TỶ LỆ HIỆN MẮC VIÊM DA THỂ TẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ KẾT HỢP Ở TRẺ - Pdf 20

TỶ LỆ HIỆN MẮC VIÊM DA THỂ TẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU
TỐ KẾT HỢP Ở TRẺ EM
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Viêm da thể tạng (VDTT) là một bệnh da thường gặp ở
trẻ em và có những tác động rất lớn đến bản thân trẻ bị bệnh, gia đình và xã
hội. Vì thế, tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố liên quan đến bệnh VDTT ở trẻ em
trong cộng đồng luôn là vấn đề quan tâm trên toàn thế giới.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ hiện mắc VDTT và một số yếu
tố kết hợp ở trẻ em các trường mầm non của quận 1 TPHCM.
Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi phối hợp với đoàn khám sức
khỏe định kỳ của Trung tâm Y tế quận 1, khám bệnh da cho 1000 em bé
được chọn ngẫu nhiên từ các trường mầm non quận 1 TPHCM, và phát
phiếu thu thập thông tin cho cha mẹ của các em.
Kết quả: Tổng số em bé có cha mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu và trả
lời đầy đủ bảng câu hỏi là 933 em bé. Tỷ lệ hiện mắc bệnh VDTT ở trẻ em
các trường mầm non quận 1 là14,4%. Tỷ lệ hiện mắc bệnh VDTT ở nhóm
tuổi 0-1 cao hơn ở nhóm tuổi 2-3 và nhóm tuổi ³ 4 (p = 0,035), ở nữ cao hơn
ở nam(p = 0,039), ở các em bé sống trong gia đình có mức sống cao cao hơn
so với các gia đình có mức sống thấp (p= 0,026),), ở các em bé sống trong
gia đình có 3 thành viên cao hơn so với các em bé sống trong gia đình có 4
hoặc ³ 5 thành viên (p = 0,029), ở các em bé bú sữa mẹ và không bú sữa mẹ
không có sự khác biệt (p = 0,210), ở nhóm có uống hạ sốt trong năm đầu
tiên cao hơn so với nhóm không uống hạ sốt trong năm đầu tiên (p = 0,033),
ở nhóm có uống kháng sinh trong năm đầu tiên cao hơn so với nhóm không
uống kháng sinh trong năm đầu tiên (p = 0,022).
Kết luận: Tỷ lệ hiện mắc VDTT ở trẻ em các trường mầm non quận 1
TPHCM là14,4%. Một số yếu tố có liên quan với tỷ lệ hiện mắc VDTT như
tuổi, giới, kinh tế gia đình, tổng số thành viên trong gia đình, tiền sử uống hạ

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm da thể tạng (atopic dermatitis), trước đây được gọi là chàm thể
tạng, là một bệnh da viêm, tái phát, mạn tính, có ngứa. Đây là một bệnh da
thường gặp. Bệnh VDTT ở trẻ em phổ biến hơn nhiều so với ở người trưởng
thành, gần 80% bệnh VDTT là trẻ em. Bệnh VDTT trẻ em có những tác
động rất lớn đến bản thân trẻ bị bệnh, gia đình và xã hội
(1,2,8)
.
Vì thế, tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố liên quan đến bệnh VDTT ở trẻ
em trong cộng đồng luôn là vấn đề quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên
toàn thế giới. Những nghiên cứu dịch tễ học gần đây cho thấy một xu hướng
gia tăng tỷ lệ bệnh VDTT trẻ em ở khắp các châu lục. Người ta ước tính tỷ lệ
bệnh VDTT trẻ em tăng khoảng 3-5 lần trong vòng ba thập niên qua. Theo
kết quả của các nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau ở nhiều quốc
gia, tỷ lệ VDTT trẻ em dao động trong khoảng 5-20%
(4,5,8,10)
.
Theo hiểu biết của chúng tôi, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu
nào về tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố kết hợp với VDTT trẻ em trong cộng đồng.
Tất cả những vấn đề nêu trên là lý do để chúng tôi tiến hành đề tài
nghiên cứu: “Tỷ lệ hiện mắc VDTT và một số yếu tố kết hợp ở trẻ em tại các
trường mầm non của quận 1 TPHCM”.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Xác định tỷ lệ hiện mắc VDTT và một số yếu tố kết hợp ở trẻ em các
trường mầm non của quận 1 TPHCM.
Mục tiêu chuyên biệt
1. Xác định tỷ lệ hiện mắc VDTT ở trẻ em các trường mầm non quận
1 TPHCM.
2. Khảo sát sự liên quan giữa tỷ lệ hiện mắc VDTT và một số yếu tố:


Bảng 1. Tỷ lệ VDTT ở trẻ em 6-7 tuổi ở một số quốc gia (Williams
HC và cộng sự, 1999)(10).
ST
T
Khu
vực
Nước Địa điểm

