KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TẠI THỊ TRẤN TRÂU QUỲ - HUYỆN GIA LÂM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 43

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
------------------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TẠI THỊ TRẤN
TRÂU QUỲ - HUYỆN GIA LÂM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Người thực hiện

: ĐÀO THỊ LƯƠNG

Lớp

: MTD

Khóa

: 57

Chuyên ngành

: Môi Trường

Giáo viên hướng dẫn

: TS.PHAN TRUNG QUÝ

HÀ NỘI - NĂM 2016

19
20
21
22
23
24
25

Chữ viết tắt
ĐTH
CNH
TNMT
KLN
LVS
ONMT
TCVN
QCVN
QLMT
BVMT
UBND
WWF
WHO
UNICEF
DO
COD
BOD5
TSS
NH4+
BTNMT
KCN

Hội đồng nhân dân

DANH MỤC BẢNG

3

3


4

4


DANH MỤC HÌNH

5

5


PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất, nước và không khí là những điều kiện cơ bản cho sự tồn tại của
con người. Trong đó, nước là một trong những nguồn tài nguyên đặc biệt
quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Nước là điều
kiện khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên khác. Nước còn là tư liệu sản
xuất không thể thiếu của các ngành kinh tế, trong đó đặc biệt có vai trò quan
trọng trong sản xuất nông nghiệp.

chất lượng nước mặt tại Thị trấn Trâu Quỳ-Huyện Gia Lâm-Thành phố
Hà Nội” nhằm đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt trên một số hệ thống
lưu vực trong những năm gần đây . Từ đó đưa ra các giải pháp, đề án quản lý
lưu vực hiệu quả hơn.
1.2.Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục đích
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt ở một số lưu vực của Thị
trấn Trâu Quỳ-Huyện Gia Lâm-Thành phố Hà Nội những năm gần đây.
- Dựa trên cơ sở dữ liệu về hiện trạng chất lượng nước mặt ở một số
lưu vực của Thị trấn Trâu Quỳ, đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô
nhiễm, bảo vệ và cải thiện chất lượng nước trên địa bàn trong những năm tới.
1.2.2. Yêu cầu
- Khái quát điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội của thị trấn Trâu Quỳ.
- Xác định các nguồn thải tác động tới chất lượng nước mặt tại thị trấn
Trâu Quỳ.
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt tại thị trấn Trâu Quỳ.
- Tìm hiểu công tác quản lý chất lượng nước sông tại thị trấn.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý và sử dụng phù hợp.

7

7


PHẦN II
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Vai trò của tài nguyên nước
Nước có vai trò quan trọng đối với sự sống trên Trái Đất,không có nước
thì không có sự tồn tại.Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể,65-75%

có nước thì chắc chắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp,nông
nghiệp… trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại.
Hoạt động du lịch cũng gắn liền với nguồn nước.Nước không những
được dùng để cung cấp cho sinh hoạt, du lịch, ăn uống,tắm giặt… mà còn là
môi trường tốt để phát triển các loại hình du lịch.
2.1.1. Vai trò của nước đối với sức khỏe con người
Nước rất cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh
vật. Nước cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan đến
nhiều quá trình sinh hoạt quan trọng. Muốn tiêu hóa, hấp thu sử dụng tốt
lương thực, thực phẩm... đều cần có nước. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho
thấy con người có thể sống nhịn ăn trong năm tuần, nhưng nhịn uống nước thì
không quá năm ngày và nhịn thở không quá năm phút. Khi đói trong một thời
gian dài, cơ thể sẽ tiêu thụ hết lượng glycogen, toàn bộ mỡ dự trữ, một nửa
lượng protein để duy trì sự sống. Nhưng nếu cơ thể chỉ cần mất hơn 10% nước là
đã nguy hiểm đến tính mạng và mất 20- 22% nước sẽ dẫn đến tử vong.
Nếu thiếu nước sẽ làm giảm sút tinh thần, khả năng tập trung kém và
đôi khi mất trí nhớ, sự chuyển hóa protein và enzym để đưa chất dinh dưỡng
đến các bộ phận khác của cơ thể sẽ gặp khó khăn. Ngoài ra, nước còn có
nhiệm vụ thanh lọc và giải phóng những độc tố xâm nhập vào cơ thể qua
đường tiêu hóa và hô hấp một cách hiệu quả. Uống đủ nước làm cho hệ thống
bài tiết được hoạt động thường xuyên, bài thải những độc tố trong cơ thể, có
thể ngăn ngừa sự tồn đọng lâu dài của những độc tố gây bệnh ung thư: uống
nước nhiều hằng ngày giúp làm loãng và gia tăng lượng nước tiểu bài tiết
9

