TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT TRONG NGHỊ LUẬN VĂN
HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRƢỜNG THPT CÒ NÒI MAI SƠN - SƠN LA
Thuộc nhóm ngành: XH2a
Sơn La, tháng 05 năm 2017
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT TRONG NGHỊ LUẬN VĂN
HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRƢỜNG THPT CÒ NÒI MAI SƠN - SƠN LA
Thuộc nhóm ngành: XH2a
Sinh viên thực hiện: Hà Thị Tươi
Nam, nữ: Nữ
Dân tộc: Thái
Thần Thị Chẳm
Nam, nữ: Nữ
thiếu sót. Vì vậy chúng em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của quý
thầy cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2017
Người thực hiện:
Hà Thị Tươi
Thần Thị Chẳm
Điêu Thị Hậu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 2
3. Mục đích - đối tượng nghiên cứu.................................................................... 3
4. Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 4
6. Giả thuyết khoa học………………………………………………………….6
7. Cấu trúc đề tài ................................................................................................ 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ............................ 7
1.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................ 7
1.1.1. Khái niệm về văn nghị luận văn học ......................................................... 7
1.1.2. Đặc điểm của văn nghị luận văn học ........................................................ 8
1.2. Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 22
1.2.1. Chương trình SGK.................................................................................. 22
1.2.2. Thực tiễn dạy và học .............................................................................. 23
Tiểu kết ............................................................................................................ 26
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HS LỚP 12 ......................... 27
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
HS
: Học sinh
GV
: Giáo viên
NXB
: Nhà xuất bản
SGK
: Sách giáo khoa
THPT
: Trung học phổ thông
Tr
: Trang
THCS
: Trung học cơ sở
Cò Nòi-Mai Sơn-Sơn La, chúng tôi thấy rằng nhìn chung các em đã nắm đuọce
những yêu cầu cơ bản của một bài văn nhưng với văn nghị luận văn học thì HS
còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế trong tạo lập văn bản đặc biệt là cách diễn đạt
trong nghị luận văn học.
1.4. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, HS chưa thực sự chú ý và rèn luyện
cho mình những kĩ năng viết bài hiệu quả. Trong đó diễn đạt là kĩ năng rất quan
trọng trong bài văn nhưng chưa được các em thực sự quan tâm, các em viết bài
theo cảm tính của mình, có em còn chép bài văn mẫu. Trên thực tế ở trường
trung học phổ thông Cò Nòi- Mai Sơn- Sơn La chủ yếu là học sinh dân tộc, kĩ
năng viết bài còn yếu và việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong việc viết văn chưa
thực sự được quan tâm.
Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Rèn luyện kĩ năng diễn đạt
trong nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi- Mai SơnSơn La” để nghiên cứu.
1
2. Lịch sử vấn đề
Rèn luyện kĩ năng diễn đạt là một kĩ năng quan trọng khi tạo lập văn bản
nghị luận ở trường phổ thông nên rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong bài văn nghị
luận văn học cho HS trường THPT là một vấn đề được các nhà nghiên cứu hết
sức quan tâm.
Cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt”, NXB Giáo dục, Lê A- Nguyễn
Quang Minh- Bùi Minh Toán đã nêu ra những vấn đề chung về phương pháp
dạy học Tiếng việt và phương pháp dạy học các hợp phần Làm văn ở THPT.
Đồng thời các tác giả đưa ra một số vấn đề lí thuyết về cách sử dụng từ ngữ làm
cơ sở lí luận cho đề tài này.
Trong cuốn SGK lớp 12 (tập 2)- bộ cơ bản (2015), NXB Giáo dục- Phan
Trọng Luận, đã đưa ra yêu cầu đối với học sinh khi diễn đạt là phải biết sử dụng
từ ngữ, cách kết hợp các kiểu câu, xác định giọng điệu phù hợp. Từ đó, tác giả
khái quát lên cách diễn đạt sao cho đúng và phù hợp với yêu cầu của một bài
đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn
học cho học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi, từ đó góp phần nâng cao chất
lượng học văn cho học sinh.
