốt có thời gian nằm
viện ngắn hơn và các chỉ số suy hô hấp được cải thiện nhanh hơn có ý nghĩa

cân bằng dinh dưỡng của cơ thể bị phá vỡ [8].
1.2.2. Nguyên nhân suy dinh dưỡng
- Do chế độ ăn thiếu về số lượng và chất lượng. Tình trạng nhiễm
khuẩn, đặc biệt là các bệnh đường ruột, sởi và viêm đường hô hấp cấp. Các
bệnh này làm tăng nhu cầu năng lượng, giảm ngon miệng và hấp thu. Tình
trạng phổ biến của suy dinh dưỡng liên quan chặt chẽ với tình trạng kinh tế xã
hội, sự nghèo đói, sự kém hiểu biết, trình độ học vấn thấp, thiếu an ninh thực


8

phẩm, vệ sinh kém và sự lưu hành của các bệnh nhiễm khuẩn. Các nguyên nhân
này
thường đa dạng và đan xen phức tạp, đặc biệt là ở các cộng đồng nghèo [8].
Suy dinh dưỡng liên quan tới bệnh tật, thiếu khẩu phần ăn uống, nghèo
đói và do hiểu biết. Suy dinh dưỡng do bệnh tật xuất hiện khi khẩu phần dinh
dưỡng không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng do giảm khẩu phần, tăng nhu
cầu dinh
dưỡng và do rối loạn hấp thu và sử dụng các chất dinh dưỡng trong cơ thể.
Giảm khẩu phần khi thực
phẩm sẵn có:

Giảm khẩu phần khi thiếu thực
phẩm,chất lượng thực phẩm thấp,
thực phẩm không sẵn có:

 Chán ăn vì bệnh tật, do triệu
chứng của bệnh tật (ví dụ:
nôn), do điều trị, lo lắng
hoặc chán nản.

về dinh dưỡng:

Tăng nhu cầu dinh
dưỡng:
 Bệnh tật/điều trị liên
quan tới tăng nhu cầu
năng lượng cơ bản và
nhu cầu các chất dinh
dưỡng khác.
 Rối loạn hấp thu và
mất các chất dinh
dưỡng do bệnh tật
hoặc do điều trị bằng
thuốc.

Thiếu khẩu phần
để thoả mãn nhu
cầu dinh dưỡng

 Không quan tâm tới dinh
dưỡng và những số liệu
về dinh dưỡng.
 Không có thông tin đầy
đủ cho cán bộ tiết chế
dinh dưỡng.
 Thiếu hiểu biết, thiếu tập
huấn cho bác sỹ, điều
dưỡng về dinh dưỡng.
 Thiếu các nguồn lực hoặc
không có hoạt động dinh

Hình 1.2: Vòng xoắn bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng [8]
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính có hơn 10,6 triệu trẻ dưới
5 tuổi chết mỗi năm. Trong đó, các bệnh lây nhiễm chiếm 54% số tử vong này
trong khi suy dinh dưỡng được coi là đóng góp cơ bản cho hơn 5 triệu ca tử
vong ở trẻ em [14].
- Chậm phát triển thể chất: Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân trực tiếp
làm cho tất cả các hệ cơ quan của cơ thể giảm phát triển, bao gồm của cả hệ
cơ xương, nhất là khi tình trạng thiếu dinh dưỡng diễn ra sớm như suy dinh


