nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét và một số yếu tố nguy cơ ở nhóm dân di cư tự do tại xã cư k’bang, huyện ea súp, tỉnh đắk lắk - năm 2010 - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
NAY NGUYÊN NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM KÝ SINH TRÙNG
SỐT RÉT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ Ở NHÓM
DÂN DI CƯ TỰ DO TẠI XÃ CƯ K’BANG, HUYỆN
EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK - NĂM 2010 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS.BS. Phan Văn Trọng
Buôn Ma Thuột, Năm 2010 1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt rét (SR) là bệnh xã hội phổ biến trên thế giới, ảnh hưởng rất
lớn ñến sức khỏe con người, nhất là các nước ở châu Phi và các nước ở Đông
Nam châu Á, mặc dù ñã có nhiều cố gắng kiểm soát trong suốt 50 năm qua
nhưng cho ñến nay bệnh SR vẫn lưu hành ở nhiều nơi trên thế giới. Theo Tổ
chức Y tế Thế giới, hiện nay có khoảng 20% dân số trên thế giới có nguy cơ
mắc SR, hàng năm có khoảng 300 triệu ñến 500 triệu người mắc SR và có gần
hai triệu người chết do SR. Năm 1955, Tổ chức Y tế Thế giới ñã ñề ra chương
trình tiêu diệt SR trên toàn cầu. Trong 10 năm ñầu (1956-1965) bệnh ñã bị
tiêu diệt ở châu Âu, châu Úc, Bắc Mỹ và một số nước Đông Bắc Á như Nhật
Bản, Triều Tiên. Từ năm 1966 trở ñi chương trình tiến triển chậm, có nơi SR
quay trở lại (Ấn Độ, Srilanca, Nam Mỹ, Đông Nam Á) [46]. Vì vậy Tổ chức
Y tế Thế giới ñưa ra chiến lược mới với một chương trình phòng chống SR

ñiểm SR, ñời sống kinh tế văn hóa xã hội còn nhiều khó khăn, bệnh SR là một
vấn ñề sức khỏe ưu tiên của cộng ñồng. Đây là vùng SR lưu hành nặng do
tính chất phức tạp của hoạt ñộng giao lưu biên giới, dân di cư tự do, ñi rừng
ngủ rẫy. Huyện ñã ñược tổ chức thực hiện chương trình PCSR từ những năm
trước cho ñến nay, tuy nhiên hiện nay gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật cũng
như về xã hội hóa công tác PCSR, trong ñó mạng lưới y tế cơ sở chưa có hiệu
quả, thực hiện chưa tốt công tác phát hiện và quản lý người mang KSTSR tại
cộng ñồng. Để hiểu rõ hơn thực trạng SR ở nhóm dân di cư tự do từ ñó ñề
xuất những biện pháp phòng chống SR hiệu quả hơn chúng tôi thực hiện ñề
tài: “Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm Ký sinh trùng sốt rét và một số yếu tố nguy cơ
ở nhóm dân di cư tự do tại xã Cư K’Bang, huyện Ea Suop, tỉnh Đắk Lắk,
năm 2010 ” với các mục tiêu sau:
1. Xác ñịnh tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng SR ở nhóm dân di cư tự do tại xã
Cư K’ Bang huyện Ea Suop tỉnh Đắk Lắk.
2. Xác ñịnh một số yếu tố nguy cơ mắc bệnh SR ở nhóm dân này.