Các tài liệu trên đây sẽ là định hướng cho chúng tôi nghiên cứu, đó sẽ là
những cơ sở lí thuyết để đề tài được chặt chẽ. Đề tài cũng chỉ là sự kế thừa, nối
tiếp những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước với mục đích cụ thể
hơn về cách diễn đạt trong nghị luận văn học cho một đối tượng cụ thể. Hi vọng
đay sẽ là công trình nghiên cứu thiết thực đối với học sinh lớp 12 nói chung và
học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi nói riêng.
3. Mục đích - đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm giúp các em nâng cao nhận thức và rèn luyện
kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận sao cho hiệu quả nhất qua đó nâng cao chất
lượng dạy và học Làm văn ở nhà trường THPT.
Đúc rút những kinh nghiệm trong học và nghiên cứu, báo cáo kết quả sau 4
năm học tập và rèn luyện ở trường đại học, cũng như chuẩn bị kiến thức, tư thế
vững vàng trước khi bước vào giảng dạy môn Ngữ Văn ở trường phổ thông.
Trau dồi kinh nghiệm và thao tác để sẵn sàng cho hoạt động nghiên cứu khoa
học sau này.
3
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đề xuất các giải pháp rèn luyện kĩ năng diễn đạt
trong văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi- Mai
Sơn-Sơn La.
4. Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ của đề tài
Từ việc khảo sát thực tế về kĩ năng diễn đạt trong nghị luận văn học của
học sinh lớp 12 trường THPT Cò Nòi-Mai Sơn-Sơn La đề tài đề ra nhiệm vụ:
Bởi vậy, sau khi nghiên cứu những vấn đề lí thuyết chúng tôi đã tiến hành
khảo sát thực tế như: tiến hành dự giờ, trao đổi thực tiễn, thăm dò ý kiến của các
em qua sử dụng phiếu điều tra.
5.3. Phƣơng pháp thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp tổ chức, triển khai giả thuyết
khoa học và giảng dạy từ thực trạng dạy học và tiếp nhận kiểu bài này chúng tôi
tiến hành kiểm tra, đánh giá và thay đổi, điều chỉnh một số vấn đề mà đề tài đề
tài đề xuất.
Phương pháp này được thực hiện trên một số những phương diện sau:
- Xây dựng cơ sở thực nghiệm sư phạm thông qua các bài thiết kế nội dung
dạy học.
- Tổ chức thực hiện giảng dạy ở trường phổ thông .
- Cho học sinh tiến hành làm bài theo phương pháp mới.
- Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy kiểm tra, và đánh giá nhận thức
kĩ năng diễn đạt cho học sinh từ đó đề xuất một số giải pháp về việc rèn luyện
các kĩ năng diễn đạt trong văn nghị luận văn học cho học sinh, đồng thời khẳng
định mức độ thành công của đề tài.
5.4. Phƣơng pháp thống kê
Đây là một trong những phương pháp của toán học. Là phương pháp thu
thập dữ liệu, tóm tắt thông tin nhằm hỗ trợ cho việc tìm hiểu một vấn đề hoặc
một đối tượng nào đó. Từ đó đưa ra các kết luận hoặc ước lượng thông qua các
dữ liệu thu thập được.
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu thu nhận được
trong quá trình điều tra, thể nghiệm.
5
6. Giả thuyết khoa học
Kĩ năng diễn đạt trong nghị nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Nếu các đề
năng để làm văn bản tự sự.
Nếu như bài văn thiên về trình bày các ý kiến, các lí lẽ được gọi là lối văn
nghị luận. Đây là lối văn bao hàm tất cả các lối văn nêu trên, song chủ yếu nó
nhằm trình bày các ý kiến, các lí lẽ, các dẫn chứng để giải thích, chứng minh,
biện luận thuyết phục về một vấn đề nào đó được đặt ra. Nó nhằm tác động vào
trí tuệ, lí trí, sự suy luận của người đọc nhiều hơn vào tư tưởng tình cảm, cảm
xúc. Nó là sản phẩm của tư duy lôgic.
