Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

PHẠM THỊ THU HUYỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI
CHÍNH ĐẾN HÀNH VI RA QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ
ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

PHẠM THỊ THU HUYỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI
CHÍNH ĐẾN HÀNH VI RA QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ
ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN THỊ KIM CÚC

1.1.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở nước ngoài ............10
1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước liên quan .............................................12
1.2.1 Nội dung các nghiên cứu trước có liên quan .............................................12
1.2.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở trong nước ............16
1.3 Khe hổng trong nghiên cứu ..............................................................................17
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MINH BẠCH TTTC VÀ HÀNH VI
RA QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN...........................................19
2.1 Một số vấn đề chung về minh bạch TTTC và hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá
nhân ........................................................................................................................19
2.1.1 Minh bạch TTTC .......................................................................................19
2.1.1.1 Một số khái niệm ................................................................................19
2.1.1.2 Quy định hiện hành về CBTT trên TTCK Việt Nam hiện nay ...........23
2.1.2 Hành vi ra quyết định của nhà đầu tư ........................................................24
2.2 Các lý thuyết nền liên quan đến tính minh bạch TTTC và hành vi ra quyết
định của nhà đầu tư ................................................................................................25
2.2.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng...............................................................25
2.2.2 Lý thuyết người đại diện ...........................................................................27


2.2.3 Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin .........................................................29
2.2.4 Lý thuyết hành động hợp lý ......................................................................30
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................32
3.1 Quy trình nghiên cứu .......................................................................................32
3.1.1 Thiết kế nghiên cứu ...................................................................................32
3.1.2 Khung nghiên cứu của luận văn ................................................................34
3.1.3 Quy trình thực hiện....................................................................................34
3.2 Mô hình nghiên cứu .........................................................................................36
3.3 Giả thuyết nghiên cứu ......................................................................................40
3.4 Phương pháp thu thập mẫu ..............................................................................42
3.5 Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi ...................................................43

PHỤ LỤC 4
PHỤ LỤC 5
PHỤ LỤC 6
PHỤ LỤC 7
PHỤ LỤC 8


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu

Diễn giải

BCTC

Báo cáo tài chính

BGĐ

Ban giám đốc

CBTT

Công bố thông tin

CTCP

Công ty cổ phần

CTNY



TTCK

Thị trường chứng khoán

TTGDCK

Trung tâm giao dịch chứng khoán

TTTC

Thông tin tài chính


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1. Thang đo hành vi nhà đầu tư cá nhân ..........................................45
Bảng 3.2. Thang đo minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn .........................46
Bảng 3.3. Thang đo minh bạch TTTC .........................................................49
Bảng 3.4. Minh bạch cấu trúc, hoạt động của HĐQT và BGĐ ...................51
Bảng 4.1.Thống kê mẫu quan sát .................................................................56
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định các thang đo bằng Cronbach’s Alpha ...........58
Bảng 4.3. Kiểm định KMO và Bartlett (1) ..................................................60
Bảng 4.4. Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các
nhân tố đại diện (1).......................................................................................61
Bảng 4.5. Ma trận xoay nhân tố ...................................................................62
Bảng 4.6. Kiểm định KMO và Bartlett (2) ..................................................64
Bảng 4.7. Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các
nhân tố đại diện (2).......................................................................................65
Bảng 4.8.Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo lần 2 ....................................65