dưỡng trong giai đoạn bào thai và giai đoạn sớm trước khi trẻ được 2 tuổi.
Nếu tình trạng suy dinh dưỡng kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ
sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn. Chiều cao của trẻ được quy định bởi di
truyền, nhưng dinh dưỡng chính là điều kiện cần thiết để trẻ đạt tối đa tiềm
năng di truyền của mình.
- Chậm phát triển tâm thần: Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự phát
triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ dưới 6 tuổi. Trẻ bị thiếu dinh
dưỡng thường là thiếu đồng bộ nhiều chất trong đó có những chất tối cần thiết
cho sự phát triển não và trí tuệ của trẻ như chất béo, chất đường, sắt, iốt,
DHA, Taurine... Trẻ bị suy dinh dưỡng cũng thường chậm chạp lờ đờ dẫn đến
giao tiếp xã hội thường kém, kéo theo sự giảm học hỏi, tiếp thu.
- Nguy cơ về mặt xã hội:
+ Tầm vóc của dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng suy dinh
dưỡng không được cải thiện qua nhiều thế hệ.
+ Khả năng lao động về thể lực cũng như về trí lực của những người
suy dinh dưỡng trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức
tối ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn với những nước đang phát triển có nhu
cầu về nguồn nhân lực rất cao.
+ Nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và
thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản.

nhâở mức B và C theo phân loại SDD theo SGA [22].
Năm 2006, Donna J Secke r và cộng sự nghiên cứu trên 17 5 trẻ phẫu
thuật ngực và bụng, kết quả là thời gian nằm viện của những trẻ suy dinh
dưỡng dài hơn những trẻ không có nguy cơ suy dinh dưỡng, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p < 0,042) [7]. Theo Beheshti Maryam MSc và cộng sự
nghiên cứu 61 trẻ tại khoa thần kinh bệnh viện Mofid Tehran từ tháng 1 đến
tháng 3 năm 2008 cho kết quả 52,7% trẻ bị suy dinh dưỡng theo bộ công cụ
SGNA [23].
Năm 2010, Jessie M.Hulst và cộng sự đã nghiên cứu và thấy trong 424
trẻ ở 44 bệnh viện ở Hà Lan có 62% trẻ có nguy cơ suy dinh dưỡng theo bộ
công cụ Strongkids [24].


Năm 2013, một nghiên cứu đa trung tâm đã thực hiện ở 12 bệnh viện ở
Ý, trong 144 trẻ (tuổi trung bình là 6,5 ± 4,5 năm), kết quả là 46 (32%) trẻ có
nguy cơ thấp, 76 (53%) trẻ có nguy cơ trung bình và 22 (15%) trẻ có nguy cơ
cao suy dinh dưỡng [25].
SDD làm tăng nguy cơ các biến chứng như nhiễm khuẩn, viêm phổi,
chậm liền sẹo sau phẫu thuật, suy hô hấp. Detsky AS nghiên cứu 202 bệnh
nhân phẫu thuật đường tiêu hóa ở bệnh viện thực hành Toronto cho thấy
10% bị biến chứng liên quan đến dinh dưỡng, nghiên cứu của Detsky AS cho
thấy tỷ lệ biến chứng ở bệnh nhân SDD nặng là 67% [26].
SDD làm tăng biến chứng, làm kéo dài thời gian nằm viện do đó làm
tăng chi phí điều trị [7]. Giảm được tỷ lệ SDD sẽ tiết kiệm được một số lượng
lớn tiền cho các quốc gia nói riêng và toàn cầu nói chung. Để làm được điều
đó cần làm hạn chế sự gia tăng của SDD bệnh viện.
1.3.1.2. Tình hình SDD tại Việt Nam
Tại Việt Nam vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tỷ lệ SDD là trên 50%.
Từ năm 2000 tới năm 2013 tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em đã giảm đi
đáng kể. Việt Nam được coi là một quốc gia duy nhất trong khu vực đạt tốc