Có thể hiểu một cách đơn giản, văn nghị luận là sự bàn bạc thảo luận để
đi tới khẳng định hay bác bỏ một vấn đề nào đó. Để khẳng định hay bác bỏ thì
phải lập luận, mà muốn lập luận phải có lí lẽ, dẫn chứng. Như vậy, lí lẽ và dẫn
chứng là phương tiện, còn lập luận là phương thức để nghị luận. Văn nghị luận
có đề tài, chủ đề là những vấn đề thuộc phạm vi chính trị, xã hội hoặc văn học.
“Nói một cách khái quát văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết
đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn
7
luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng với những ý kiến của mình và
hành động theo những điều mà mình đề xuất”.[ tr.173]
Văn nghị luận theo cách hiểu truyền thống bao gồm hai loạsi là nghị luận
văn học và nghị luận xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ
nghiên cứu về mảng nghị luận văn học.
Nghị luận văn học là lối văn nghị luận mà nội dung là một vấn đề văn
học. Vấn đề văn học ấy có thể là: một ý kiến bàn về lí luận văn học, nhận định
về một nền văn học, một thời kì hoặc một xu hướng văn học, một tác gia hay
một tác phẩm văn học.
1.1.2. Đặc điểm của văn nghị luận văn học
1.1.2.1. Văn nghị luận là hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng tƣ duy logic
Tư duy logic và tư duy trừu tượng chính là 2 hình thức giúp con người
1.1.2.2. Văn nghị luận hƣớng tới mục đích thuyết phục
Nghị luận không đơn thuần chỉ là nhận thức mà còn chủ yếu là thuyết
phục, bởi đối tượng nghị luận bao giờ cũng có tính vấn đề, nghĩa là trong bản
thân nó còn chứa đựng nhiều quan niệm, nhiều đánh giá cần làm sáng tỏ, cần
được chứng minh, mà chứng minh là sử dụng, vận dụng lí lẽ, dẫn chứng để
khẳng định luận điểm nào đó là đúng đắn, xác thực, các lí lẽ dẫn chứng phải
lựa chọn thật tiêu biểu, trình bày rõ ràng, mạch lạc. Bởi đối tượng của văn
nghị luận bao giờ cũng có tính vấn đề, nghĩa là bản thân nó còn chứa đựng
nhiều quan niệm, nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ, cần được chứng minh. Hơn
nữa thực chất của nghị luận là giao tiếp, mà giao tiếp là phải có sự trao đáp,
nghĩa là ở đó tồn tại hội thoại nên đích thuyết phục trong cuộc giao tiếp ấy rất
quan trọng và cần phải có.
Khi viết một bài văn nghị luận bao giờ người cầm bút cũng có nhân vật
đối thoại ngầm, nhân vật này luôn đòi hỏi được hiểu một cách toàn diện tính vấn
đề hay nói cách khác là đối tượng nghị luận. Ngoài ra còn có các ý kiến không
đồng tình mà phản bác lại người lập luận, vì thế người lập luận phải có năng lực
nhất định để nghị luận sao cho thuyết phục.
Muốn thyết phục được người đối thoại ngầm người lập luận phải đưa ra các
lí lẽ, dẫn chứng tán đồng với quan điểm, sự đánh giá của người viết và nhất định
phải luôn hướng đến đích thuyết phục, ngoài ra còn có thể dựa vào các chân lí đã
được khẳng định để dẫn dắt người đọc nhận thức và tin tưởng chân lí đó.
9
1.1.2.3. Đặc điểm về nội dung và kết cấu
a. Đặc điểm về nội dung
* Thống nhất giữa trí tuệ của ngôn ngữ khoa học với tính cảm xúc của ngôn
ngữ nghệ thuật.
Khác hẳn với ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương mang đậm tính hình
tượng và cảm xúc, văn nghị luận chủ yếu là tiếng nói đi thẳng vào lí trí người
đoạn, tiêu đề, trong trình bày, thuyết minh, biện luận,…Với mỗi bài văn nghị
luận nói chung và văn học riêng, bao giờ cũng gồm kết cấu như sau: mở bài,
thân bài, kết bài.