(TTTC) hay nói cách khác minh bạch thông tin mà nhà đầu tư quan tâm chính là
minh bạch thông tin tài chính. Hiện nay TTTC của các công ty niêm yết (CTNY)
trên thị trường chứng khoán (TTCK) ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với nhà
đầu tư vì nó là cơ sở để nhà đầu tư đưa ra quyết định. Chất lượng thông tin được
trình bày trên BCTC là yếu tố quyết định cho thị trường tài chính hiệu quả. Tuy
nhiên hiện tại việc trình bày và CBTT tài chính như thế nào để thỏa mãn nhu cầu
của người sử dụng thì vẫn là một khoảng cách khá lớn giữa mong đợi và thực tế.
Tuy nhiên với việc xuất hiện tình trạng chênh lệch số liệu lợi nhuận của các
CTNY trước và sau kiểm toán đã trở thành câu chuyện “thường ngày ở huyện” điển
hình trong thời gian gần đây như: Tổng công ty cổ phần (CTCP) Xây lắp Dầu khí
Việt Nam (PVX) có kết quả lợi nhuận sau thuế hợp nhất 2014 đã kiểm toán sụt
giảm tới gần 70 tỷ đồng, từ 80,08 tỷ đồng xuống còn 10,31 tỷ đồng. Hay CTCP
Ntaco (ATA) lỗ 14,4 tỷ đồng thay vì lãi 187 triệu đồng như ban đầu. Tập đoàn
Xăng dầu (Petrolimex, sàn OTC) báo lỗ sau thuế hợp nhất hơn 9 tỷ đồng thay vì lãi
4,8 tỷ đồng như công bố trước đó… Việc điều chỉnh lợi nhuận dù theo chiều hướng
từ lỗ sang lãi hay ngược cũng sẽ khiến nhà đầu tư thiệt hại. Nhà đầu tư trót bán ra
giá thấp khi công ty báo lỗ ban đầu sẽ phải nuối tiếc khi cổ phiếu tăng giá do doanh
nghiệp báo lãi sau kiểm toán, còn nếu họ trót “ôm” cổ phiếu khi doanh nghiệp báo
lãi hoặc lãi lớn trong BCTC tự lập sẽ chịu thiệt hại nặng khi lợi nhuận sau kiểm
toán sụt giảm mạnh hoặc lỗ. Tất cả những vụ bê bối về tài chính phía trên trong
thời gian gần đây đang dấy lên một hồi chuông cảnh tỉnh về lòng tin của nhà đầu tư


2

đối với sự minh bạch TTTC trên BCTC hiện nay.
Tại Việt Nam hiện nay vấn đề về sự minh bạch TTTC của các CTNY trên
TTCK đã giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Đình
Hùng (2010), Lê Thị Mỹ Hạnh (2015)... Chủ yếu những nghiên cứu này tập trung
nghiên cứu những nhân tố tác động đến minh bạch thông tin tài chính hay xây dựng

trường là các cổ phiếu phổ thông của các công ty, tương tự như vậy chứng khoán
nợ trên thị trường hiện nay là trái phiếu nhà nước, trái phiếu công ty… Sự giống
nhau của cả 2 loại chứng khoán này là khi chuyển nhượng, cầm cố đều được hưởng
chênh lệnh giá đều được nhận lãi tuy nhiên nếu là trái phiếu thì phần lãi nhận được
là lãi trên mệnh giá trái phiếu còn cổ phiếu thì lãi ở đây chính là cổ tức tùy theo
chính sách của từng công ty. Có rất nhiều điểm khác biệt giữa 2 loại chứng khoán
trên, tuy nhiên khác biệt lớn nhất là rủi ro thanh toán. Trong đó chứng khoán nợ là
loại chứng khoán có rủi ro thấp hơn đặc biệt là trái phiếu chính phủ được xem là
loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại chứng khoán có tính
thanh khoản cao. Do đó tùy thuộc vào mức độ yêu thích rủi ro mà nhà đầu tư có thể
đưa ra quyết định lựa chọn loại chứng khoán cho phù hợp. Tuy nhiên khi xét đến
minh bạch TTTC đối với hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK
thì chứng khoán vốn hay cổ phiếu là cần thiết hơn chứng khoán nợ. Do đó trong
phạm vi nghiên cứu của luận văn này thì thuật ngữ chứng khoán được xem xét ở
đây là chứng khoán vốn hay cụ thể là cổ phiếu.
Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề cũng như một số khía cạnh của
vấn đề này vẫn còn có khả năng khai thác và mở rộng nên tác giả quyết định chọn
đề tài “Ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư
cá nhân trên TTCK Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Sau khi nghiên cứu đề tài
này, tác giả kỳ vọng sẽ tìm thêm được bằng chứng củng cố việc nhận thức của nhà
đầu tư về tính minh bạch TTTC có ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của nhà
đầu tư cá nhân, từ đó đề xuất biện pháp góp phần minh bạch hóa TTTC giúp nâng
cao niềm tin của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Xác định được các nhân tố ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi ra
quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam.