3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. KHÁI QUÁT VỀ BỆNH SỐT RÉT
Bệnh SR là một bệnh do ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) gây nên, do
muỗi Anopheles truyền, lưu hành rộng rãi trên thế giới, gây nhiều tác hại ñến
sức khoẻ con người, bệnh SR có ở Trung Quốc, Ấn Độ từ cổ xưa.
Hyppocrates ở Hy Lạp ñã mô tả triệu chứng lâm sàng vào ñầu thế kỷ 5 trước
công nguyên. Ở Việt Nam bệnh SR ñược nói ñến trong các tác phẩm Y văn
của Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông [1], [28],[54].
Năm 1880 Laveran lần ñầu tiên tìm ñược KSTSR, năm 1886 Golgi
phát hiện ra P.vivax và P. Malariae (trích từ: [27],[32]).
Năm 1897-1898 Ross và Grassi mô tả các giai ñoạn của KSTSR trong

- Phân bố:
+ Miền Bắc: có 33 loài Anopheles.
+ Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: có 45 loài.
+ Nam Bộ và Lâm Đồng: có 44 loài.
1.1.1.4. Cơ thể cảm thụ [1],[10],[25]:
- Miễn dịch tự nhiên ñối với bệnh SR: một số người có miễn dịch tự nhiên ñối
với bệnh SR.
- Miễn dịch tạo thành: ñược giải thích bằng 2 cơ chế: miễn dịch dịch thể và
miễn dịch tế bào.

5

1.1.2. Lâm sàng bệnh sốt rét
1.1.2.1. Định nghĩa ca bệnh [3],[5],[25]:
- Bệnh nhân xác ñịnh là SR: Có KSTSR ở trong máu. Xét nghiệm bằng
phương pháp Giemsa dương tính, nếu không có kính hiển vi, thử que chẩn
ñoán nhanh dương tính. Bao gồm:
+ SR thường, SR ác tính.
+ Ký sinh trùng lạnh: hiện tại và 7 ngày gần ñây không sốt.
- Bệnh nhân nghi là SR (sốt rét lâm sàng): Trường hợp không ñược xét
nghiệm máu, hoặc xét nghiệm máu âm tính, hoặc chưa có kết quả xét nghiệm
và có 4 ñặc ñiểm sau: hiện ñang sốt (≥ 37,5
o
C) hoặc có sốt trong vòng 3 ngày
gần ñây, không giải thích ñược các nguyên nhân gây sốt khác, ñang ở hoặc
qua lại vùng SR trong vòng 6 tháng gần ñây, ñiều trị bằng thuốc SR có ñáp
ứng tốt trong vòng 3 ngày.
- Xác ñịnh SR thường bằng 3 tiêu chuẩn:
+ Dịch tễ: Sống trong vùng SR hoặc ñi vào vùng hoặc có tiền sử bị SR trong
6 tháng gần ñây, ñôi khi lâu hơn như trường hợp tái phát do P. vivax.

cấp hay mạn tính, có lách to, thể trạng suy sụp, da sạm, cuối cùng là suy kiệt.
Diễn biến lâm sàng của P. vivax phụ thuộc vào các type khác nhau. Tổ
chức Y tế thế giới chia thành các type khác nhau:
+ Type 1: ủ bệnh ngắn 10 - 20 ngày, hay tái phát, thời gian trầm lặng ngắn.
+ Type 2: ủ bệnh ngắn 12 - 20 ngày. Thời gian trầm lặng về lâm sàng kéo dài
và KST trong máu kéo dài.