9


cũng như góp phần thúc đẩy sự lưu thông toàn cơ thể, từ đó ngăn ngừa hình
thành của các loại sỏi ở đường tiết niệu, bàng quang, niệu quản.... Nước cũng

Hình 2.1. Nước cần cho SX nông
nhiệp Hình 2.2. Nước cần cho GTVT

Hình 2.3.Nước cần thiết cho thuỷ điện
Năm 1960 ở Liên Xô cũ, các ngành kinh tế xã hội sử dụng 270 tỷ m 3
nước, năm 1970 khoảng 540 tỷ m3 và năm 2000 tổng lượng nước dùng lên
đến 2.000 tỷ m3, trong đó dùng cho công nghiệp 480 tỷ m3, nông nghiệp 550
tỷ m3 (tổng lượng dòng chảy năm trên sông ngòi toàn Liên Xô cũ khoảng
4.358 tỷ m3). Ở Mỹ, năm 2000 đã sử dụng gần 1.000 tỷ m 3 nước trong số
1.600 tỷ m3 dòng chảy năm trong sông ngòi toàn quốc.
Miền Bắc nước ta có một mạng lưới sông ngòi dày đặc (trên 1080 con
sông trong tổng số 2360 con sông toàn quốc) nối chằng chịt đồng bằng với
đồi núi, miền ngược với miền xuôi. Từ Hải Phòng, Nam Định có thể đi vào
đến miền Trung theo các kênh đào lớn nhỏ, nguồn nước sông đang tưới chủ
11

11


động cho 32,01% tổng diện tích đất canh tác trong toàn quốc (World resource
Institute – 2010).
Nguồn nước sông là nguồn nước chủ động cho phát triển của nhà máy
thủy điện Thác Bà (Yên Bái), Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình), Sơn La (tỉnh Sơn
La), Thác Mơ (Tuyên Quang), Yaly (Gia Lai), Trị An (Đồng Nai), Sesan ( Đắk
Lắk). Năng lượng của nguồn nước sông ngòi có đến gần 500 tỷ kW/h hàng
năm. Nguồn nước sông ngòi của nước ta đúng là một nguồn tài nguyên vô
cùng phong phú. Nguồn tài nguyên đó đang được điều tra, nghiên cứu và khai
thác rộng rãi, phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước.
Do lượng mưa lớn, địa hình dốc, nước ta là một trong số 14 nước có
tiềm năng thủy điện lớn. Các nhà máy thủy điện hiện nay sản xuất khoảng 11

của lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam.Trong nhóm này có 4 lưu vực sông
chính là sông Mêkông,sông Hồng,sông Hồng,sông Mã,sông Cả với tổng
lượng dòng chảy toàn bộ 716,9km3/năm chiếm gần 84% tổng lượng dòng
chảy trong toàn quốc.Trong số 716,9km3/năm phần sinh ra trên lãnh thổ Việt
Nam là 189,62 km3/năm, chiếm 25,4% và phần sinh ra ở nước ngoài là 534,28
km3/năm chiếm 74,6%.Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sử dụng nước ở Việt
Nam khi các nước ở thượng nguồn khai thác triệt để nguồn nước sinh ra trên
lãnh thổ của nước mình.Như sông Mêkông với lượng nước hàng năm 505,0
km3/năm nhưng phần sinh ra ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 25,2
km3/năm,chiếm 5% tổng lượng dòng chảy.Còn sông Hồng và sông Thái Bình
với tổng lượng dòng chảy là 137,0 km 3/năm trong đó lượng dòng chảy sinh ra
ở Việt Nam là 93,0 km3/năm,chiếm tới 68% tổng lượng dòng chảycủa sông
Hồng.Đối với sông Mã và sông Cả tổng lượng dòng chảy sản sinh ra ở Việt
Nam là tương đối lớn cho nên việc điều tiết dòng chảy bằng các biện pháp
công trình có thể thực hiện được.
Nhóm 3: Nhóm hệ thống sông mà lưu vực nằm hoàn toàn trong lãnh
thổ Việt Nam.Các sông thuộc nhóm này bao gồm toàn bộ các sông còn lại ở
Việt Nam với tổng lượng dòng chảy tương ứng là 92,7 km 3/năm,chiếm 11,4%
tổng lượng dòng chảy toàn bộ.Lượng nước này chúng ta hoàn toàn chủ động
khai thác không ảnh hưởng đến các quốc gia khác.
13

13


2.2.1.2. Tài nguyên nước ngầm
Nước tàng trữ trong lòng đất cũng là một bộ phận quan trọng của
nguồn tài nguyên nước Việt Nam.Mặc dù nước ngầm được khai thác để sử
dụng cho sinh hoạt đã có từ lâu đời nay,tuy nhiên việc điều tra nghiên cứu
nguồn tài nguyên này một cách toàn diện và có hệ thống chỉ mới được tiến

phép 10mg/l.Đặc biệt vùng nhiễm asen phân bố gần như trùng với diện tích
phân bố của vùng có hàm lượng amoni cao,tập trung chủ yếu ở khu vực Đồng
bằng Bắc Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Kết quả quan trắc của Trung tâm Quan trắc và Dự báo tài nguyên
nước(Bộ Tài nguyên Môi trường)cũng cho thấy mực nước ngầm đang sụt
giảm mạnh,chất lượng nước ở nhiều nới không đạt tiêu chuẩn.Ở đồng bằng
Bắc bộ,mực nước ngầm hạ sâu,đặc biệt ở khu vực Mai Dịch (Cầu Giấy,Hà
Nội).Vào mùa khô,cả 7/7 mẫu đều có hàm lượng amoni cao hơn tiêu chuẩn
cho phép nhiều lần.Riêng ở Tân Lập (Đan Phượng,Hà Nội),hàm lượng amoni
lên đến 23,3 mg/l (gấp 233 lần tiêu chuẩn cho phép).Ngoài ra,còn có 17/32
mẫu có hàm lượng mangan(Mn) vượt quá hàm lượng tiêu chuẩn,4/32 mẫu có
hàm lượng Asen(As) vượt tiêu chuẩn….
Tại Đồng bằng Nam bộ,tại một số điểm quan trắc,mực nước đã hạ thấp
sâu,đặc biệt ở khu vực quận 12,quận Bình Tân (Thành phố Hồ Chí Minh),
hàm lượng mangan và metan cũng vượt quá tiêu chuẩn cho phép.Hiện
nay,theo đánh giá của các nhà khoa học,chỉ có Tây nguyên là vùng có tầng
nước ngầm khá an toàn.
Nguồn nước ngầm ô nhiễm chủ yếu do tác động của sự phát triển công
nghiệp, làng nghề cũng như sử dụng phân bón,hóa chất bảo vệ thực vật trong
nông nghiệp.Riêng với ngành công nghiệp dệt may,công nghiệp giấy và bột
giấy,hàm lượng nước thải có chứa xyanua(CN -) và hàm lượng NH3 vượt đến
84 lần so với tiêu chuẩn cho phép.Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Môi trường
cho rằng,việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước này ngày càng khó khăn khi các
nhà máy vẫn mọc lên với mật độ dày đặc,trong khi việc xử lý nguồn nước thải
hầu như không được chú trọng.
15