4


5

được thực hiện từ tháng 8/2016 đến tháng 10/2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.
Cụ thể:
Phương pháp định tính: tổng hợp tài liệu, phân tích, lựa chọn mô hình
nghiên cứu phù hợp.
Phương pháp định lượng gồm có:
+ Tính hệ số Cronbach’s Anpha để đánh giá độ tin cậy thang đo các biến
đồng thời thực hiện kiểm định EFA để tìm thang đo mới.
+ Kiểm định T-test, ANOVA để kiểm định sự khác biệt của hành vi nhà đầu
tư cá nhân theo đặc điểm nhân khẩu học: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn. Phân
tích tương quan và hồi quy tuyến tính để xem xét mức độ ảnh hưởng của biến nhận
thức nhà đầu tư cá nhân về minh bạch TTTC đến hành vi ra quyết định của nhà đầu
tư cá nhân trên TTCK Việt Nam.
6. Những đóng góp của luận văn
Trên cơ sở kết quả thực hiện, luận văn sẽ tìm ra được luận cứ khoa học về
tác động giữa minh bạch TTTC đối với hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá
nhân trên TTCK. Từ đó tác giả sẽ đưa ra các giải pháp nâng cao tính minh bạch
TTTC để góp phần gia tăng niềm tin của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam.
7. Điểm mới của luận văn
Kế thừa nghiên cứu của tác giả Torabi R và Aali A (2014), luận văn sẽ tiếp
cận ở góc độ ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi ra quyết định của
nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam. Minh bạch thông tin trong đề tài
được tác giả đề cập tới ba vấn đề cụ thể là minh bạch cấu trúc quyền sở hữu
vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc, hoạt động của HĐQT, BGĐ.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn được kết cấu gồm 5 chương, cụ thể như sau:

1.1.1 Nội dung các nghiên cứu trước
Nếu xét về nội dung các nghiên cứu liên quan đến việc tìm các nhân tố tạo
ra sự minh bạch thông tin của các CTNY thì chủ yếu các nghiên cứu trên thế giới
trước đây nghiên cứu dựa trên 2 nhóm nhân tố là minh bạch TTTC và minh bạch
thông tin quản trị. Điển hình một số nghiên cứu cụ thể như:
Nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự (2001) để trả lời cho câu hỏi:
Liệu rằng có sự khác nhau hay không giữa chế độ pháp luật cũng như đặc điểm nền
kinh tế chính trị của từng quốc gia đối với sự minh bạch của TTTC. Nhóm tác giả
đã tiến hành khảo sát các CTNY trên 41 đến 46 quốc gia. Trong đó tính minh bạch
của TTTC được nhóm tác giả đo lường thông qua 5 nhóm nhân tố là: (1) Mức độ
công bố TTTC, (2) Mức độ công bố thông tin (CBTT) quản trị công ty (QTCT), (3)
Các nguyên tắc kế toán, (4) Thời gian công bố BCTC, (5) Chất lượng kiểm toán
các BCTC được công bố. Kết quả kiểm định hồi quy đa biến cho thấy cơ chế pháp
lý ảnh hưởng trực tiếp đến minh bạch trong QTCT còn minh bạch TTTC phần lớn
liên quan đến chính sách kế toán và quy mô doanh nghiệp. Nghiên cứu của nhóm
tác giả đã thành công trong việc tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh
bạch thông tin và các thước đo để đo lường tính minh bạch thông tin tuy nhiên
nhóm tác giả chưa chỉ ra được mức độ tác động giữa các nhân tố đến tính minh
bạch thông tin.
Cũng với hướng nghiên cứu như trên, nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung
và cộng sự (2005) đã xem xét tính minh bạch của các CTNY trên cả 2 thị trường là
Thái Land và Hồng Kông theo 2 nhóm trong đó nhóm nhân tố tài chính bao gồm 5