Theo báo cáo của bệnh viện đa khoa KomTum năm 2007 có 44,6% suy
dinh dưỡng nhẹ cân và 57,3% suy dinh dưỡng thấp còi nằm viện [31].
* Hậu quả của SDD trong bệnh viện
SDD làm tăng nguy cơ các biến chứng như nhiễm khuẩn, viêm phổi,
chậm liền sẹo sau phẫu thuật, suy hô hấp. Detsky AS 202 bệnh nhân phẫu
thuật đường tiêu hóa ở bệnh viện thực hành Toronto cho thấy 10% bị biến
chứng liên quan đến dinh dưỡng, nghiên cứu của Detsky AS cho thấy tỷ lệ
biến chứng ở bệnh nhân SDD nặng là 67%. SDD liên quan chặt chẽ với thời
gian nằm viện. Thời gian nằm viện càng kéo dài thì tỷ lệ suy dinh dưỡng càng
cao [26].
Theo nghiên cứu của Kenneth EC (2002) suy dinh dưỡng làm tăng biến
chứng, làm kéo dài thời gian nằm viện do đó làm tăng chi phí điều trị [32].
1.3.2. Các yếu tố liên quan
1.3.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em như:
* Chăm sóc bà mẹ khi có thai và cho con bú.
Khi mang thai, dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp
đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ mang thai, cho sự lớn lên
và phát triển của thai nhi. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố nguy
cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấp trước tiên là tình trạng dinh dưỡng
kém của bà mẹ trước khi mang thai và chế độ ăn không cân đối, không đủ
năng lượng khi có thai hoặc thiếu các vi chất cần thiết như khoáng chất,
canxi, sắt… Những bà mẹ trong khi có thai lao động nặng nhọc, không
được nghỉ ngơi đầy đủ cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới cân nặng của
trẻ sơ sinh. Yếu tố bệnh tật của người mẹ và đẻ thiếu tháng cũng làm tăng
tỷ lệ trẻ sơ sinh có cân nặng thấp [33].


* Thực hành nuôi dưỡng trẻ:

kéo dài đến 24 tháng chỉ có 22,1% [36].
- Cho trẻ ăn bổ sung: Là trẻ vừa được bú mẹ, vừa được ăn thêm thức ăn
dạng đặc hoặc loãng. Trẻ được ăn bổ sung khi trẻ tròn 6 tháng tuổi. Đây cũng
là thời kỳ hệ thần kinh và các cơ quan đã phát triển khá đầy đủ nhờ đó mà trẻ
có thể nhai, cắn được. Nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra rằng sữa mẹ chỉ
cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ trong 6
tháng đầu. Do vậy, trẻ cần phải ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ để
phát triển, lúc này một chế độ ăn bổ sung hợp lý là vô cùng cần thiết. Ăn bổ
sung được coi là hợp lý khi trẻ ăn được các loại thức ăn cung cấp đủ năng
lượng (có thể ước tính qua số bữa ăn trong ngày kết hợp với số lượng ăn trong
mỗi bữa) và đủ chất dinh dưỡng (thể hiện bằng sự kết hợp đúng, đủ các nhóm
thực phẩm bổ sung cho trẻ). Để đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng của trẻ cần
cho trẻ ăn đủ số bữa với số lượng thích hợp.
* Thời gian nằm viện:
Thời gian nằm viện kéo dài làm ảnh hưởng tới chăm sóc dinh dưỡng
cho trẻ. Việc dùng kháng sinh kéo dài cũng làm ảnh hưởng tới khả năng hấp
thu và chuyển hóa dinh dưỡng của trẻ.
1.3.2.2. Một số yếu tố khác
Ngoài ra còn một số yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ
như cơ cấu kinh tế xã hội, đường lối chính sách của mỗi quốc gia, thu nhập
của gia đình, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, yếu tố dân tộc của bà mẹ, số trẻ
trong một gia đình, yếu tố môi trường đặc biệt là tình trạng bệnh tật của trẻ.
Tiêu chảy cấp và NKHH cấp tính là các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp
ở trẻ em. Khi trẻ bị bệnh cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng, các chất dinh


dưỡng, cảm giác thèm ăn giảm, tiêu hóa và hấp thu thức ăn kém, khả năng
cung cấp các chất dinh dưỡng giảm các chất dinh dưỡng không còn đủ để đáp
ứng nhu cầu của cơ thể, do đó bệnh tật trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến SDD trẻ em. Nhiễm khuẩn dẫn đến SDD do rối loạn tiêu hóa và ngược lại