7

+ Type 3: ủ bệnh dài 6 tháng hoặc hơn. Khởi phát rất chậm, tiếp theo là tái
phát có khoảng cách ngắn dần lại rồi có một giai ñoạn trầm lặng kéo dài, rồi
lại tiếp những ñợt tái phát [17],[18].
1.1.2.5. SR do P. malariae
Cũng là SR thể nhẹ biến chứng ít. Ủ bệnh trên 18 ngày, có thể ñến 45
ngày. Sốt có chu kỳ cách 2 ngày. Biểu hiện lâm sàng giống SR do P. vivax
nhưng nhẹ hơn. Chỉ có tái phát gần không có tái phát xa, nhưng trong y văn
thế giới có tài liệu cho rằng tái phát sau 20-30 năm [19],[20].
1.1.2.6. SR do P. Falciparum [7],[19],[30]:
Là thể lâm sàng quan trọng gây tử vong cao, kháng thuốc cao và có tỷ
lệ cao nhất, có hai thể lâm sàng chính:
+ Thể thông thường:
Ủ bệnh 8-14 ngày. Khởi phát bằng dấu hiệu ñau ñầu, ñau lưng, li bì,
buồn nôn có khi ỉa chảy, có sốt ñi kèm, có thể sốt cách nhật, sốt hàng ngày và
sốt liên tục và dao ñộng lớn, có thể thấy dấu hiệu gan to, lách to.
Thông thường thì tiến triển tốt sau 2-3 tuần thì trở lại bình thường, sau
3-6 tháng là hết cơn tái phát.
+ Thể nặng có biến chứng: TCYTTG ñã xác ñịnh 10 biểu hiện chính ñể gọi là
thể nặng có biến chứng của SR do P. falciparum.
• Thể thần kinh ít nhất là có hôn mê giai ñoạn 2.
• Cơn co giật toàn thể với số lượng 2 cơn / 24 giờ.

9

1.1.4.2. Yếu tố nguy cơ
- Theo góc ñộ khách quan và chủ quan
+ Các yếu tố môi trường tự nhiên: sinh ñịa cảnh, thời tiết.
+ Các yếu tố do con người: thói quen, tập quán, hoạt ñộng kinh tế-xã hội.
+ Các yếu tố nội sinh, di truyền, nhóm máu, chủng loại KSTSR.
- Theo khả năng can thiệp
Có thể can thiệp ñược: yếu tố sinh cảnh, tập quán, thói quen, hoạt ñộng
Kinh tế - Xã hội.
Không thể can thiệp: yếu tố thời tiết, yếu tố nội sinh, di truyền, nhóm
máu, chủng loại KSTSR.
- Theo nguyên nhân truyền bệnh và trung gian truyền bệnh
KSTSR có các á chủng. P. falciparum tuy chưa có những á chủng rõ rệt
nhưng khi phân lập ở những khu vực khác nhau thì có những ñặc ñiểm rất
khác nhau. P. vivax có một vài á chủng ñã ñược ghi nhận, phân biệt rõ ràng:
chủng Chesson ở xứ nóng, á chủng Elisabeth, á chủng Hibernans (Nicolaev),
á chủng Bắc Triều Tiên.
Việt Nam có ñủ 4 loại KSTSR, cơ cấu KSTSR như sau:
+ P. falciparum chiếm 70-80%, thường gây SR nặng vì ñặc ñiểm sinh học
của KSTSR, 90% TVSR do P. falciparum, dịch SR do P. falciparum thường
rầm rộ.
+ P. vivax: 20-30%, P. malariae: 1-3%, lẻ tẻ có P. ovale, dịch SR do P. vivax
thường không nặng nhưng kéo dài do có thể ngủ trong gan.
+ P. falciparum ñã kháng thuốc SR Chloroqine từ những năm 1960 và hầu
như ñã kháng trong cả nước trừ vài nơi ở miền Bắc; P. falciparum còn kháng
cả Fansidar ở các mức ñộ khác nhau, giảm ñộ nhậy với Quinine, nhưng còn
nhậy với Artemisinine và Mefloquine.