15



16


17.500 MW.Ngoài ra chưa kể đến tiềm năng thủy điện nhỏ.Hiện nay sản
lượng điện cho thủy điện phát hàng năm khoảng 23,8 kWh chiếm 51% tổng
sản lượng điện phát ra của cả nước.Hiện nay nước ta có các nhà máy thủy
điện lớn và vừa: Thác Bà,Hòa Bình,Trị An,Đa Nhim,Thác Mơ,Vĩnh
Sơn,Yali,Đa Mi…. Ngoài ra còn có 13 công trình đang lập báo cáo khả thi để
đưa vào xây dựng trong những năm sắp tới với công suất là 6,229 MW và
tổng điện phát ra là 27,6 tỷ kWh,6 công trình để nghiên cứu với công suất là
1,258 MW và tổng lượng điện phát ra là 5,54 tỷ kWh,các trạm thủy điện nhỏ
với công suất là 1.000 MW và tổng lượng điện phát ra là 2 tỷ kWh.
Tài nguyên nước sử dụng cung cấp cho sản xuất công nghiệp và dân cư:
Sử dụng nước cho sinh hoạt được xem xét ở 2 khu vực là thành thị và
nông thôn.Nước ta có khoảng hơn 600 đô thị các loại và gần 100 khu công nghiệp
tập trung với dân số khoảng 19 triệu 900 nghìn người,chiếm 25% dân số cả
nước.Tỷ lệ dân số thành thị được sử dụng nước sạch còn thấp mới chỉ đạt khoảng
70%.Hiện nay,tiêu chuẩn định nước cấp cho dân số đô thị còn thấp (40-50
lít/người/ngày), lượng nước bị thất thoát còn lớn (60-70%) do hệ thống hạ tầng
cấp nước xây dựng từ lâu,chắp vá,xuống cấp nghiêm trọng và quản lý kém.
Ở khu vực nông thôn,nơi có khoảng 75% dân số cả nước sinh sống.Trong
số đó mới chỉ có 42% dân số được sử dụng nước sạch cho sinh hoạt,số còn lại
phải sử dụng các vùng nước ao,hồ,sông,suối…không đảm bảo vệ sinh.
Mặt khác,do sự phân bố không đồng đều giữa các mùa trong năm,giữa
các vùng địa lý nên tình trạng khan hiếm nước cục bộ vẫn xảy ra ở một số
thành phố,ở các tỉnh miền núi phía Bắc,miền Trung và Tây Nguyên vào các
tháng mùa khô.
2.2.2. Hiện trạng chất lượng nước mặt
A) Trên thế giới
Tổng lượng nước trên Thế giới ước tính khoảng 1328 tỷ km 3.Trong đó

thác,các ngành công nghiệp có sử dụng KLN và các bãi chôn lấp chất thải
công nghiệp.Trong nước sông Rhine tại Hà Lan,nồng độ KLN trong nước
tăng dần từ đầu thế kỷ đến 1960,sau đó lại giảm dần nhờ các biện pháp xử lý
nước thải.Nồng độ Hg,Cd,Cr,Pb trong các năm 1990 tương ứng là 11mg/l,
18

18


2mg/l, 80m/l, 200mg/l.Nồng độ các nguyên tố này vào những năm 1960 tương
ứng là 8mg/l, 10mg/l, 600mg/l, 500mg/l. Đến năm 1980 tổng nồng độ
Hg,Cd,Cr,Pb trong nước sông Rhine là 5mg/l, 20mg/l, 70mg/l, 400mg/l.
Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp: Có khoảng 25% số trạm quan
trắc toàn cầu phát hiện các hóa chất hữu cơ chứa Cl - như DDT,Aldrin,Dieldrin
và PCB với nồng độ < 10mg/l.Tại một số dòng sông,nồng độ các hóa chất
này khá cao (100-1.000 mg/l) như sông Irent ở Anh,hồ Biwa và Yoda ở
Nhật.Ô nhiễm do Clo hữu cơ nặng nhất trên 100mg/l là ở một số sông thuộc
Columbia