tăng cân hay giảm cân.
Có nhiều tác giả đã nghiên cứu về cách phân loại SDD như Gomez
(1956) phân làm ba mức độ; Wellcome (1970) phân loại để phân biệt giữa
SDD thể phù và thể teo đét; Waterlow (1972) phân loại SDD thể thể gầy
còm và còi cọc. Hiện nay cách phân loại SDD theo chỉ số nhân trắc theo
WHO (2006).
Dựa vào quần thể tham chiếu NCHS để đánh giá tình trạng dinh dưỡng
của trẻ em là không còn phù hợp với thực tế. Vì vậy để đánh giá tình trạng
dinh dưỡng của trẻ em từ năm 2006 WHO đã đưa ra “chuẩn tăng trưởng mới
của trẻ em” và đề nghị áp dụng trên toàn thế giới. WHO đề nghị lấy ngưỡng
dưới 2 độ lệch chuẩn (< - 2SD) so với quần thể tham chiếu để đánh giá tình
trạng dinh dưỡng. Dựa vào Z - Score theo công thức sau:
Chỉ số đo được - số trung bình của quần thể chuẩn
Z-Score

=
Độ lệch chuẩn của quần thể chuẩn


Khi CN/T Z – Score ≤ - 2SD, SDD thể nhẹ cân.
Khi CC/T Z – Score ≤ - 2SD, SDD thể thấp còi.
Khi CN/CC Z – Score ≤ - 2SD, SDD thể gầy còm [39].
1.4.2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng công cụ subjective global
assessment (SGA)
1.4.2.1. Định nghĩa
SGA là viết tắt của: S (subjective) có nghĩa là chủ quan, G (global) có
ngh ĩa àl ổng
t thể, A (assessment) có nghĩa à đánhl giá, à m
phương
phág á ổng thểi đố

Năm 1987, một nhóm tác giả trường Đại Học Toroton, Canada tiếp tục
nghiên cứu và hoàn chỉnh công cụ đánh giá SGA dựa vào các tiêu chí bao gồm
những thay đổi về cân nặng, khẩu phần ăn, sự xuất hiện của các triệu chứng
tiêu hoá dạ dày - ruột, thay đổi chức năng và các dấu hiệu lâm sàng [25].
Năm 2004 Rojratsirikul đã tiến hành nghiên cứu trên trẻ em sau phẫu
thuật bằng công cụ SGA [41], sau đó là đến các nghiên cứu của Secker DJ
năm 2007 [42], của Spagnuolo năm 2013 [25] và ngày càng có nhiều các
nghiên cứu được tiến hành trên trẻ em bị các bệnh khác nhau.
Ở Việt Nam, chúng ta đã áp dụng phương pháp đó từ khoảng hơn 10
năm nay. Ban đầu áp dụng ở người trưởng thành như ở bệnh viện Chợ Rẫy,
năm 2007 của Lưu Ngân Tâm và cs [43], nghiên cứu của Nguyễn Đức Vinh,
Nguyễn Đỗ Huy và cs tại bệnh viện đa khoa Hải Dương [29], ở bệnh viện Nhi
trung ương của Tô Thị Huyền năm 2012 [30].
1.4.2.3. Phương pháp đánh giá bằng công cụ SGA.
SGA là phương pháp đánh giá tổng thể đối tượng một cách chủ quan
dựa vào bộ công cụ đã được xây dựng sẵn theo các tiêu chí sau:
1. Thay đổi cân nặng (6 tháng qua, 3 tháng qua, 2 tuần)
- Là sự thay đổi cân nặng của trẻ tại thời điểm hiện tại so với cân nặng
của trẻ trước đó 2 tuần, 3 tháng và 6 tháng.
- Hỏi mẹ trẻ hoặc người chăm sóc trẻ có thấy trẻ sụt cân không? Mức
độ sụt cân như thế nào?
* Đối với trẻ từ 6 tháng đến 1 tuổi là giai đoạn trẻ đang tăng nhanh về
cân nặng thì hỏi:
- Trong 3 tháng qua trẻ có tăng cân không? Tăng như thế nào?