Cỡ
mẫu
Tỷ
lệ (%)
Nhật Fukuoka
290
0
16,
9
1
Châ
u Á -
Thái
Bình
Dương
Malayxia

Kota
Bharu
381
9

382
9
20,
5
Iran Rasht
301
3
9,8

2
Khu
v
ực Địa
Trung Hải

Manta Malta
349
3
4,4

3
Châ
u M

Achentin Rosario 300 10,
ST
T
Khu
vực
Nước Địa điểm


241
8
22,
1
5
Bắc
Âu và
Ba Lan Krakow
226
4
19,
9
ST
T
Khu
vực
Nước Địa điểm

Cỡ
mẫu
Tỷ
lệ (%)
Đông Âu
Thuỵ
Điển
Stockholm

302
9

212
9
12,
0
8
Tây
Âu
Bỉ Antwerp 653 16,
ST
T
Khu
vực
Nước Địa điểm

Cỡ
mẫu
Tỷ
lệ (%)
3 8
Pháp Pessac
320
2
22,
1
Ý Milano
361
6
16,
7
Hy Lạp Athens

Tất cả em bé đang học tại các trường mầm non quận 1 TPHCM từ
tháng 2/2006 đến tháng 6/2006, hội đủ tất cả các tiêu chuẩn sau đây được
đưa vào nghiên cứu:
- Được cha mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu, trả lời đầy đủ bảng câu
hỏi.
- Có mặt tại trường mầm non trong ngày khám bệnh theo lịch đã hẹn.
- Không thuộc tiêu chuẩn loại trư.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Không hợp tác khi khám bệnh.
Phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi chọn cụm theo cách ngẫu nhiên đơn, được tiến hành như
sau:
Bước 1: Chọn quận 1 TPHCM và lập danh sách 19 trường mầm non
của quận 1.
Bước 2: Bằng phương pháp bốc thăm, chúng tôi chọn ra 9 trường
trong tổng số 19 trường mầm non của quận 1-TPHCM để đưa vào nghiên
cứu.
Bước 3: Liên hệ với 9 trường mầm non nêu trên, xin danh sách các bé
học tại 9 trường (tổng số gồm 3865 bé), dùng bảng số ngẫu nhiên chọn ra
1000 bé theo phương pháp ngẫu nhiên đơn để đưa vào nghiên cứu.
Phương pháp tiến hành
Tham gia cùng với đoàn khám sức khoẻ của Trung tâm Y tế quận 1
trong đợt khám sức khoẻ định kỳ cho trẻ em mầm non học kỳ 2 năm học
2005-2006 tại các trường mầm non được đưa vào nghiên cứu. Khám và
ghi nhận đầy đủ tình trạng viêm da ở các nếp gấp, viêm da ở má, trán, mặt
duỗi tứ chi của từng em (nếu có).
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh VDTT dựa theo tiêu chuẩn của nước
Anh, gồm có:
- Tiêu chuẩn chính
Có tình trạng da bị ngứa (hoặc do bố mẹ nói bé có gãi hoặc có các vết