1.1.2.4. Diễn đạt trong văn nghị luận
Diễn đạt là tỏ rõ nội dung tư tưởng, tình cảm bằng ngôn ngữ hoặc hình
thức nào đó được người nói, người viết sử dụng các lí lẽ, dẫn chứng để hướng
đến đích thuyết phục. Bên cạnh đó phải biết cách trình bày mạch lạc, dẫn dắt sao
cho việc diễn đạt bài văn nghị luận chặt chẽ, logic. Mặt khác, diễn đạt phải có
đích, đích của diễn đạt là dựa vào các chân lí đã có sẵn để dẫn dắt người đọc tin
tưởng vào chân lí đó.
Trong khi diễn đạt người viết, người nói phải đảm bảo những yêu cầu :
bài văn phải có những ý sâu sắc, mới mẻ, phù hợp với yêu cầu của đề. Phải được
diễn đạt bằng những từ ngữ, câu văn, đoạn văn chính xác, sinh động, truyền cảm
và giàu sức thuyết phục. Cần dùng từ đúng nghĩa, đặt câu đúng ngữ pháp, hành
văn trong sáng, phù hợp với nội dung biểu đạt, thể hiện chính xác ý nghĩ và tình
cảm của bản thân. Ngoài ra, cần chú ý thêm một số điểm như lời văn nghị luận
cần có tính biểu cảm, cần tránh lối dùng từ khuôn sáo, lối viết khoa trương, khoe
chữ, nhận định, đánh giá cực đoan, dùng hình ảnh hoặc từ cảm thán tràn lan,
không đúng chỗ,…
Trong việc hoàn thiện bài văn nghị luận cần chú ý đến hai yêu cầu. Thứ
nhất bài viết phải đủ ý. Thứ hai bài viết phải có “chất văn”. Yêu cầu về ý nghĩa,
về nội dung nghĩa là tìm tòi, phát hiện lựa chọn và nêu các vấn đề, ý kiến. Yêu
cầu về “chất văn” nghiêng về trình bày, diễn đạt. Trong thực tế, có nhiều bài viết
đủ ý, có những phát hiện mới về nội dung nhưng diễn đạt chưa hay, thậm chí
còn vụng về. Do vậy, bên cạnh rèn luyện kĩ năng tìm ý, lập ý cần rèn luyện kĩ
năng diễn đạt: dùng từ, đặt câu, sử dụng tu từ,…
11
12
nhất, khác biệt… Từ đó nhìn ra bản chất của sự vật khách quan thông qua hệ
thống khái niệm chứa đựng trong từ. Vì thế việc nắm được các từ và cách sử
dụng các từ ngữ sao cho phù hợp rất quan trọng trong mục đích giáo dục ngôn
ngữ, giáo dục thẩm mĩ và là điều kiện không thể thiếu để rèn luyện kĩ năng diễn
đạt trong một bài văn nghị luận.
Khi sử dụng từ ngữ trong bài văn nghị luận cần lưu ý.
Thứ nhất, cần lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề cần nghị
luận; tránh dùng từ lạc phong cách hoặc những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì.
Xét ví dụ : Vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh qua một số bài thơ của tập Nhật
kí trong tù: Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi.
(1) Chúng ta hẳn ai cũng nghe nói về tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí
Minh. Tập thơ gồm những bài được bác làm trong lúc nhàn rỗi ở nhà lao cực
khổ của bọn Tưởng Giới Thạch. Bác vốn chằng thích làm thơ: “Ngâm thơ ta
vốn không ham…”.Nhưng trong hoàn cảnh nhà tù khổ sở, tăm tối, tâm hồn tác
giả Hồ Chí Minh vẫn mang một vẻ đẹp lung linh. Vẻ đẹp ấy thể hiện rõ trong
các bài thơ: Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi.