10

+Tỷ lệ SR chung cả nước là 7,1% (trong ñó, Tây Nguyên là 12%, khu vực bắc
miền Trung là 9,7% và ñồng bằng sông Cửu Long là 2%).
+Tỷ lệ lách to chung cả nước: 2,65%, trong ñó: Tây Nguyên: 9,1%, miền Bắc:
3,6%, miền Trung: 3,2%, ñồng bằng Nam Bộ: 0%.
+ Tỷ lệ KSTSR(+)/ Lam máu chung cả nước: 1,45%, trong ñó: MT-TN:
3,44%, núi phía Bắc: 1%.
Vũ Thị Phan, Trần Quốc Tuý, Lê Xuân Hùng và cs (2006) giám sát
KSTSR trên toàn quốc năm 2006 cho thấy [23]:
+ Tỷ lệ KSTSR(+)/ Lam máu chung cả nước là: 2,72%, trong ñó: miền Bắc:
0,52%, MT-TN: 5,32%, miền Nam: 2,56%.
+ Cơ cấu KSTSR: Miền Bắc (P. falciparum: 51,1%, P. vivax: 48,4%, phối
hợp: 0,5%); miền Trung – Tây Nguyên (P. falciparum: 62,45%, P. vivax:
16,28%, phối hợp: 1,14%); miền Nam (P. falciparum: 62,45%, P. vivax:
36,67%, phối hợp: 0,38%).
1.2.1.3. Tình hình SR ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên
Nghiên cứu của Trần Mạnh Hạ và cs năm 2007 tại 27 xã thuộc 2 huyện
Di Linh và Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng cho thấy tỷ lệ mắc SR ở người Kinh là
61,3%, ở người K’ Ho là 16,2%, ở người Mạ, Ya Chill, Churu là 22,5%. Tác
giả cũng thấy rằng có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh SR giữa 2 giới nam và
nữ (p < 0,01) và người Kinh có nguy cơ mắc bệnh SR gấp 2,1 lần các dân tộc
tại chỗ là K’Hor, Mạ, Ya Chill, Chu Ru [6].
Theo số liệu thống kê của Viện SR- KST- CT Qui Nhơn, tỷ lệ mắc và
TVSR luôn dai dẳng ở 4 tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, ĐắkLắk,
ĐắkNông); chủ yếu tập trung ở dân ñi rừng, ngủ rẫy, dân DCTD [9],[13],[33].

12
Bảng 1.1 Tình hình SR khu vực miền Trung - Tây Nguyên năm 2007 [22]
Năm

Chỉ số

Các chỉ số 2003 2004 2005 2006 2007 2008
TVSR 67 29 22 19 5 2
BNSR 35.955 28.654 25.783 20.065 3.712 1.886
SRAT 366 241 161 135 17 10
Số KSTSR (+) 32.930 9.546 9.450 6.715 6.715 2.261
KSTSR(+)/Lam (%)

9,65 8,04 7,41 4,34 4,2 2,18
Dịch SR 1 1 0 0 0 0
1.2.2. Các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ
1.2.2.1. Nghiên cứu về môi trường tự nhiên
- Yếu tố sinh ñịa cảnh
Mc Donal năm 1957 trong chiến lược thanh toán SR ñã dựa trên
nguyên tắc Địa - Động vật chia SR thành 12 vùng. Sau ñó Lyssenko và
Semachko năm 1968, 1983 cũng dựa trên nguyên tắc Địa cảnh - Dịch tễ [6].
Ở Việt Nam, Vũ Thị Phan năm 1982 ñã phân vùng SR Việt Nam thành
5 vùng [22].
- Các yếu tố thời tiết
Điều kiện thời tiết có ảnh hưởng lớn ñến sự tồn tại và phát triển của các
trung gian truyền bệnh SR và ngay cả của KSTSR. Ba yếu tố: nhiệt ñộ, ñộ
ẩm, và lượng mưa thường có mối liên quan trực tiếp ñến sự phát triển trung
gian truyền bệnh và gián tiếp chi phối bệnh SR [2].
1.2.2.2. Nghiên cứu về yếu tố nguy cơ từ con người
- Tập quán thói quen:
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Bùi Đại và cs cho thấy có sự liên quan
giữa tỷ lệ BNSR, SRAT ở nhóm dân tộc ít người và ở dân tộc Kinh có tập
quán sinh hoạt canh tác khác nhau [6].