8

biến: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo và hiệu
quả sử dụng tài sản. Nhóm nhân tố về QTCT bao gồm 3 biến: mức độ tập trung
quyền sở hữu, cơ cấu của HĐQT và quy mô của HĐQT. Mẫu khảo sát bao gổm
413 CTNY trong đó 265 CTNY trên TTCK Thái Land và 148 CTNY trên TTCK

cung cấp các thông tin khác cho các đối tượng có liên quan như: ngân hàng, chủ
nợ…
Năm 2006, Hsiu JF trong nghiên cứu “Effect of financial information
transparency on investor behavior in Taiwan stock market, ProQuest Database” ,
tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và hành vi nhà đầu tư
đồng thời xem xét lý thuyết QTCT, hiệu quả hoạt động, hành vi thương mại nhà
đầu tư, quyết định của nhà đầu tư để từ đó đưa ra giải pháp góp phần gia tăng niềm
tin nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan. Mô hình nghiên cứu của tác giả đề xuất bao
gồm ba biến độc lập là: minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính;
minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ tác động đến một biến phục thuộc là
hành vi nhà đầu tư. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dùng
công cụ khảo sát bảng 20 câu hỏi, với thang đo Likert 9 điểm để đo lường nhận
thức của nhà đầu tư về các yếu tố minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư trên
TTCK Đài Loan. Thông qua các kỹ thuật phân tích dữ liệu như thống kê mô tả, độ
tin cậy Cronbach’s Anpha, hệ số tương quan, ANOVA, hồi quy đa biến trên mẫu
305 nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy: cả ba
biến thuộc về minh bạch TTTC bao gồm: minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn;
CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ có tương quan tích
cực đối với hành vi nhà đầu tư, trong đó biến cấu trúc hoạt động HĐQT có ảnh
hưởng mạnh nhất. Ngoài ra tác giả cũng cho rằng nếu công ty muốn thiết lập một
mối quan hệ dài hạn với nhà đầu tư thì công ty nên cung cấp nhiều thông tin liên
quan tới cấu trúc HĐQT, quy trình tiến hành họp hội đồng cho các nhà đầu tư biết.
Bên cạnh đó khi tiến hành kiểm định các đặc điểm về nhân khẩu học đối với nhận
thức của nhà đầu tư về các yếu tố minh bạch TTTC, tác giả cho thấy có sự khác
biệt theo giới tính, thu nhập, trong khi đó không có sự khác biệt giữa độ tuổi đối
với hành vi nhà đầu tư. Cụ thể, nhà đầu tư nữ có quan tâm nhiều về minh bạch
TTTC hơn so với nhà đầu tư nam, đặc biệt là cấu trúc hoạt động HĐQT và CBTT