(DDT&

Dieldrin)

Indonexia

(PCB),Malaixia(Dieldrin)



Tazania( Dieldrin).Gần đây ngày 13/1/2005,vụ nổ nhà máy hóa dầu ở thành

sinh ra trong lãnh thổ nước ta vào khoảng 10.240 m 3/người/năm. Với mức độ
tăng dân số như hiện nay vào năm 2025 tỷ lệ này sẽ chỉ còn tương ứng là
2.830 và 7.660 m3/người/năm.Theo tiêu chuẩn của Hội tài nguyên nước Quốc
tế,quốc gia có tỷ lệ nước bình quân đầu người thấp hơn 40.000 m 3 được đánh
giá là quốc gia thiếu nước.Trong khi đó nguồn nước mặt của nước ta đang bị
ô nhiễm nghiêm trọng.
Theo kết quả quan trắc cho thấy chất lượng nước ở thượng lưu các con
sông còn khá tốt nhưng vùng hạ lưu phần lớn bị ô nhiễm,nhiều nơi ô nhiễm
nghiêm trọng.Chất lượng nước suy giảm mạnh: nhiều chỉ tiêu như
BOD5,COD, NH4+,tổng N,tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.Đặc
biệt mức độ ô nhiễm ngày càng tăng cao vào mùa khô khi lưu lượng nước đổ
vào các con sông giảm.Hàm lượng BOD 5 và N-NH4+ ở một số hệ thống sông
chính đã có hiện tượng vượt tiêu chuẩn cho phép và dao động từ 1,5-3
lần.Hàm lượng chất rắn lơ lửng(SS) đều vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép
cột A (QCVN 08-2008/BTNMT) từ 1,5-2,5 lần.Chỉ số coliform tại một số con
sông lớn cũng đã vượt tiêu chuẩn cho phép cột A từ 1,5-6 lần (QCVN 082008/BTNMT).
Tại các ao hồ kênh rạch và các con sông nhỏ trong nội thành các thành
phố lớn như Hà Nội,Hồ Chí Minh,Hải Phòng,Huế cũng đang ở tình trạng ô
nhiễm nghiêm trọng vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép 5-10 lần (đối với tiêu
chuẩn nguồn nước mặt cột B1 theo QCVN 08-2008/BTNMT).Các hồ trong
20

20


nội thành phần lớn ở trạng thái phú dưỡng,nhiều hồ bị phú dưỡng hóa đột
biến và tái nhiễm bẩn hữu cơ không còn khả năng làm sạch nữa.
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt này nổi bật lên ở các điểm nóng
đó là báo động ô nhiễm nước ở 3 lưu vực sông: Cầu,Nhuệ-Đáy,hệ thống sông
Đông Nai.