14
- Yếu tố hoạt ñộng kinh tế - xã hội

Trần Mạnh Hạ và cs (2007) nghiên cứu tại 27 trạm Y Tế của 27 xã
thuộc hai huyện Di Linh và Đạ Huoai, Lâm Đồng năm 2007 thấy rằng 85,8%
số bệnh nhân hiểu ñúng về bệnh SR; nguy cơ của những người không ngủ
màn thường xuyên cao gấp 2,4 lần so với người ngủ màn thường xuyên và
nguy cơ mắc SR của người ngủ rẫy gấp 10 lần người chỉ ngủ ở nhà [11].
Ngô Văn Toàn, Nguyễn Hữu Phúc, Đỗ Văn Chính (2005) nghiên cứu ở
huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng năm 2005 cho kết quả là 71,1% hiểu nguyên
nhân gây bệnh SR, 95,1% biết triệu chứng của bệnh SR và 99% biết các biện
pháp PCSR [37].
Tìm hiểu kiến thức của người dân tỉnh Đắk Lắk về nguyên nhân gây
bệnh SR, nhóm tác giả Ngô La Sơn, Nguyễn Quốc Típ và cs thấy rằng 13,3%
biết nguyên nhân gây bệnh SR là do KSTSR:, 23,3% cho rằng nguyên nhân
gây bệnh SR là thời tiết, uống nước, 50% biết tác nhân lây truyền SR là muỗi,
cách phòng muỗi ñốt là nằm màn [29].
1.2.4. Nghiên cứu trung gian truyền bệnh sốt rét
Nguyễn Xuân Quang, Trương Văn Có, Lê Giáp Ngọ, Đỗ Công Tấn, Hồ
Đắc Thoàn và cs, nghiên cứu ở huyện Ea H’Leo tỉnh ĐắkLắk năm 2007 cho
kết quả như sau [26]:
- Thành phần loài Anopheles: 7.
- Không xuất hiện trung gian truyền bệnh chính (An. minimus, An. dirus).
- Mật ñộ: từ 0,04 con/ giờ/ người ñến 0,1 con/ giờ/ người.
Nguyễn Xuân Quang, Lê Hữu Cầu, Trương Văn Có, Hồ Đắc Thoàn, Nguyễn
Hồng Sanh và CS (2003) Nghiên cứu ở huyện Cư Sê, Gia Lai cho kết quả
như sau[26]:
- Thành phần loài: vùng sinh cảnh rừng tự nhiên có 21 loài, vùng sinh cảnh
cây cà phê có 19 loài vùng sinh cảnh cây cao su có 18 loài.

16
- Mật ñộ:
+ An. dirus mật ñộ vùng sinh cảnh rừng tự nhiên 0,178 con/ người/ ñêm,

Chỉ số cơ cấu KST =
Số lượng từng loại ký sinh trùng SR
×
100
Tổng số ký sinh trùng SR chung

Chỉ số lách sưng =

Tổng số lách sưng
×
100
Tổng số người khám bệnh

Chỉ số giao bào =

Số lam máu có giao bào
×
100
Tổng số lam xét nghiệm

1.4. ĐÁNH GIÁ MẬT ĐỘ VÀ SỐ LƯỢNG KSTSR [47]:
- Hệ thống dấu cộng: Sử dụng 1 mã từ 1 ñến 4 cộng như sau:
+: Có 1- 10 KSTSR trên 100 vi trường
+ +: Có 11- 100 KSTSR trên 100 vi trường
+ + +: Có 1- 10 KSTSR trên 1 vi trường
+ + + +: Có 11- 100 KSTSR trên 1 vi trường

17
- Trong 1 mm
3

Ương tại ĐắkLắk trong 3 năm 2006-2008 toàn tỉnh ĐắkLắk có khoảng 4.937
hộ, 24.455 khẩu dân DCTD tới ñịnh cư ở 66 ñiểm, 39 xã của 13 huyện trong
Tỉnh. Dân DCTD ña số là các ñối tượng có miễn dịch yếu với SR, không có
biện pháp PCSR, khi bị SR thường dễ bị SRAT, tử vong cao (7/9 trường hợp
TVSR ở Đắk Lắk là dân tộc H’Mông mới di cư vào) [18].