c
2,
p
STT

Yếu tố
Có Không0-
1 (n
= 104)
19,2%

80,8%

2-3
(n= 454)
16,1%

83,9%

1 Tuổi

³ 4 (n=
375)
10,9%

89,1%



c
2
(1)
= 4,27
p =
0,039
Th
ấp(n
= 242)
9,5% 90,5%

3
Kinh
tế gia đình
Trg
bình (n=
541)
15,3%

84,7%

c
2
(2)
= 7,33
p =
0,026
Viêm da
thể tạng

số th
ành
viên trong
nhà
≥ 5
(n= 591)
12,2%

87,8%

c
2
(2)
= 7,02 p =
0,029

5

sữa mẹ
Có (n=
682)
13,5%

86,5%

c
2
(1)
= 1,57
Viêm da

s
ử bản thân
HPQhoặc
VMDƯ
Không
(n = 684)
9,2% 80,8%

p =
0,000
Có (n
= 105)
69,5%

30,5%

7
Tiền
s
ử bản thân
DƯTĂ
Không
(n = 828)
7,4% 92,6%

c
2
(1)
= 292,7 p
= 0,000

(1)
= 36,23 p
= 0,000
Có (n
= 570)
16,3%

83,7%

9
U
ống
h
ạ sốt trong
năm đầu
Không
(n = 363)
11,3%

88,7%

c
2
(1)
= 4,55 p =
0,033
10
U
ống
kháng sinh

0,022
BÀN LUẬN
Tỷ lệ hiện mắc bệnh viêm da thể tạng
Theo hiểu biết của chúng tôi, ở Việt Nam chưa có số liệu nào về tỷ lệ
hiện mắc bệnh VDTT trẻ em trong cộng đồng. Trên thế giới đã có rất nhiều
nghiên cứu về vấn đề này với nhiều kết quả khác nhau. Mặc dù vậy, việc so
sánh các tỷ lệ này chỉ mang tính chất tương đối vì phương pháp tiến hành
cũng như tiêu chuẩn xác định bệnh ở các nghiên cứu rất khác nhau. Hơn
nữa, tỷ lệ bệnh VDTT rất khác nhau ở các quốc gia, các vùng trên thế giới
cũng như giữa các vùng trong một quốc gia, do bệnh VDTT chịu ảnh hưởng
rất lớn của chủng tộc, các điều kiện thời tiết, khí hậu và môi trường sống
khác nhau; tỷ lệ VDTT trẻ em ở từng độ tuổi khác nhau cũng rất khác nhau.
Tuy nhiên, so với những số liệu ở bảng 1 chúng ta cũng có thể nhận thấy
rằng tỷ lệ hiện mắc bệnh VDTT ở trẻ em 0-6 tuổi tại các trường mầm non
của quận 1 TPHCM là khá cao so với tỷ lệ mắc bệnh VDTT trẻ em trên thế
giới
(1,2,5,7,8)
.
Sự liên quan giữa tỷ lệ hiện mắc vdtt và một số yếu tố
Theo bảng 2, chúng ta thấy:
Tỷ lệ hiện mắc bệnh VDTT ở nhóm tuổi 0-1 cao hơn ở nhóm tuổi 2-3
và nhóm ≥ 4 tuổi với p < 0,05. Ở độ tuổi càng lớn, tỷ lệ hiện mắc bệnh
VDTT càng thấp. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác.
Theo nghiên cứu của Sugiura H và cộng sự trên trẻ em Nhật Bản (1998), tỷ
lệ lưu hành VDTT ở trẻ em lứa tuổi 5-6 là 24%, 7-9 là 19%, 10-12 là 15%,
13-15 là 14%. Điều này cũng phù hợp với tính chất của bệnh VDTT là phát
bệnh sớm, ở tuổi càng lớn thì bệnh càng giảm
(9,10)
.
Tỷ lệ hiện mắc bệnh VDTT ở nữ giới cao hơn so với ở nam giới

nhau. Chẳng hạn như, một nghiên cứu ở Thụy Điển (Kull I và cộng sự,
2002) cũng thấy rằng việc bú sữa mẹ có hiệu quả bảo vệ đối với các bệnh
VDTT, HPQ và VMDƯ. Trong khi đó, nghiên cứu của Girolomoni G và
cộng sự (2003) trên 1369 em bé 9 tuổi ở Ý lại thấy rằng bú sữa mẹ không có
tác động gì rõ rệt trên tỷ lệ bệnh VDTT. Ngược lại, một nghiên cứu ở Nhật
Bản (Miyake Y và cộng sự, 2003) trên 5614 học sinh 12-15 tuổi thấy rằng
nguy cơ mắc bệnh VDTT cao hơn ở những em có bú sữa mẹ.
Tỷ lệ hiện mắc bệnh VDTT ở những em bé có tiền sử bản thân bị
HPQ hoặc VMDƯ cao hơn nhiều so với những em bé khác (p <0,001). Điều
này phù hợp với y văn, vì VDTT thường xảy ra trong sự phối hợp với các
bệnh thể tạng khác, là một phần của “bộ ba” bệnh thể tạng ở trẻ em: VDTT,
HPQ, VMDƯ. Tỷ lệ hiện mắc VDTT ở những em bé có tiền sử DƯTĂ cao
hơn nhiều so với những em bé không có tiền sử DƯTĂ (p <0,001). Tỷ lệ
hiện mắc bệnh VDTT ở những em bé có tiền sử gia đình (cha, mẹ, anh chị
em ruột) bị bệnh thể tạng cao hơn so với những em bé không có tiền sử gia
đình bị bệnh thể tạng, với p < 0,001. Điều này phù hợp với y văn. Bệnh
VDTT có yếu tố gia đình đã được biết đến từ lâu. Theo một nghiên cứu vào
năm 2003 của Bohme M, Wickman M và cộng sự, tỷ lệ VDTT ở những đứa
trẻ có cha và mẹ không bị bệnh thể tạng là 27%, so với ở những đứa trẻ có
cha hoặc mẹ bị bệnh thể tạng là 38% và ở những đứa trẻ có cả cha và mẹ bị
bệnh thể tạng là 50%.
Tỷ lệ hiện mắc bệnh VDTT cao hơn ở những em bé có uống thuốc hạ
sốt trong năm đầu tiên so với những em bé khác(16,3% so với 11,3%, p
<0,05). Tỷ lệ hiện mắc bệnh VDTT cao hơn ở những em bé có uống thuốc
kháng sinh trong năm đầu tiên (17,4% so với 12,1%, p <0,05). Điều này
cũng phù hợp với nghiên cứu vào năm 2005 của FlƯistrup H và cộng sự ở 5
nước châu Âu, nghiên cứu trên 6630 trẻ em 5-13 tuổi, thấy rằng việc sử
dụng thuốc hạ sốt và thuốc kháng sinh trong năm đầu tiên đều có liên quan
với sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh VDTT. Sự liên quan giữa uống thuốc kháng
sinh và bệnh VDTT quan sát được từ nghiên cứu có thể biểu hiện một mối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status