10



11

thay vào đó nó được mở rộng ra nhiều quốc gia như nghiên cứu Robert Bushman
(2001) hay xuyên quốc gia như nghiên cứu của Cheung (2005) thực hiện tại Hồng
Kông và Thái Land.
(2) Đa số các nghiên cứu đi trước là những nghiên cứu khởi xướng nhằm
đưa ra một số nhân tố để đánh giá mức độ minh bạch và ảnh hưởng của các nhân tố
đó đến hành vi của nhà đầu tư, tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo. Các
nghiên cứu ban đầu chủ chủ yếu xem xét mức độ ảnh hưởng một cách chung chung
như nghiên cứu của Carolyn Streuly (1994) chỉ cho thấy được các thông tin công
bố trong báo cáo hàng năm là có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư, chưa có
sự phân nhóm các nhân tố. Càng về sau, các nghiên cứu tiếp theo đã xem xét các
nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin cũng như hành vi của nhà đầu tư
một cách hệ thống và toàn diện hơn. Cụ thể như nghiên cứu về tính minh bạch của
thông tin cả nghiên cứu của Robert Bushman (2001) và nghiên cứu Cheung và
cộng sự (2005) đều chỉ ra được 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch
thông tin là: nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố QTCT. Hay trong nghiên cứu
về nhận thức nhà đầu tư về minh bạch thông tin ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư
cả nghiên cứu của Hsiu JF (2006) và Torabi R và Aali A (2014) đều chỉ ra được 3
khía cạnh của tính minh bạch bao gồm: cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài
chính; cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ đều có tương quan tích cực đối với hành vi
nhà đầu tư.
(3) Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng trong các nghiên cứu đã thực
hiện là phương pháp nghiên cứu định lượng và kế thừa những kết quả nghiên cứu
trước, với cỡ mẫu ngày càng mở rộng như nghiên của Hsiu JF (2006), Cheung và
cộng sự (2005), Torabi R và Aali A (2014).
(4) Mặc dù các nghiên cứu sử dụng cùng một mô hình nghiên cứu như
nghiên cứu của Hsiu JF (2006) và nghiên cứu của Torabi R và Aali A (2014) kết

từng đối tượng như: CTNY, các nhà đầu tư, các công ty kiểm toán đối với tính
trung thực hợp lý, tính công khai và tính minh bạch của các TTTC được công bố;
(iv) Chất lượng BCTC của ngân hàng thương mại Việt Nam được kiểm toán độc
lập chưa cao . Bên cạnh việc xác định được 4 nhân tố ảnh hưởng đến sự minh bạch
TTTC trên thị trường, tác giả còn đưa ra một số giải pháp nhằm gia tăng tính minh
bạch TTTC như: cải tiến công tác kế toán – kiểm toán tại các ngân hàng thương


13

mại qua đó nâng cao chất lượng kế toán – kiểm toán tại ngân hàng nhằm nâng cao
chất lượng TTTC trên TTCK, gia tăng tính minh bạch TTTC trên TTCK.
Tiếp theo là nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng (2010). Thông qua việc sử
dụng phương pháp nghiên cứu suy luận kết hợp với thống kê mô tả, đối tượng khảo
sát là các CTNY trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, các TTTC công bố được
lấy từ các báo cáo cho năm tài chính 2007 và 2008, tác giả đã xác định được sáu
(06) thành phần của hệ thống kiểm soát tác động đến sự minh bạch TTTC của các
CTNY bao gồm: hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố
BCTC, kiểm soát nội bộ, BGĐ, ban kiểm soát, kiểm toán độc lập. Thành công của
tác giả là tìm ra cũng như thống kê được các nhân tố tác động đến sự minh bạch
TTTC công bố của các CTNY. Tuy nhiên mức độ tác động cũng như mối quan hệ
giữa các nhân tố đến sự minh bạch TTTC như thế nào thì tác giả chưa làm rõ, một
trong những nguyên nhân gây nên hạn chế này là phương pháp mà tác giả sử dụng.
Tác giả chủ yếu phương pháp định tính để thống kê mô tả nên chưa có những bằng
chứng cụ thể để chứng minh cho các kết luận.
Năm 2015, Lê Thị Mỹ Hạnh trong luận án tiến sĩ “Minh bạch TTTC của các
CTNY trên TTCK Việt Nam” với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp
giữa định tính và định lượng thông qua khảo sát các nhà đầu tư cổ phiếu của 178
CTNY (ban đầu là 292) trên sàn HOSE từ năm 2011-2012. Kết quả nghiên cứu tác
giả cho thấy với hai cách tiếp cận bằng các đặc điểm phản ánh sự minh bạch và