18
Từ năm 2000 ñến 2004 ở ĐắkLắk trong 48 ca TVSR có 14 là dân
DCTD (29,17%), 19 là dân ñi rừng ngủ rẫy (39,58%), 4 ca TVSR là dân
H’Mông, Tày di cư vào Tây Nguyên [2].
Năm 2004 có 31 hộ, 168 khẩu dân tộc H'Mông, Dao, Mường từ các
tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Thanh Hóa vào cư trú tại xã Ea Wer [28].
Bảng 1.3. Tình hình dân DCTD từ 2006 ñến 2008 tại Đắk Lắk [28].
Năm Hình thức di cư Hộ
Khẩu
Số lượng Tỷ lệ %
2006
Di cư nội tỉnh
Di cư ngoại tỉnh
Tổng
92
441
533
489
2.640
3.129
15,63
84,37
2007
Di cư nội tỉnh

Năm 2008 04 0.8
8 tháng 2009 07 1.0

19
Bảng 1.5. Tình trạng dân di cư tự do tại xã Cư K’Bang [28].
Thời gian Số dân di cư tự do
(khẩu )
Ghi chú:
Số liệu dân di cư tự do Trung tâm lấy từ
Công an xã. Số liệu này biến ñộng hàng
năm do dân cư không ổn ñịnh (dân ñến-
dân ñi) vì cuộc sống quá khó khăn.
Năm 2006 186
Năm 2007 401
Năm 2008 1.825
8 tháng 2009 530
Tổng 2.942
Phong tục tập quán: Một bộ phận nhân dân trong xã sống nhà sàn, nuôi
gia súc, gia cầm dưới sàn nhà; khi ốm ñau thường cúng ma tào ít ñến các cơ
sở y tế; ma chay, cưới hỏi thường tổ chức dài ngày
Phong tục tập quán của dân di biến ñộng: Đa số dân di cư tự do theo
ñạo Tin lành, sinh hoạt 1 lần/tuần; sống du canh du cư ñộc lập ở vùng sâu, xa,
hẻo lánh, phá rừng làm nương rẫy, cuộc sống rất khó khăn

20
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu ñược tiến hành theo nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích
2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu [7],[21],[24].

22
2.3.2.1. Giai ñoạn 1: Xác ñịnh tỷ lệ hiện mắc SR tại cộng ñồng dân di cư tự do
- Cỡ mẫu
- Theo công thức tính cỡ mẫu cho một ñiều tra cắt ngang, số cá thể cần khảo
sát cho 01 ñiểm nghiên cứu là:
n =
2
2
)2/1(
)1(
d
pPZ −

α
(2.1)
Trong ñó:
+ Z = 1,96 (ở khoảng tin cậy 95%)
+ p= 0,5, (chọn p=0,5 ñể có cỡ mẫu lớn nhất).
+ q = 1 – p = 0,5
+ d: Độ chính xác là khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu ñược từ mẫu
(p) và từ tỷ lệ quần thể (P).
Thay thế các giá trị vào công thức (2.1), ta có: n = 385 người. Để bổ
sung cho các trường hợp không thu thập ñược số liệu, cộng thêm 7% vào
mẫu, vì vậy ta có cỡ mẫu cần ñiều tra là 411 ñối tượng.
- Phương pháp chọn mẫu
Xã Cư K’Bang có 16 thôn, với tổng số 6.993 người, trong ñó có 2.942
người thuộc diện dân di cư tự do rải ñều ở tất cả các thôn, ước khoảng 450 hộ

Nhóm KSTSR ( - ) ñược chọn từ quần thể nghiên cứu trong nghiên cứu
ngang mà có lam máu không phát hiện ñược KSTSR.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status