(2) Nhắc đến sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh, chúng ta không thể
không nhắc tới tập thơ Nhật kí trong tù. Tập thơ được viết trong những thời
khác hiếm hoi-được thanh nhàn bất đắc dĩ của Bác giữa chốn lao tù. Thơ không
phải là mục đích cao nhất của người chiến sĩ cách mạng, như Người đã tự bạch
một cách thật khiêm tốn:
“Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây?”
Nhưng những vần thơ vang lên trong cảnh tù đầy, “tê tái gông cùm” lại
là những “vần thơ thép” “mà vẫn mênh mông bát ngát tình”. Bởi lẽ, với người
nghệ sĩ-chiến sĩ ấy, chỉ có “thân thể trong lao”, còn tinh thần Người vẫn vượt
thoát qua chấn song, qua xiềng xích, qua dây trói của nhà tù. Chiều tối, Giải đi
(Xuân Diệu, Lời tựa cho tập Lửa thiêng,
NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995)
Các từ ngữ im đậm được sử dụng đều thuộc lĩnh vực tinh thần mang nét
nghĩa chung: u sầu, lặng lẽ, rất phù hợp với tâm trạng của nhà thơ Huy Cận
trong tập Lủa thiêng. Các từ ngữ giàu tính gợi cảm như: đìu hiu, ngậm ngùi dài,
than van, cảm thương,… cùng với lối xưng hô đặc biệt (chàng) và hang loạt các
14
thành phần đồng chức nếu bật sự đồng điệu giữa người viết (Xuân Diệu) với nhà
thơ Huy Cận.
Vì vậy, khi sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận người viết cần biết tránh
các lỗi về dùng từ, biết lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp sẽ giúp bài văn sinh
động, hấp dẫn và đạt tới chuẩn mực diễn đạt trong bài văn nghị luận.
c. Cách sử dụng kết hợp các kiểu câu
Dạy và học về câu không thể chỉ dừng ở mô hình cấu tạo của câu, ở việc
tìm hiểu câu trong trạng thái cô lập, tách biệt khỏi mối liên hệ với hoàn cảnh
giao tiếp, với những câu khác trong ngôn bản mà cần khảo sát câu trong mối liên
hệ, liên kết, kết hợp các kiểu câu trong văn nghị luận.
Về mặt hình thức cấu tạo, khi đặt câu vào hoạt động hành chức của nó,
cũng có hàng loạt vấn đề nảy sinh như vấn đề lựa chọn trật tự trong câu, vấn đề
sự liên kết các câu trong văn bản và sự liên hệ qua lại của câu về mặt cấu tạo
ngữ pháp thể hiện qua các trường hợp mở rộng câu và tách câu. Việc dạy và học
về câu không chỉ cung cấp kiến thức, nâng cao nhận thức về các bình diện của
câu, mà còn rèn luyện các kĩ năng tạo câu trong các hoạt động nói và viết sao
cho học sinh ngày càng vững vàng và thành thạo trong việc tạo lập các câu, liên
kết các câu trong văn bản vừa đúng với cấu tạo ngữ pháp bên trong, vừa thích
hợp với việc thể hiện nội dung ý nghĩa (nhận thức tư tưởng tình cảm) định biểu
lộ, lại vừa phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và các câu khác trong ngôn bản. Hơn
nữa, việc gắn với chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương còn được thực
hơn thái độ, cảm xúc.
Ví dụ:
“Cái làng Thiện Vịnh trong thơ Nguyễn Bính cũng chỉ là một bóng mơ.