trọng trong phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bằng sông Hồng,nhất là 5 địa
phương gồm: Hòa Bình,Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình,Nam Định.Vai trò của
hai dòng sông trên vừa là hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp,vừa đảm nhiệm
thoát nước đô thị.Tuy nhiên,môi trường,chất lượng nước lưu vực hai con sông
này đang ngày càng suy thoái do sự phát triển nhanh chóng của các làng
nghề,KCN của các địa phương trong lưu vực.
LVS Nhuệ- Đáy được xác định bị ô nhiễm do nguyên nhân chủ yếu là
nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp,nước thải sinh hoạt,nước thải
công nghiệp và nước thải làng nghề khi mỗi ngày sông Nhuệ-Đáy phải tiếp
nhận: 2.554.000 m3 nước thải từ trồng trọt và chăn nuôi (chiếm 62% tổng
lượng thải); 610.000 m3 nước thải sinh hoạt (chiếm 15%); 636.000 m3 nước
thải công nghiệp (chiếm 16%) và 15.500 m3 nước thải bệnh viện chiếm 0,4%,
…Các sông nội thành Hà Nội bị ô nhiễm nghiêm trọng,các đoạn sông Nhuệ
nhận nước từ sông Tô Lịch cũng có dấu hiệu bị ô nhiễm.Các giá trị
COD,BOD5 vượt quá tiêu chuẩn từ 3-5 lần.Nước sông màu đen,có váng,cặn
lắng và có mùi tanh.Đặc biệt,vào mùa khô,mức độ ô nhiễm càng trở nên trầm
trọng hơn.Kết quả các đợt quan trắc cuối năm 2005 cho thấy giá trị DO đạt rất
thấp.Giá trị COD vượt 7-8 lần,BOD 5 vượt 7 lần.Giá trịColiform cao hơn
QCVN 08-2008(cột B).
Sông Nhuệ gần như đã trở thành con sông “chết” vì nước bị ô nhiễm
nặng,hàm lượng oxy hòa tan trong mẫu nước lấy tại cầu Hà Đông,cầu Tó,Cự
Đà…đặc biệt là sau khi nhận nước từ sông Tô Lịch rất thấp,trong khi lượng
coliform,thông số COD, BOD5, NH4+… vượt tiêu chuẩn nhiều lần.
Theo kết quả giám định của Viện Quy hoạch thủy lợi,Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy,tại cầu Tó- nơi nhận nước thải lớn
nhất tại sông Tô Lịch- hàm lượng các chất hóa học đều vượt giới hạn B của
QCVN 08-2008 nhiều lần.Lượng NO2 có lúc đạt 0,508 mg/l (vượt giới hạn B
10 lần); lượng NH4+ là 2,005 mg/l (gấp đôi giới hạn B); lượng coliform từ
110.000-330.000 MPN/100 ml (vượt quá giới hạn B 33 lần).

nghiệp hoá; hiện đại hoá; cơ sở hạ tầng yếu kém; lạc hậu; nhận thức của
người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao…. Đáng chú ý là sự bất trong
hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền,

23

23


cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi
trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là
loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời
sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Các quy định
về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các
quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn
nước). Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa
phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng.
Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước
theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong
việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình
trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước.
2.3.1 Ô nhiễm do hoạt động tự nhiên
Là sự ô nhiễm do mưa, tuyết tan, gió, bão, lũ lụt. Nước mưa rơi xuống
đất, mái nhà, đường phố đô thị, khu công nghiệp…, kéo theo các chất thải bẩn
xuống sông, hồ hoặc các sản phẩm của các hoạt động sống của sinh vật vi
sinh vật kể cả xác chết của chúng. Sự ô nhiễm này còn gọi là sự ô nhiễm
không xác định được nguồn gốc. Nguyên nhân nguồn nước nhiễm bẩn là do
thảm thực vật phục hồi sau khi rừng tự nhiên bị chặt phá chưa đủ để giảm
thiểu tác động của dòng chảy do nước mưa, dẫn đến đất bị xói mòn, rửa trôi
làm tăng độ đục của sông chảy qua địa bàn dân cư ảnh hưởng đến công trình

ngầm giảm trên diện rộng và gây ô nhiễm nước dưới đất.Cà Mau mực nước
ngầm giảm từ 4m xuống 11m trong 8 năm.Ngoài ra công trình khai thác nước
dưới đất còn có hàng nghìn lỗ khoan xuyên vào tầng trữ nước với các mục
đích khác nhau: thăm dò địa chất,khảo sát phục vụ xây dựng dân dụng,giao
thông,thủy lợi… Việc khai thác quá mức nguồn nước đã và đang làm suy
giảm nghiêm trọng chất lượng nước.
25

25


Trích đoạn Ảnh hưởng tới sức khỏe con ngườ Ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Các giải pháp về quản lý Giải pháp về mặt kinh tế PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status