BCTC của nhà đầu tư bao gồm: thái độ, môi trường xã hội, năng lực nhận thức,
môi trường thông tin. Trong đó biến thái độ có tác động mạnh nhất đối với hành vi
sử dụng BCTC của nhà đầu tư. Ba biến độc lập bao gồm: thái độ, môi trường xã
hội và năng lực nhận thức có quan hệ đồng biến với hành vi sử dụng BCTC, trong
khi biến môi trường thông tin có quan hệ nghịch biến với hành vi sử dụng BCTC
của nhà đầu tư. Bên cạnh đó tác giả cũng đề xuất những biện pháp hữu hiệu nhằm
điều chỉnh hành vi của nhà đầu tư theo hướng tích cực, đồng thời cải thiện chất
lượng thông tin công bố trên TTCK.
Gần đây nhất năm 2015, Nguyễn Thị Linh Thu trong luận văn thạc sĩ “Ảnh
hưởng của minh bạch TTTC trên BCTC đến hành vi nhà đầu tư cá nhân trên TTCK
TP.HCM”. Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng


15

dùng bảng câu hỏi khảo sát với 250 mẫu nghiên cứu, kết quả phân tích hồi quy cho
thấy, hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK chịu sự ảnh hưởng của ba nhóm
nhân tố: Minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu
trúc hoạt động của HĐQT và BGĐ. Trong đó nhân tố minh bạch cấu trúc, hoạt
động của HĐQT và BGĐ có ảnh hường mạnh nhất. Tuy nhiên khi tiến hành kiểm
định T-Test và phân tích ANOVA tác giả cho thấy hành vi của nhà đầu tư cá nhân
trên TTCK không có sự khác biệt theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn. Mô hình
nghiên cứu khi tiến hành chạy hồi quy tuyến tính kiểm định hệ số Durbin – Watson
cho thấy hệ số Durbin - Watson nhỏ hơn 1 do đó mô hình xảy ra hiện tượng tự
tương quan trong vùng dữ liệu, nguyên nhân được tác giả cho rằng do số lượng
mẫu nghiên cứu còn hạn chế và phạm vi nghiên cứu chỉ thu hẹp tại TTCK
TP.HCM. Các hạn chế còn tồn tại của nghiên cứu cũng như nghiên cứu chưa kiểm
định được sự khác biệt của hành vi nhà đầu tư hay khi kết quả mô hình nghiên cứu
xảy ra hiện tượng tự tương quan trong vùng dữ liệu (hệ số Durbin - Watson nhỏ
hơn 1) có thể làm ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả nghiên cứu dẫn đến các

Nhóm nhân tố tài chính gồm: hiệu quả hoạt động, khả năng thanh toán, đòn bẫy tài
chính (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015). Nhóm nhân tố quản trị như: cơ cấu HĐQT (Lê Thị
Mỹ Hạnh, 2015).
Ngoài ra nếu xét về khía cạnh nghiên cứu hành vi ra quyết định của nhà đầu
tư cá nhân do ảnh hưởng của minh bạch TTTC vẫn còn rất hạn chế, các nghiên cứu
ban đầu chỉ dừng lại ở việc đưa ra cách thức nghiên cứu mà chưa đưa ra các bằng
chứng cụ thể (Nguyễn Văn Dần, 2012) hay nghiên cứu chủ yếu tập trung vào yếu
tố hành vi con người (Vi Thị Bích Vân, 2014), hoặc tập trung vào việc khám phá
để đưa ra các nhân tố mới ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư như (Đặng Thị
Thúy Hằng, 2016) mà chưa tập trung xem xét đến góc độ minh bạch thông tin trên
BCTC ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân. Riêng nghiên
cứu của Nguyễn Thị Linh Thu (2015) tác giả có đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng
của minh bạch TTTC đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân tuy nhiên phạm vi nghiên
cứu chỉ giới hạn trên TTCK TP.HCM, số lượng mẫu nghiên cứu còn hạn chế dẫn
đến hiện tượng tự tương quan trong vùng dữ liệu cũng như chưa xem xét được tác



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status