Làng Thiện Vịnh thật có giữa vùng chiêm khê mùa thối đất Nam Định, Thái
Bình, đâu đâu cũng xơ xác nước trắng đồng, gió lùa sóng đồng cờn lên, quằn
quại, lật thuyền mảng, cả đến người ra cứu lúa cũng chết đuối. Mỗi năm, mỗi
mùa, biết bao người đã bỏ làng đi tha phương. Nhà thơ bó gối ngồi nhìn vào
trong đêm . Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng. Nhà thơ tưởng tượng, trên những khổ
cực ấy, phấp phới những lứa tuổi đang tơ, hoa cải vàng tháng chạp, mưa dây
mưa dợ, trăng rằm sáng như ban ngày và những đêm chèo hát…
Thơ là niềm khao khát, là ước nguyện của con người. Khi chưa quen
Nguyễn Bính, tôi cũng không thật hiểu được những bài thơ viết về đồng quê của
16
Nguyễn Bính và cũng chưa phân biệt được đâu là chút lòng mộc mạc thiết tha
của người làm thơ, đâu là cái hoa hòe hoa sói của chàng trai quê ra tỉnh”.
(Tô Hoài, Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn học, Hà Nội, 1986)
Bài tập trên yêu cầu tập trung đánh giá hiệu quả của cách sử dụng kết hợp
các kiểu câu.
Đoạn trích chủ yếu sử dụng đoạn văn miêu tả với những từ ngữ, hình ảnh
giàu tính hình tượng. Việc sử dụng các kiểu câu này có tác dụng gợi lên ở người
đọc những tưởng tượng cụ thể, sinh động về làng quê của nhà thơ Nguyễn Bính,
giúp người đọc hiểu hơn “chân quê” trong thơ của ông.
Khi phân tích giá trị câu: “Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng” : ta nhận thấy
câu ngắn gọn hơn so với câu trước và câu sau nó, có tác dụng dồn nén thông tin,
như một sự khẳng định chắc gọn, dứt khoát. Câu không chủ ngữ nên có giá trị
khái quát. Điều chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng không phải của riêng người viết,
không phải của riêng ai mà cho tất cả mọi người đọc và nghĩ về cảnh làng quê
mộc mạc, yên bình của Nguyễn Bính.
caí giọng mỉa mai, hờn mát, đay đả của tác giả khi nói đến những luật này:
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau”
Tác giả không thản nhiên ghi nhận cái luật oái oăm này. Thái độ của tác
giả bao hàm nhiều sắc thái. Từ “khéo là” có bao nhiêu nghĩa thì cái giọng của
tác giả biểu hiện ở đây có bấy nhiêu sắc thái: mỉa mai, hờn mát, bỡn cợt, châm
chọc,… “Tài mệnh tương đố” không phải là tư tưởng của Truyện Kiều.Triết lí
của Truyện Kiều là ở cái giọng của tác giả khi nói về tư tưởng này, nói ở chữ
“khéo là” xen vào câu “tài mệnh tương đố”.
“Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
Cũng như cách phân tích ở trên “bỉ sắc tư hồng nhan bạc mệnh” không
phải là tư tưởng đích thực của Truyện Kiều. Ở cái giọng của tác giả rất rõ. Trước
luật cõi đời và luật của trời, Nguyễn Du là một người đáo để với cái giọng đay
đả, đay nghiến của ông: “Lạ gì..” ở đây bộc lộ một thái độ dè bỉu, bực tức, chán
ngán. Khi ta nói “Lạ gì anh ấy” thì hoặc là ta dè bỉu, hoặc là ta bực tức, hoặc là
ta chán ngán…anh ấy, chắc không phải là một thái độ thiện cảm.
18
Cái giọng văn của Nguyễn Du khi nói đến luật “hồng nhan bạc mệnh” bao
hàm một thái độ đối với “trời xanh”, một cái giọng sắng và có thái độ sấc. Với
thái độ ấy và cái giọng ấy, nhà thơ có chửi luôn cả trời thì chẳng có gì đáng ngạc
nhiên. Nếu như “trời xanh quen thói” thì sự “má hồng đánh ghen” không thể là
một điều tốt lành.
(Giọng điệu trong văn chương- GS. Hoàng Ngọc Hiến)
Trong nghị luận văn học để đạt hiệu quả ngoài cách sử dụng từ ngữ thích
hợp, cách sử dụng kết hợp các kiểu câu thì giọng điệu cũng là một yếu quan
trọng.Giọng điệu cơ bản của lời văn nghị luận văn học là trang trọng, cô đọng,