- Nếu không tăng cân, đứa trẻ giữ cân hay sụt cân trong vòng 3 tháng
qua? trong 2 tuần qua?
* Đối với trẻ trên 1 tuổi :
- Hỏi trong 6 tháng qua trẻ có tăng cân không? Tăng như thế nào?

thời gian dài có nhiều nguy cơ bị suy dinh dưỡng.
* Các câu hỏi có thể sử dụng:
- Khẩu phần ăn của trẻ gần đây có thay đổi không?
- Nếu có, thay đổi như thế nào? Trẻ ăn với số lượng khác và các loại
thực phẩm khác nhau so với trước phải không?
- Sự thay đổi bắt đầu từ bao giờ? Gia đình có làm gì để cải thiện khẩu
phần ăn cho trẻ không?


3. Xuất hiện các triệu chứng dạ dày - ruột :
- Ghi lại các dấu hiệu dạ dày - ruột bao gồm: Nôn, tiêu chảy, chán ăn.
- Những yếu tố liên quan đến dinh dưỡng - nếu xuất hiện gần như hàng
ngày và kéo dài trên 2 tuần. Phải xem xét nếu các triệu chứng không kéo dài
quá hai tuần nhưng vẫn tồn tại hoặc tiếp tục xấu đi.
4. Các chức năng vận động của cơ thể
- Đánh giá nguy cơ dựa vào sự thay đổi có liên quan đến dinh dưỡng
(không phải do các tình trạng khác như gãy chân, hôn mê...)
- Không: Trẻ vẫn chơi đùa như thường ngày.
- Nhẹ đến vừa: Trẻ ít chơi và chạy nhảy hơn.
- Nặng: Trẻ không chơi đùa và chạy nhảy.
5. Nhu cầu chuyển hoá.
- Là nhu cầu năng lượng cần thêm khi trẻ bị bệnh (đặc biệt khi trẻ sốt)
cần ghi lại chẩn đoán bệnh của trẻ lúc nhập viện.
6. Dấu hiệu thực thể
a. Giảm lớp mỡ dưới da (vùng cơ tam đầu, cơ nhị đầu, nếp gấp da mạn
sườn…).
b. Giảm khối cơ (cơ delta, cơ tứ đầu đùi)
c. Phù (do dinh dưỡng)
+ Vị trí: Mặt trước xương chày, mu bàn chân.
Phương pháp SGA không tính bằng điểm số. Điểm nguy cơ SDD tổng


C

SGA C
S

-- Sụt
cânphần
tổng thể
trước
Khẩu
ăn so
có với
hay
đổi khi
(ănđến viện
hơn (5
s - 10%).

uy dinh dưỡng

- Sụt cân rõ hoặc tiến triển (ít nhất là 10% cân
nặ
ng cơ thể).
- Khẩu phần ăn có nh ều hay đổi (ăn hơn
i t
ít
so với bình
thường > 50%).
- Mất lớp mỡ dưới da, giảm khố cơ nặng.

ương năm 2012 theo phương pháp SGA thì tỷ lệ SDD và nguy cơ SDD là
60% [30].
1.5. Khung lý thuyết về mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và viêm phế
quản phổi
Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ viêm phổi có thể tiến hành ở
các thời điểm sau:
- Đánh giá tại cộng đồng: Trước khi trẻ bị viêm phế quản phổi
- Đánh giá tại bệnh viện: Khi trẻ bị viêm phế quản phổi
Từ kết quả đánh giá chúng ta mới đưa ra được các giải pháp để cải
thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ để hạn chế tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ.


Các tác nhân gây bệnh: Vi khuẩn, vi rus, …
Yếu tố thuận lợi: SDD, nghèo đói, …

Trẻ không

Trẻ

suy dinh dưỡng

suy dinh dưỡng

Chán ăn, mệt
mỏi

Sốt,

Trẻ viêm phế
quản phổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status